Thương Hàn luận từ điều 365 đến 381 (C380-C396)
365 下利,脉沉弦者,下重也;脉大者,为未止;脉微弱数者,为欲自止,虽发热不死。 C380
365 Hạ lợi, mạch trầm huyền giả, hạ trọng dã; Mạch đại giả, vi vị chỉ; Mạch vi nhược sác giả, vi dục tự chỉ, tuy phát nhiệt bất tử. C380
Điều này trình bày mạch chứng và tiên lượng của một số loại bệnh tiêu chảy ở Quyết âm bệnh.
Tiêu chảy ở kinh Quyết âm, xuất hiện mạch Trầm Huyền, là một chứng trạng bệnh lý. Quyết âm chủ lý, thấy mạch trầm huyền, huyền là mạch của can, tại sao tiêu chảy lại có chứng trạng hạ trọng? (nặng ở dưới) Vì công năng sơ tiết của tạng Can không thuận lợi, thấp tà trao đổi không xuất ra ngoài, hoá thành nhiệt gây thành chứng tiêu chảy thấp nhiệt ở kinh Quyết âm, tiêu chảy có chất nhầy (niêm dịch), tạo cảm giác nặng ở dưới khó thông suốt. Cảm giác nặng không thông như có một khối vật trong giang môn làm cho người bệnh đặc biệt khó chịu, nguyên nhân vì nó nóng, nóng cấp bách, không thể nhịn được đại tiện, muốn được bài tiết. Tính của thấp hoà hoãn (chậm), bài tiết không thuận lợi, cộng thêm can khí không sơ tiết*( Sơ tiết là tác dụng điều tiết của tạng can đối với tình chí và công năng hoạt động của một số nội tạng.), khí cơ cũng không thông đạt, vì thế xuất hiện một đặc điểm nặng ở hậu môn(hạ trọng) không thông sướng như vậy. Hậu thế khi điều trị bệnh kiết lỵ luôn gia thêm Mộc hương, Binh lang, Chỉ xác là những vị thuốc lợi khí, là có quan hệ với điều vừa nêu.
“Mạch đại giả, vi vị chỉ”(Mạch lớn là bệnh chưa ngừng), mạch đại thuộc về tà nhiệt thịnh. Tiêu chảy nhiệt tính, chính là lúc tà nhiệt rất mạnh, vì thế bức độ mạch đập rất lớn. {Mạch quyết} giảng “Đại vi bệnh tiến”, mạch đại chủ về bệnh còn phát triển. Vì thế chứng tiêu chảy này là “vi vị chỉ” (chưa ngừng lại).
“Mạch vi nhược sác giả, vi dục tự chỉ, tuy phát nhiệt bất tử”, (Mạch vi nhược mà sác là biểu hiện bệnh muốn ngừng, tuy có phát nhiệt nhưng không chết người) Mạch vi nhược mà sác so sánh với mạch đại, cho thấy tà khí thoái lui, chứng tiêu chảy muốn tự ngừng. “tuy phát nhiệt bất tử”Thời cổ đại ghi lại, chứng tiêu chảy kỵ phát sốt, tiêu chảy mà không hạ sốt là dấu hiệu rất hiểm ác của bệnh tiêu chảy. Ở đây tuy có phát nhiệt nhẹ, nhưng mạch vi nhược, có ý là chính khí đang dần dần khôi phục, dương tiến âm thoái, vì thế không những không chết mà còn khỏi bệnh.
366下利,脉沉而迟,其人面少赤,身有微热,下利清谷者,必郁冒,汗出而解,病人必微厥。所以然者,其面戴阳,下虚故也。 C381
366 Hạ lợi, mạch trầm nhi trì, kỳ nhân diện thiểu xích, thân hữu vi nhiệt, hạ lợi thanh cốc giả, tất uất mạo, hãn xuất nhi giải, bệnh nhân tất vi quyết, sở dĩ nhiên giả, kỳ diện đái dương, hạ hư cố dã. C381
Điều này trình bày chứng đái dương nhẹ có cơ hội giải trừ chứng uất mạo.
