Thương Hàn luận từ điều 382 đến 391 (C397-C407)
Phân biệt Mạch chứng đồng thời điều trị bệnh Hoắc loạn
[Khái thuyết]
Hoắc loạn là một loại chứng thương hàn, trong {Hoàng đế Nội kinh} đã ghi chép lại. Tuy nhiên bệnh hoắc loạn theo trung y và tây y có những điểm tương đồng nhưng cũng có điểm khác biệt. Học thuyết Trung y nói về chứng hoắc loạn có nội dung hội chứng nhiều hơn, y học hiện đại nói về bệnh hoắc loạn chủ yếu là một bệnh truyền nhiễm do hoắc loạn cô khuẩn (Vibrio cholerae) gây ra. Vì thế chứng Hoắc loạn của Trung y đã bao gồm cả chứng hoắc loạn theo y học hiện đại, lại không giới hạn ở chứng hoắc loạn theo y học hiện đại.
Thường nếu ẩu thổ và tiết tả khá nghiêm trọng thì văn hiến (sách báo thư tịch có ý nghĩa nghiên cứu hay ý nghĩa lịch sử) Trung y gọi là hoắc loạn, thuộc về nghĩa rộng của hoắc loạn. Nhận thức của người xưa đối với bệnh hoắc loạn chính là lập luận dựa theo bệnh lý thanh trọc thăng giáng, thí dụ như {Linh khu kinh * Ngũ loạn} có vài câu : “Thanh khí tại âm, trọc khí tại dương, thanh trọc tương can, loạn vu tràng vị, can vi hoắc loạn.” (清气在阴,浊气在阳,清浊相干,乱于肠胃,干为霍乱。) thanh khí (khí trong) cần phải ở tại dương, thì bây giờ đã ở âm; Trọc khí (khí đục) cần phải ở tại âm thì bây giờ đã ở dương. Như vậy là thanh trọc xâm phạm nhau, loạn trong tràng vị, gây ra chứng hoắc loạn (thổ tả). {Tố vấn * Lục nguyên chính kí đại luận} nói: “Thái âm sở chí vi trung mãn, hoắc loạn thổ hạ” (太阴所至为中满,霍乱吐下). Thái âm tư thiên, thái âm chủ thấp, chủ thổ, thấp tà đã quá mạnh, là đầy ở trung tiêu, là hoắc loạn. Lại nói “Thổ uất chi phát, dân bệnh ẩu thổ hoắc loạn” (土郁之发,民病呕吐霍乱). Như vậy để thấy, {Nội kinh} cho rằng chứng hoắc loạn là bệnh của tỳ vị và có quan hệ với thấp tà. Nhận thức của {Thương hàn luận} đối với bệnh hoắc loạn có sự tiến triển, cho rằng bệnh hoắc loạn chính là bệnh ở trung tiêu tỳ vị, là do âm dương thăng giáng không điều hoà, thanh trọc xâm phạm nhau, trộn lẫn nhau, biểu lý bất hoà tạo thành bệnh. Hoắc là huy hoắc (tiêu sài hoang phí), vì thế thổ tả không ngừng, phung phí vô độ, khiến chính khí bị tổn hại nhanh chóng, vì thế gọi là Hoắc; Loạn là biến loạn, tỳ vị bị bệnh, âm dương thăng giáng không thuận lợi, hàn nhiệt hỗn loạn, biểu lý cũng bất hoà, vì thế gọi là loạn. {Y Tôn Kim Giám} viết “Hoắc loạn phong hàn thử thấp thuỷ, tạp tà vi bệnh chính khí thương” (霍乱风寒暑湿水,杂邪为病正气伤), chỉ ra có nhiều nguyên nhân (phong, hàn, thử, thấp, thuỷ) tạo thành bệnh hoắc loạn. Hoắc loạn phát bệnh rất nhanh, là “Huy hoắc biến loạn sinh thương xúc, tâm phúc đại thống thổ lợi gian”. Tâm là vùng vị quản (ức), phúc (bụng) là vùng ruột bị đau, trên thổ dưới tả, ghét lạnh phát sốt. Đời sau phân bệnh hoắc loạn thành hai loại, một loại là thấp hắc loạn, một loại là can hoắc loạn. Thấp hoắc loạn có thể thổ ra, có thể đi tả; Can hoắc loạn thì muốn thổ mà không thổ ra được, muốn tiết tả mà không thể.