Má có sắc hồng nhẹ, không quá hồng, gọi là “Thiểu xích”, phát sốt nhẹ, sốt không quá tệ hại, gọi là vi nhiệt. Đây là hiện tượng tốt, đại biểu cho dương khí còn tồn tại, dương khí tuy hư tổn nhưng còn có dấu hiệu trở lại. Tiêu chảy hoặc tiêu chảy thanh cốc (phân sống), mạch trầm mà trì, đây là đại biểu cho phương diện hàn tà. Hàn tà tuy mạnh, nhưng lại phát triển từ mạnh chuyển sang phương diện suy yếu. Như vậy, thày thuốc nên cân nhắc, so sánh thế lực của hai phương diện chính khí và tà khí, cân nhắc xem xét theo sự phát triển, dương khí công phá hàn tà để xuất ra, hàn tà cần dương xuất ra để tiêu thoái, như vậy “tất uất mạo hãn xuất nhi giải” (必郁冒汗出而解)xuất hãn để giải trừ chứng uất mạo*. Vì thế, người bệnh này đầu mắt bị chứng uất mạo, sau đó xuất mồ hôi thì hàn tà sẽ thoái lui, bệnh sẽ biến chuyển tốt. Dương khí khôi phục, âm tà thoái lui, chính là dương thắng âm thua, dương tiến âm thoái. Trong quá trình này, hàn tà và dương khí còn có một cuộc đấu tranh nhẹ nhàng. Nó có chứng uất mạo, do hàn tà phát tác gây chứng uất mạo, uất mạo là một chứng trạng gây ra đầu mục huyễn vựng (chóng mặt), khi cơ thể xuất hãn là biểu hiện của dương khí khôi phục, thế lực của dương khí thông ra ngoài, xuất hãn toàn thân và bệnh sẽ biến chuyển tốt. Chứng uất mạo xuất hãn ở phần trước đây cũng đã đề cập đến, “Thương hàn, ứng hạ chi, nhi phản hãn chi, biểu lý câu hư, kỳ nhân nhân tự mạo, mạo gia hãn xuất tự dũ, sở dĩ nhiên giả, hãn xuất biểu hoà cố dã.” (伤寒,应下之,而反汗之,表里俱虚,其人因自冒,冒家汗出自愈,所以然者,汗出表和故也。)Bệnh thương hàn nên hạ nhưng thày thuốc lại phát hãn, làm biểu lý đều hư, người này bị uất mạo, chứng mạo xuất hãn sẽ tự khỏi bệnh, sở dĩ như vậy vì khi xuất hãn thì thể biểu được điều hoà. Đó là nói về vấn đề của biểu tà, còn ở đây là nói về vấn đề của âm dương.
Thiên Quyết âm giảng về một số trường hợp xuất hãn có tác dụng tốt, bao gồm cả trường hợp xuất hãn của chứng uất mạo, chúng ta đã nói nói đến những dạng xuất hãn nào?
Thứ nhất là “Hữu âm vô dương cố dã” (有阴无阳故也) Là vong dương, là chứng xuất hãn của dương khí bị tuyệt diệt, “Thương hàn lục thất nhật, bất lợi, tiện phát nhiệt nhi lợi, kỳ nhân hãn xuất bất chỉ giả tử”. (伤寒六七日,不利,便发热而利,其人汗出不止者死)Thương hàn 6,7 ngày, không thuận lợi, phát sốt tiêu chảy, người bệnh phát hãn không ngừng mà chết). Vì sao? Trương Trọng Cảnh cho rằng, “Hữu âm vô dương cố dã”, là chỉ có âm mà không có dương, đây là chứng chết.
Thứ hai là, “Đại hãn, hựu đại hạ lợi nhi quyết lãnh giả, Tứ nghịch thang chủ chi” (大汗,又大下利而厥冷者,四逆汤主之), đầu tiên là xuất rất nhiều mồ hôi, sau khi xuất nhiều mồ hôi thì tay chân quyết lãnh, mồ hôi này là do dương hư, dương hư không thể củng cố thể biểu (giúp phần bên ngoài của cơ thể vững vàng kín đáo), vì thế xuất nhiều mồ hôi (đại hãn); Dương hư mà âm hàn mạnh, cho nên tay chân quyết nghịch, đây không phải là chứng dẫn đến chết người, vì thế có thể dùng thang Tứ nghịch để điều trị bệnh này.