382 问曰:病有霍乱者何?答曰:呕吐而利,
名曰霍乱。 C397
382 Vấn viết: Bệnh hữu hoắc loạn giả hà? Đáp viết: Ẩu thổ nhi lợi, danh viết hoắc loạn. C397
Điều này trình bày nhận thức về bệnh hoắc loạn
Đây là một thể thức vấn đáp, nói thảng vào vấn đề chủ yếu. Hội chứng chủ yếu của hoắc loạn chính là “Ẩu thổ nhi lợi” (Thổ và tả).
383 问曰:病发热,头痛,身疼,恶寒,吐利
者,此属何病?答曰:此名霍乱。自吐下,又利止,复更发热也。 C398
383 Vấn viết: Bệnh phát nhiệt, đầu thống, thân đông, ố hàn, thổ lợi giả, thử thuộc hà bệnh? Đáp viết:Thử danh hoắc loạn. Tự thổ hạ, lại lợi chỉ, phục canh phát nhiệt dã. C398
Điều này trình bày hội chứng chủ yếu của hoắc loạn.
“Bệnh phát nhiệt, đầu thống, thân đông, ố hàn” (病发热、头痛、身疼、恶寒)Phát sốt, đau đầu, đau người, ghét lạnh) đây là biểu bất hoà. Biểu có bệnh tà, trên thổ dưới tả, là chứng hoắc loạn. Điều thứ nhất đề cập đến ẩu thổ mà kèm theo hạ lợi (tiết tả) là nói đến hội chứng chủ yếu của hoắc loạn, điều này bổ sung thêm biểu chứng, cũng bao quát toàn bộ chứng trạng của hoắc loạn.
Những câu thoại ở phần dưới có khả năng bị thiếu khi ghi chép lại, nhưng các ý kiến cũng không được thống nhất lắm. “Tự thổ hạ”, loại ẩu thổ và tả hạ này là tự phát, “Hựu lợi chỉ”, tiêu chảy ngưng lại, “phục, canh phát nhiệt dã” sau đó càng phát sốt, đây không phải là hoắc loạn mà là thương hàn. Điểm phân biệt với hoắc loạn: Có biểu chứng, còn có thổ tả thì gọi là hoắc loạn; Không thổ không tả, chỉ có phát sốt thì gọi là thương hàn.
384伤寒,其脉微涩者,本是霍乱,今是伤寒,却四五日,至阴经上,转入阴必利,本呕下利者,不可治也。欲似大便而反矢气,仍不利者,属阳明也,便必硬,十三日愈,所以然者,经尽故也。 C399
384 Thương hàn, kỳ mạch vi sáp giả, bản thị hoắc loạn, kim thị thương hàn, khước tứ ngũ nhật, chí âm kinh thượng, chuyển nhập âm tất lợi, bản ẩu hạ lợi giả, bất khả trị dã. Dục tựa đại tiện nhi phản thỉ khí, nhưng bất lợi giả, thuộc dương minh dã, tiện tất ngạnh, thập tam nhật dũ, sở dĩ nhiên giả, kinh tận cố dã.C399
Điều này và hai điều kế trên cần được liên hệ kết hợp để trải nghiệm, chính là thảo luận về những điểm phân biệt chủ yếu của chứng hoắc loạn và thương hàn.
Chứng thương hàn bắt đầu không thổ lợi, thấy mạch phù khẩn, mà hoắc loạn khi phát sinh là có thổ lợi, vì có chứng trạng thổ lợi nên mạch vi sáp và còn phát sốt. “Kim thị thương hàn, khước tứ ngũ nhật, chí âm kinh thượng chuyển nhập âm, tất lợi” (今是伤寒,却四五日,至阴经上转入阴,必利), nếu là chứng thương hàn, khi bệnh ở ba kinh dương thì không thổ lợi (thổ tả), thường sau 4,5 ngày, truyền đến kinh âm thì xuất hiện thổ lợi.
Chứng hoắc loạn tuy cũng phát sốt, nhưng từ bắt đầu phát sinh bệnh là lập tức trên thổ dưới tả, mạch vi sáp, đây chính là điểm phân biệt của thương hàn và hoắc loạn.