Thứ ba là “Hạ lợi mạch sác, hựu vi nhiệt hãn xuất, kim tự dũ, thiết phục khẩn, vi vị giải” (下利脉数,又微热汗出,今自愈,设复紧,为未解), hạ lợi là tiêu chảy, chứng tiêu chảy do lạnh có mạch sác, có sốt nhẹ, có một chút mồ hôi, Trương Trọng Cảnh cho rằng các chứng trạng như vậy là tốt, “kim tự dũ”(bệnh tự khỏi), vì sao? Vì chứng tiêu chảy do lạnh xuất hiện sốt nhẹ, xuất hiện có chút mồ hôi, đây là biểu hiện của dương khí khôi phục, âm tà đã thoái lui, là xuất hãn của dương khí tự khỏi, xuất hãn của dương khí khôi phục. Bạn thấy rằng, đây là xuất hãn có hội chứng chết, có chứng xuất hãn có thể trị bằng hội chứng của thang Tứ nghịch, cũng có trường hợp xuất hãn nhẹ thì có thể tự khỏi bệnh.
Tiếp theo chúng ta sẽ nói đến điều thứ 4, người này cũng là dương khí cần khôi phục, nhưng dương của anh ta bị hư tổn, khi cần khôi phục thì dương khí và âm hàn cần phải tử chiến (bối thuỷ nhất chiến), cho nên Trương Trọng Cảnh nói ở phần dưới là “Sở dĩ nhiên giả, kỳ diện đái dương, hạ hư cố dã.” (所以然者,其面戴阳,下虚故也。) Vì sao lại tốt như vậy, lại là chứng uất mạo, sau đó xuất hãn mà giải trừ bệnh? Vì dương khí của người này chính là ở vào tình huống không đầy đủ, và không giống như ở điều thứ 3 “hữu vi nhiệt hãn xuất, kim tự dũ” (sốt nhẹ xuất hãn, bệnh tự lành). Ở đây là dương khí hư, phản ảnh đề kháng bệnh tà không thuận lợi.
Tóm lại, âm chứng xuất hãn của kinh Quyết âm có 4 loại tình huống, có hai tình huống không tốt và hai tình huống tốt. Đầu tiên là một tình huống không tốt, đó là vong dương, xuất hãn không ngừng là vong dương; Tình huống thứ hai là sau khi đại hãn (xuất rất nhiều mồ hôi) thì xuất hiện tay chân quyết nghịch, đó cũng là vong dương, nhưng chẳng qua chỉ không phải là chứng chết, có thể sử dụng thang Tứ nghịch để điều trị bệnh. Cả hai trường hợp đều là những dấu hiệu hung hiểm, không tốt. Thứ ba là bệnh nhân sốt nhẹ xuất hãn, bệnh sẽ tự khỏi, dương khí khôi phục, âm hàn thoái lui, đó là trường hợp tốt. Nếu như sắc mặt còn chút sắc hồng, thân thể sốt nhẹ, tay chân quyết nhẹ, còn tiêu chảy phân sống, lúc này dương khí khôi phục, âm hàn thoái lui, còn cần trải qua một giai đoạn uất mạo như vậy rồi bệnh mới được giải trừ.
Chú giải của Thành Vô Kỷ chính là lý giải theo biểu tà, điều này không dễ giải thích. Hãy nghe ông ta nói như thế nào, “hạ lợi thanh cốc, mạch trầm nhi trì, lý hữu hàn dã. Diện thiểu xích, thân hữu vi nhiệt, biểu vị giải dã.”( 下利清谷,脉沉而迟,里有寒也。面少赤,身有微热,表未解也。)tiêu chảy phân sống, mạch trầm trì, phản ảnh lý hàn. Sắc mặt hơi đỏ, sốt nhẹ, biểu chứng chưa giải) Đây là biểu chứng chưa giải. Ông ta kết hợp đoạn này với đoạn vừa đọc”Thương hàn, y phản hạ chi, dĩ hạ chi nhi phản hãn chi. Biểu lý câu hư, kỳ nhân nhân tự mạo, mạo gia hãn xuất tự giải.” (伤寒,医反下之,已下之而反汗之。表里俱虚,其人因自冒,冒家汗出自解。) Bệnh thương hàn, thày thuốc lại dùng phép hạ, đã hạ nhưng lại phát hãn làm cho biểu lý đều hư tổn, là nguyên nhân gây ra chứng uất mạo, chứng uất mạo tự giải khi xuất hãn). Ông ta đánh đồng hai điều này với nhau. Điều này là không đúng. Đây là một chú giải khó hiểu, tại sao khó hiểu? Trương Trọng Cảnh nói rằng, “Sở dĩ nhiên giả, kỳ diện đái dương, hạ hư cố dã”.( 所以然者,其面戴阳,下虚故也)Mặt có sắc đỏ, là do bên dưới hư tổn. Đồng thời không nói rằng mặt có chút sắc đỏ chính là biểu tà không được giải, biểu tà không được giải trừ và hạ hư đái dương là hai chứng hình, vì thế lời chú giải của ông ta không có nhiều tính Lo gich.