Trên lâm sàng, điều này rất có ý nghĩa chỉ đạo. Có người bắt đầu là thổ và tả, sau khi ngưng tiết tả phân cũng không bình thường. “Dục tự đại tiện nhi phản thỉ khí, nhưng bất lợi giả, thuộc dương minh dã” (欲似大便而反矢气,仍不利者,属阳明也), người này giống như muốn đại tiện, nhưng phân không xuống, chỉ phóng trung tiện (là thuộc dương minh).
Vì sau khi thổ tả, tân dịch trong ruột đã bị hư tổn, vị khí bất hoà, nên phân không xuống được, đây là thuộc về dương minh. Loại phân bị cứng này là do sau khi thổ tả, tân dịch của dạ dày và ruột không còn đầy đủ, không kèm theo các thực chứng dương minh như nhật bô triều nhiệt (bốc nóng vào giờ thân), phát nhiệt chưng chưng (nóng từ bên trong liên tục phát ra ngoài), chỉ là không đại tiện, “thập tam nhật dũ”( 十三日愈)13 ngày khỏi bệnh, là nói về thời gian anh ta cần để khôi phục tân dịch.
“Sở dĩ nhiên giả, kinh tận cố dã” (所以然者,经尽故也). Cổ nhân cho rằng thời gian 7 ngày cho một lần trở lại, đến 13 ngày là gần hai tuần lễ là thời gian vị khí hoà mà tân dịch hồi phục. Bệnh sẽ khỏi. Đây là nói về sự khác biệt của chứng hoắc loạn và thương hàn. Bệnh tà của thương hàn nếu như truyền vào kinh dương minh, sẽ xuất hiện các chứng trạng như chưng chưng phát nhiệt (nóng từ bên trong phát ra ngoài), nhật bô triều nhiệt (bốc nóng vào giờ thân) (3~5 giờ), xuất hãn ở tay chân, nói mê nói nhảm, đau quanh rốn. Chứng hoắc loạn vì sau khi tổ tả tân dịch đã bị hư tổn, phân tuy cứng nhưng không có hiện tượng khô nóng, vì thế không cần dùng phép tả hạ cho bệnh nhân, chỉ cần đợi hơn 10 ngày, vị khí hoà giáng, tân dịch hồi phục là đại tiện sẽ trở lại bình thường.
384 下利后,当便硬,硬则能食者愈;今反不能食,到后经中,颇能食,复过一经能食,过之一日,当愈。不愈者,不属阳明也。 C400
384 Hạ lợi hậu, đương tiện ngạnh, ngạnh tắc năng thực giả dũ; Kim phản bất năng thực, đáo hậu kinh trung, pha năng thực, phục qua nhất kinh năng thực, quá chi nhất nhật, đương dũ. Bất dũ giả, bất thuộc dương minh dã. C400
Điều này kế tục điều bên trên để trình bày và phát huy ý nghĩa của nó.
Hạ lợi gây tổn thương tân dịch, xuất hiện phân bị cứng. “Ngạnh tắc năng thực giả dũ” (硬则能食者愈), phân bị cứng, còn thèm ăn, cho thấy phân không bị khô, mà chỉ là tân dịch bị tổn thương, nên không thể dùng phép tả hạ. Ngoài ra, thèm ăn là biểu hiện của vị khí điều hoà, đến một thời gian nhất định tân dịch sẽ khôi phục, đại tiện sẽ bình thường.
“Kim phản bất năng thực”, (今反不能食)Hiện tại lại không ăn được, điều này cho thấy vị khí chưa hoà giáng. “Đáo hậu kinh trung, pha năng thực” (đến vòng kinh mạch sau, có thể muốn ăn ) Trải qua 7 ngày là một chu kỳ, vị khí khôi phục sẽ có thể thèm ăn. “Phục qua nhất kinh năng thực, qua chi nhất nhật, đương dũ”, 复过一经能食,过之一日,当愈)trở lại một vòng kinh mạch bệnh nhân có thể ăn uống, qua một ngày là khỏi bệnh, thời gian của một chu kỳ là sau 7 ngày “Nhất nhật” (một ngày) chỉ là con số ước chừng.
“Bất dũ giả, bất thuộc dương minh” (不愈者,不属阳明也), nếu như bệnh chưa khỏi là bệnh thuộc âm (không thuộc dương minh), có liên quan đến tạng, tỳ, hư hàn, mà không do tân dịch không đầy đủ của dương minh.
Điều này cần liên kết với những điều kế trên để tìm hiểu, là sau khi ẩu thổ và tiết tả, có khi biến thành âm chứng, có trường hợp biến thành dương chứng. Trường hợp biến thành dương chứng đều gây tổn thương tân dịch, dương minh bị khô nên phân bị cứng, lúc này không nên dùng biện pháp tả hạ, mà hãy đợi tân dịch sẽ tự khôi phục, bệnh sẽ có thể tự lành.
Quá trình khôi phục tân dịch cần có thời gian và chế độ ẩm thực phù hợp.
385 恶寒脉微,而复利,利止,亡血也,四逆
加人参汤主之。 C401
385 Ố hàn mạch vi, nhi phục lợi, lợi chỉ, vong huyết dã, Tứ nghịch gia Nhân sâm chủ chi. C401
Phương thang Tứ nghịch gia Nhân sâm
Tứ nghịch nguyên phương chủ cầu dương Gia Sâm nhất lạng cứu âm phương
Lợi tuy dĩ chỉ tri vong huyết Tu thủ trung tiêu biến hoá hương
Trong thang Tứ nghịch, gia Nhân sâm 1 lạng, còn lại theo phép của thang Tứ nghịch.
Điều này trình bày hội chứng và trị liệu của chứng hoắc loạn vong huyết.
“Ố hàn mạch vi” (恶寒脉微) ghét lạnh mạch vi, dương hư có hàn. Hàn thịnh nên “Phục lợi”. “Lợi chỉ”, (dương hư có hàn gây tiêu chảy, rồi hết tiêu chảy), ngừng tiêu chảy không phải là khỏi bệnh mà do tân dịch bên trong suy kiệt, vì thế gọi là “Vong huyết dã” (亡血也). Huyết ở đây có nghĩa rộng, đại biểu cho âm, cho tân dịch. Tân dịch bên trong suy kiệt, nên không thể tiêu chảy mà ngừng lại. Phép trị liệu dùng thang Tứ nghịch gia Nhân sâm, thang Tứ nghịch bổ dương, Nhân sâm bổ huyết, bổ tân dịch.
Dương khí và âm dịch được khôi phục, bệnh sẽ lành. Chứng tiêu chảy ở đây chỉ là thí dụ, trên lâm sàng không nên chỉ giới hạn ở chứng tiêu chảy, ẩu thổ cũng được. Thang Tứ nghịch vì sao có thể trị chứng vong huyết? Điều này cần tìm hiểu rõ đối với vị nhân sâm.
Nhân sâm và Phụ tử không giống nhau. Phụ tử có tác dụng hồi dương, bổ dương trong Thiếu âm thận của tiên thiên. Nhân sâm bồi bổ ngũ tạng, có khả năng bổ khí của tỳ phế. Nhân sâm bổ khí để sinh tân dịch, bổ tỳ để sinh huyết dịch, do đó hội chứng của thang Bạch hổ khi xuất hiện chứng phiền khát nặng thì cần gia Nhân sâm. Nếu như tiêu chảy, thổ hạ mà mạch tuyệt (hết mạch) rồi, gia Nhân sâm có thể sinh mạch, người đời sau có Sâm phụ thang, sáng tạo từ thang Phụ tử. Phụ tử bổ thận, Nhân sâm bổ tỳ, khí huyết bạo thoát (hư thoát cấp bách) đều có thể đảm nhận, một vị bổ âm, một vị bổ dương.
Trần Tu Viên biên soạn một khúc ca, nói với bạn để có một gợi mở. “Tứ nghịch nguyên phương chủ cứu dương”; “Gia Sâm nhất lạng cứu âm phương”, , gia Sâm 1 hay 2 lạng là xét theo tình huống; “Lợi tuy dĩ chỉ tri vong huyết, tu thủ trung tiêu biến hoá hương” Vì vị Nhân sâm có khả năng bồi bổ tạng tỳ, dựa vào các chất tinh vi của thuỷ cốc sinh ra tân dịch, huyết dịch.