367 下利,脉数而渴者,今自愈;设不差,必清脓血,以有热故也。 C382
367 Hạ lợi, mạch sác nhi khát giả, kim tự dũ; Thiết bất sai, tất thanh nùng huyết, dĩ hữu nhiệt cố dã. C382
Điều này trình bày chứng quyết âm hàn lợi (tiêu chảy do lạnh) do dương phục thái quá mà chuyển thành chứng nhiệt lợi (tiêu chảy do nhiệt) đại tiện ra máu mủ.
Chứng tiêu chảy nếu thấy “mạch sác”, nếu thấy “nhi khát” mà khát là âm chứng chuyển dương.
Âm chứng chuyển dương có ý là âm tà đã thoái lui, dương khí đã khôi phục, và bệnh đã không tốt rồi sao? Vì thế “Kim tự dũ” (nay tự khỏi). “Thiết bất sái” (设不瘥) Giả thiết bệnh này không khỏi, âm chứng đã thấy dương, đã thấy bệnh nhân mạch sác và khát, nếu bệnh còn tiếp tục không tốt, thì đây không phải là vấn đề của âm tà, mà thuộc về dương khí quá mạnh, dương nhiệt thái quá, vì thế “Tất thanh nùng huyết, dĩ hữu nhiệt cố dã” (必圊脓血,以有热故也)tất nhiên sẽ đại tiện ra máu mủ, vì dương nhiệt thái quá, vì có nhiệt. Vì thế quyết âm bệnh có vấn đề phân hoá lưỡng cực, trước đây là hàn chứng, hàn chứng rất tệ hại; Bây giờ trở lại nhiệt, lại nhiệt thái quá, gây tổn thương âm lại thêm phân có máu mủ.
368 下利后脉绝,手足厥冷,晬时脉还,手足温者生,脉不还者死。 C383
368 Hạ lợi hậu mạch tuyệt, thủ túc quyết lãnh, tối thời mạch hoàn, thủ túc ôn giả sinh, mạch bất hoàn giả tử. C383
Điều này trình bày về tiên lượng của chứng tiêu chảy mà mạch tuyệt (hết mạch).
Sau khi tiêu chảy, mạch tuyệt, là mạch không còn tiếp tục nữa.
Đồng thời tay chân lạnh ngược đến khuỷu và gối (quyết lãnh), đây là biểu hiện của dương khí hư. Mạch tuyệt không phải đơn thuần là vấn đề dương hư, vì mạch là huyết mạch, như vậy đây là biểu hiện của âm dương đều hư tổn, âm dương không thể tương tục (nối tiếp) nữa. Nếu như có tính tạm thời, do vì tiêu chảy, chính khí suy yếu, âm dương không thể nói tiếp nhau, đây là khí huyết nhất thời không tiếp tục nên mạch tuyệt (hết mạch), “Tối thời mạch hoàn” (晬时脉还), tối thời là một vòng thời gian, chính là trải qua, hiện tại chúng ta nói là trong khoảng 24 giờ, mạch lại đập. “Thủ túc ôn giả” là tay chân ấm áp, điều này cho thấy khí huyết, âm dương còn có nhiều khả năng khôi phục, vì thế đây là “Sinh”(sống). Trải qua 1 đêm, một ngày, vẫn không thấy mạch mà tay chân lạnh, như vậy là đã nguy hiểm, chính là “Tử” là đã chết. Trương Trọng Cảnh quan sát người không có mạch, có hạn chế về thời gian, thời gian hạn chế chính là tối thời (vòng thời gian). Vì sao gọi là tối thời? Đào Hoằng Cảnh viết: “Tối thời giả, chu thời dã, chu biến dã”, là đầy đủ 12 giờ (theo 12 chi bằng 24 giờ hiện nay), như thời gian từ sáng sớm hôm nay đến sáng sớm ngày mai, thì gọi là tối thời (một vòng thời gian). Khi thấy bệnh nhân không có mạch, không nên cho rằng bệnh nhân đã chết, điều này chưa hẳn đã đúng, có trường hợp chỉ là bệnh nhân tạm thời mất mạch, sau một thời gian có thể sẽ hồi phục, tim đập lại, huyết áp tăng lên, tay chân ấm dần, mọi chuyện đang biến chuyển tốt, đây là những tình huống đã xảy ra trên lâm sàng.