Người viết từng điều trị cho một phụ nữ xuất huyết nặng sau sinh, hai má có màu như giấy vàng, mắt nhắm lại, nhìn không rõ, mạch tựa như có như không, rất cấp bách, liền dùng một vị Độc sâm thang, sắc đặc một lạng Nhân sâm, sau khi uống thấy bệnh nhân có mồ hôi ở trên mũi, mắt nhắm mở tuỳ lúc, ở dưới máu cũng cầm lại. “Tứ nghịch nguyên phương chủ cứu dương, gia Sâm nhất lượng cứu âm phương, lợi tuy dĩ chỉ tri vong huyết, tu thủ trung tiêu biến hoá hương”.( 四逆原方主救阳,加参一两救阴方,利虽已止知亡血,须取中焦变化乡)Tứ nghịch cứu dương, gia sâm cứu âm, tuy tiết tả đã ngừng, nhưng mất máu, giữ trung châu để biến hoá thuỷ cốc tinh vị).
386 霍乱,头痛,发热,身疼痛,热多欲饮水
者,五苓散主之;寒多不用水者,理中丸主之。 C402
386 Hoắc loạn, đầu thống, phát nhiệt, thân đông thống, nhiệt đa dục ẩm thuỷ giả, Ngũ linh tán chủ chi; Hàn đa bất dụng thuỷ giả, Lý trung hoàn chủ chi. C402
Phương Lý trung hoàn
Thổ lợi phúc đông dụng Lý trung Hoàn thang phân lượng các tam đồng
Truật Khương Sâm Thảo cương nhu tế Phục hậu dã tá nhiệt chúc công.
Nhân sâm, Cam thảo, nướng Bạch truật Can khương đều 2 lạng
Bốn vị thuốc trên, tán mạt, dùng mật hoàn thành viên, như quả trứng, hoà với nước sôi 1 hoàn, nghiền nát, uống lúc thuốc còn ấm, ngày uống 3,4 lần, đêm 2 lần, bụng chưa nóng, thuốc hoang dù 3,4 hoàn cũng không bằng thuốc thang. Phép dùng thang, với 4 vị thuốc, số lượng như trên, dùng 8 thăng nước, nấu còn 3 thăng, bỏ bã, uống ấm 1 thăng, ngày uống 3 lần
Phép gia giảm:
Thận khí động, khứ Truật gia Quế 4 lạng, ẩu thổ nhiều khứ truật gia Sinh khương 3 lạng. Lợi hạ nhiều, còn dùng Truật; Hồi hộp, gia Phục linh 2 lạng. Khát nước, gia Truật, cộng chung lại thành 4,5 lạng.
Đau bụng, gia Nhân sâm, cộng chung lại thành 4,5 lạng. Hàn chứng, gia Can khương, cộng chung thành 4,5 lạng. Đầy bụng, khứ Truật, gia Phụ tử 1 núm. Sau khi uống thang dược, nếu ăn thì nên ăn một ít cháo nóng để giữ ấm, không bỏ chăn mền y phục.
Điều này trình bày hai loại hội chứng và trị liệu của bệnh hoắc loạn.
“Đầu thống, phát nhiệt, thân đông thống”, đây là biểu chứng. Nếu như phát sốt rõ rệt, khát muốn uống nước, tiểu tiện không thuận lợi, đây là biểu hiện của thấp tà dẫn đến tam tiêu không thuận lợi, biểu lý bất hoà, điều trị nên dùng Ngũ linh tán. Ngũ linh tán bên ngoài có thể giải biểu, bên trong có thể lợi thuỷ thấp. Nếu bệnh nhân ghét lạnh rõ rệt, đồng thời không khát, là biểu hiện của chứng tỳ vị hư hàn, trị liệu nên dùng Lý trung hoàn. Lý trung là điều hoà chỉ lý âm dương của trung tiêu. Trong phương vị Bạch truật phối Can khương để khứ hàn thấp, Nhân sâm phối Cam thảo để bổ trung ích khí. Hai phương thuốc này có hiệu quả rất tốt đối với chứng hoắc loạn, người đời sau tổng kết là “Ngũ linh phân thanh trọc, Lý trung ôn kỳ dương khí” (Ngũ linh phân trong đục, Lý trung làm ấm dương khí).
Chúng ta đã giảng về thang Lý trung, bây giờ hãy xem xét Lý trung hoàn. “Thượng tứ vị, đảo sư vi mạt, mật hoà hoàn, nghiên toái, ôn phục chi. Nhật tam tứ, dạ nhị phục. Phúc trung vị nhiệt, ích chí tam tứ hoàn, nhiên bất cập thang. Thang pháp: Dĩ tứ vật, y lạng số thiết, dụng thuỷ bát thăng, chử thủ tam thăng, khứ chỉ, ôn phục nhất thăng, nhật tam phục. ” Ở đây nhắc nhở chúng ta khi uống Lý trung hoàn nên uống với nước ấm, uống hết cả bã của thuốc hoàn, uống đến khi có cảm giác nóng ở trong bụng mới ngưng. Có một số loại phát nhiệt sau khi uống thuốc, có thuốc uống vào phát nhiệt ở lưng, có thuốc uống vào phát nhiệt ở trán, có thuốc khi uống thì phát nhiệt toàn thân, lại có trường hợp uống vào nóng ở bụng dưới, có trường hợp nóng và ngứa ở xương cụt, có khi nóng hết cả vùng bụng. Uống Lý trung hoàn bụng cần phải nóng, nóng trong bụng là biểu hiện của khí của tỳ dương đã khôi phục. Nếu trong bụng không thấy nóng, cho thấy thuốc nhẹ mà bệnh nặng, “ích chí tam tứ hoàn” ích là tăng thêm, cần tăng đến 3,4 hoàn, đến khi bụng phát nhiệt làm tiêu chuẩn. Trong thời gian người viết học việc ở Doanh khẩu, vì ăn nhiều thực phẩm sống lạnh khiến tỳ vị bị lạnh và bị tiêu chảy rất nặng, các bác sĩ cao tuổi cho tôi uống Lý trung hoàn. Sau khi uống thuốc người viết vẫn đi tả và họng lại bị đau, người viết không dám uống tiếp. Nhưng lão thày thuốc bảo người viết hải uống đến khi nào thấy bụng nóng lên mới được ngừng. Quả nhiên sau đó đại tiện trở lại bình thường.
Trong phép gia giảm, “phúc mãn giả, khứ truật, gia Phụ tử nhất mai. Phục thang hậu, như thực khoảnh, ẩm nhiệt chúc nhất thăng hứa, vi tự ôn, vật phát yết y bị”, có ý là sau khi uống thuốc bệnh nhân không những chỉ cần ăn cháo nóng mà còn phải đắp chăn mền để cho khí của thuỷ cốc phụ trợ vị dương, trừ khứ hàn tà. Trong {Thương hàn luận} có hai phương thang sau khi uống cần phải ăn cháo nóng, một là thang Quế chi, hai là thang gia giảm Lý trung thang.
387 吐利止而身痛不休者,当消息和解其外,宜桂枝汤小和之。 C403
387 Thổ lợi chỉ nhi thân thống bất hưu giả, đương tiêu tức hoà giải kỳ ngoại, nghi Quế chi thang tiểu hoà chi. C403
Điều này trình bày cách giải quyết hậu quả của bệnh hoắc loạn.
Trong Ngũ linh tán có vị Quế chi. Sau khi uống Ngũ linh tán thì nên uống nhiều nước ấm, xuất mồ hôi thì khỏi bệnh. Lý trung thang, Lý trung hoàn chính là những phương dược trị chứng hàn thấp ở trung tiêu, sau khi uống Lý trung thang tuy ngừng thổ lợi (thổ tả), mà thân thể đau liên tục, đó là lý hoà mà biểu không hoà. “Đương tiêu tức hoà giải kỳ ngoại” tiêu tức là châm chước, nên châm chước hoà giải bên ngoài, còn được cho anh ta phát hãn nhẹ, “Nghi Quế chi thang tiểu hoà chi”, uống chút ít thang Quế chi cho bệnh nhân phát hãn nhẹ, giải biểu là bệnh sẽ biến chuyển tốt. Vì thế, Quế chi thang là phương thuốc giải quyết hậu quả của thang Lý trung.