369伤寒下利,日十余行,脉反实者死。 C384
369 Thương hàn hạ lợi, thập nhật dư hành, mạch phản thực giả tử. C384
Điều này trình bày hư chứng mà thấy mạch thực là dấu hiệu bệnh nhân sẽ chết.
“Thương hàn hạ lợi, nhật thập dư hành” là nói về chứng tiêu chảy rất nặng, một ngày tiêu chảy hơn 10 lần, không phải là chứng tiêu chảy thông thường, một ngày hơn 10 lần, 15, 16 lần thì gọi là hơn 10 lần.
Tiêu chảy như vậy, chính khí đương nhiên sẽ hư tổn suy yếu, bụng và khuông mắt đều lõm vào, nó gây tổn hại rất nhiều cho khí huyết tân dịch của bệnh nhân. Lúc này mạch của bệnh nhân nên là mạch nhược, mạch vi, hoặc giả là mạch trầm, là đúng là hợp. “Mạch phản thực giả” (脉反实者), tại sao lại thêm chữ phản, chính vì điều này không phù hợp với bệnh chứng tiêu chảy một ngày hơn 10 lần như vậy, mạch phản thực lại có lực, đây chính là dấu hiệu của chứng chết. Tại vì sao? Vì chứng này là hư chứng, hư chứng nên có mạch trầm vi, mạch trầm trì, mạch vi mà nhược; Mạch anh ta lại là mạch thực, điều này cho thấy chính khí tuy hư, mà tà khí lại vượng thịnh, đây chính là hiện tượng không bình thường, phản ảnh tà khí quá mạnh, chính khí lại hư tổn cực độ. Con người với chính khí là căn bản, chính khi hư tổn mà tà khí quá mạnh, như vậy là bệnh không tốt, đây là một hiện tượng không tốt của bệnh, điều này phải liên hệ với điều trước “Mạch đại giả vi vị chỉ” (脉大者,为未止), mạch đại là còn một chút hiện tượng trung tiêu hư tổn, còn mạch thực không phải là mạch đại, vì thế càng nguy hiểm hơn.
370 下利清谷,里寒外热,汗出而厥者,通脉四逆汤主之。 C385
370 Hạ lợi thanh cốc, lý hàn ngoại nhiệt, hãn xuất nhi quyết giả, thông mạch Tứ nghịch thang chủ chi. C385
Điều này trình bày hội chứng và trị liệu của chứng âm thịnh cách dương.
Bài này có ý nghĩa tương tự như “Thiếu âm bệnh, hạ lợi thanh cốc, lý hàn ngoại nhiệt, thủ túc quyết lãnh, mạch vi dục tuyệt, thân phản bất ố hàn” (少阴病,下利清谷,里寒外热,手足厥冷,脉微欲绝,身反不恶寒) Thiếu âm bệnh, tiêu chảy phân sống, trong lạnh ngoài nóng, tay chận lạnh đến khuỷu, gối, mạch vi như muốn hết mạch, thân thể ngược lại không sợ lạnh của thiên Thiếu âm, vì thế điều trị cũng dùng thang Thông mạch Tứ nghịch.