388 吐利汗出,发热恶寒,四肢拘急,手足厥
冷者,四逆汤主之。 C404
389既吐且利,小便复利而大汗出,下利清谷,内寒外热,脉微欲绝者,四逆汤主之。 C405
388 Thổ lợi hãn xuất, phát nhiệt ố hàn, tứ chi câu cấp, thủ túc quyết lãnh giả, Tứ nghịch thang chủ chi. C404
389 Kí thổ thả lợi, tiểu tiện phục lợi nhi đại hãn xuất, hạ lợi thanh cốc, nội kafn ngoại nhiệt, mạch vi dục tuyệt giả, Tứ nghịch thang chủ chi. C405
Thổ lợi là trên thổ dưới tả, hàn thịnh dương hư nên xuất hãn, ghét lạnh, phát sốt. Dương hư nên không phòng thủ, dương khí không liễm, bệnh này có chút hiện tượng dương khí phù việt ra ngoài. “Tứ chi câu cấp” vì đã thổ lại tả, không những dương hư hàn thịnh, mà tân dịch cũng không thể nuôi dưỡng cân mạch. Khí chủ về ấm áp, huyết chủ về nhu nhuận (thấm tưới), đây chính là một biểu hiện của vong huyết. “Thủ túc quyết lãnh giả” chính là dương khí không ấm áp; “Tứ chi câu cấp” là huyết dịch không nhu nhuận thấm tưới. “Tứ nghịch thang chủ chi”. Tứ nghịch thang ở đây nên dùng Tứ nghịch gia Nhân sâm thang.
Thang Tứ nghịch của điều thứ C405 nên dùng là Thông mạch Tứ nghịch thang, vì là nội hàn ngoại nhiệt, mạch vi dục tuyệt. Nên dùng thang Tứ nghịch với tễ lượng lớn, dùng Thông mạch Tứ nghịch thang. “Kí thổ thả lợi” (đã thổ lại tả) chính là lý hàn nặng, “tiểu liện phục lợi nhi đại hãn xuất”, “tiểu tiện phục lợi” (tiểu tiện lại thuận lợi) cho thấy không có chứng lý nhiệt (nóng bên trong), “Hạ lợi thanh cốc, lý hàn ngoại nhiệt” (đi tả phân sống là ltrong lạnh ngoài nóng), cho thấy còn có chứng trạnh thân thể nóng nhẹ, không ghét lạnh là hiện tượng cách dương.
390 吐已下断,汗出而厥,四肢拘急不解,脉
微欲绝者,通脉四逆加猪胆汁汤主之。 C406
390 Thổ dĩ hạ đoạn, hãn xuất nhi quyết, tứ chi câu cấp bất giải, mạch vi dục tuyệt giả, Thông mạch tứ nghịch gia Trư đảm trấp thang chủ chi. C406
Phương Tứ nghịch gia Trư đảm trấp thang
Vu Tứ nghịch thang phương nội, gia nhập Trư đảm trấp bán hợp, còn lại theo phép uống trước đây; Nếu không có Trư đảm (mật lợn), dùng mật dê thay thế.
Điều này trình bay hội chứng và trị liệu bệnh hoắc loạn âm dương lưỡng hư.
“Thổ dĩ”, dĩ là ngưng lại; “Hạ đoạn”, không có gì để hạ, là hết là cắt đứt. “Thổ dĩ hạ đoạn” nói về tình trạng tân dịch tổn thương quá nhiều, nên không thể thổ, không thể hạ. “Hãn xuất nhi quyết”, đây là dương hư. “Tứ chi câu cấp bất giải” Đó là chúng ta nói đến tình trạng mất nước sau khi tiêu chảy, bị chuột rút, co giật, không thể duỗi ra và một số không thể duỗi thẳng cánh tay. “Tứ chi câu cấp bất giải, mạch vi dục tuyệt”(tay chân co quắp không duỗi ra được, mạch nhỏ như sắp hết mạch), điều này cho thấy không những dương khí đã hư tổn mà tân dịch cũng đã thụ thương.
“Thông mạch Tứ nghịch gia Trư đảm trấp thang chủ chi”(Thang Thông mạch Tứ nghịch gia Trư đảm trấp chủ trị bệnh này). Nước mật lợn có tác dụng bồi bổ thể dịch. Vì sao ở thiên Thiếu âm sau khi uống Bạch thông thang người bệnh lại không có mạch, tiêu chảy không ngừng, tâm phiền ẩu thổ? Đây không những là phép tòng trị, mà còn thấy âm đã bị tổn thương, chỉ dùng Bạch thông thang để bổ dương thì chưa đủ, cần phải bồi bổ thể dịch cho bệnh nhân, vì thế gia thêm Trư đảm trấp, nhân niệu, đây là đạo lý.
391吐利发汗,脉平,小烦者,以新虚不胜谷气故也。C407
391 Thổ lợi phát hãn, mạch bình, tiểu phiền giả, dĩ tân hư bất thắng cốc khí cố dã. C407
Điều này đặt sau bệnh hoắc loạn chính là có lý do, nó có tính (châm đối)đối chọi rất mạnh.
“Mạch bình” là nói về mạch không phù không trầm, không sác không trì, không lớn không nhỏ, âm dương hoà bình, cũng gọi là mạch hoà bình. Sau khi thổ lợi hoặc phát hãn, bệnh nhân mạch đã bình, chứng trạng còn một chút phiền nóng chưa giải trừ, chính là “Dĩ tân hư bất thắng cốc khí cố dã”, Vì đặc điểm của chứng hoắc loạn là thổ tả, sau khi điều trị chứng thổ tả, chính khí chưa hoàn toàn khôi phục, khí tỳ vị không mạnh, không thể thắng cốc khí, nên xuất hiện phiền nhiệt. “Tổn cốc tắc dũ” cho bệnh nhân ăn ít đi một chút, ăn thực phẩm dạng lỏng, khí của tỳ vị dần dần khôi phục, bệnh sẽ tự lành.
Biện bệnh chứng đồng thời điều trị âm dương dịch sai hậu lao phục.
[Khái thuyết]
Âm dương dịch và phòng lao phục không phải là một bệnh, tại sao lại gọi là âm dương dịch? Dịch có ý nghĩa là giao dịch. Một số bệnh thương hàn, trên cơ bản bệnh nhân đã hết sốt, khí huyết còn chưa khôi phục, chính khí cũng chưa hoàn toàn khôi phục, nếu như hai bên nam nữ phát sinh giao hợp, mà người nam bị bệnh thương hàn thì người nữ có thể bị bệnh này, đó là giao dịch âm dương, gọi là dương dịch, nếu người nữ có bệnh truyền cho người nam thì gọi là âm dịch. Tên bệnh chung gọi là âm dương dịch, bao gồm nói về lưỡng tính nam nữ. Bệnh này dễ truyền cho nhau, nam có thể truyền cho nữ, nữ có thể truyền cho nam, vì thế nên dùng chữ “dịch”; Âm dương đại biểu cho lưỡng tính nam nữ, cần làm rõ và nắm vững tên của bệnh này, bệnh này không phải là bệnh phòng lao phục. Bệnh phòng lao phục (tái phát bệnh vì phòng lao) khác với bệnh âm dương dịch.
Tại sao nội dung này lại được liệt kê sau biện chứng lục kinh của {Thương hàn luận}? Nó có hai ý tứ. Một ý là sau khi bị bệnh nặng, chính khí hư yếu, khí huyết chưa hồi phục, dư nhiệt vẫn còn không nên phát sinh nam nữ phòng sự, thày thuốc nên tiến hành dặn dò (y lệnh), nếu không dặn dò, bệnh nhân không kiêng kỵ phòng sự, thì có thể phát sinh âm dương dịch bệnh, vì thế nó ý nghĩa dự phòng và cấm kỵ. Một ý nghĩa khác, nếu như phạm vào điều cấm kỵ này, bất luận là nam hay nữ đều bị âm dịch hoặc dương dịch, liền có vấn đề biện chứng luận trị.
Ý nghĩa chủ yếu của tầng thứ nhất chính là phòng bệnh, không kể là thương hàn hay tạp bệnh (bệnh mạn tính), chỉ cần là những bệnh rất nặng, bệnh lâu ngày, thì dù căn bản đã khỏi bệnh, đều nên giữ các điều cấm kỵ này. Có khi tuy không phải là âm dương dịch, mà chính là phòng lao phục, mà hậu hoạn của nó là vô cùng, thậm chí gây tử vong không nên xem nhẹ. Vì thế, vấn đề hàng đầu của bệnh nhân là vấn đề nuôi dưỡng cẩn thận sau khi bình phục.
Trường Xuân dịch