371热利下重者,白头翁汤主之。 C386
371 Nhiệt lợi hạ trọng, Bạch đầu ông thang chủ chi. C386
Bạch đầu ông thang
Tam lạng Hoàng liên Bá dữ Tần Bạch đầu nhị lạng nhị thông thần
Bệnh duyên nhiệt lợi thời tư thuỷ Hạn trọng nan thông thử dược chân
Bạch đầu ông 2 lạng Hoàng liên Hoàng bá Tần bì đều 3 lạng
4 vị trên, dùng 7 thăng nước, đun cạn còn 2 thăng, bỏ bã, uống ấm 1 thăng; Không khỏi bệnh, uống thêm 1 thăng.
373 下利,欲饮水者,以有热故也,白头翁汤主之。 C388
373 Hạ lợi, dục ẩm thuỷ giả, dĩ hữu nhiệt cố dã, Bạch đầu ông thang chủ chi. C388
Hai điều này trình bày hội chứng và trị liệu của quyết âm nhiệt lợi (chứng tiêu chảy do nhiệt ở kinh Quyết âm).
Điều C386 “Nhiệt lợi hạ trọng giả, Bạch đầu ông thang chủ chi”, và điều C388 ở dưới “Hạ lợi dục ẩm thuỷ giả, dĩ hữu nhiệt cố dã, Bạch đầu ông thang chủ chi” nên liên hệ kết hợp với nhau để xem xét.
Tiêu chảy nhiệt và tiêu chảy hàn tính khác xa nhau, quyết âm có chứng tiêu chảy hàn và chứng tiêu chảy nhiệt, ở đây là nhiệt lợi.
Vì sao biết đây là nhiệt lợi? Một là đi tiêu ra chất nhầy, phân có lẫn máu mủ; Ngoài ra là cảm giác nặng ở hậu môn (hạ trọng), có khát và thích uống nước. Bệnh tà thấp nhiệt gây tổn thương tràng đạo, đại tiện dính bẩn, hoặc lẫn máu mủ, mạch trầm huyền, rêu lưỡi vàng nhầy, tiểu tiện vàng, đây chính là can không sơ tiết, thấp nhiệt bài xuất xuống dưới, nên xuất hiện đặc điểm lý cấp hậu trọng* như vậy. Mạch thấy trầm huyền, hoặc giả trầm huyền mà hoạt, loại tiêu chảy này gọi là chứng tiêu chảy nhiệt tính của quyết âm, cần dùng Bạch đầu ông thang để điều trị. Bạch đầu ông thang là phép chuyên trị, không phải là phép thông trị. Vương Mạnh Anh thích dùng Bạch đầu ông thang để trị bệnh kiết lỵ. Thành phần của Bạch đầu ông thang gồm Bạch đầu ông 2 lạng, Hoàng bá, Hoàng liên, Tần bì đều 3 lạng, phương thuốc rất đơn giản, “Tam lạng Hoàng liên Bá dữ Tần, Bạch đầu nhị lạng diệu thông thần, bệnh duyên nhiệt lợi thời tư thuỷ, hạ trọng nan thông thử dược chân”. Hoàng liên là vị thuốc tốt cho dạ dày và ruột, hay dùng để trị bệnh kiết lỵ.
Hoàng bá tính lạnh để thanh nhiệt, vị đắng để táo thấp, đồng thời với tác dụng thanh nhiệt còn có nhiều khả năng tư dưỡng thận âm.
Tần bì chính là nhập vào can kinh, có một chút sáp trệ, thanh nhiệt ở can đảm, khứ thấp nhiệt bên trong còn kèm theo một chút ý tứ thu liễm, còn có thể trị bệnh về mắt. Vị Bạch đầu ông là chủ dược trong Bạch đầu ông thang, trị độc lỵ rất hay, chính là thuốc chuyên trị độc nhiệt kiết lỵ.
Trên lâm sàng những trường hợp sử dụng Bạch đầu ông thang trị bệnh kiết lỵ rất nhiều, nhiều không kể siết. Bất quá, thuộc về chứng hạ lợi tổn thương âm, hạ tiêu không thắt bó (ước) là chứng trạng của Nhất giáp tiễn, chỉ nên dùng Mẫu lệ sống để liễm âm, không thể dùng Bạch đầu ông thang. Các bạn trên lâm sàng khi gặp hạ lợi có tính âm hư, đầu lưỡi có sắc hồng, không rêu, đầu lưỡi có những vết nứt, nếu tiêu chảy thì gia thêm một chút Mẫu lệ, dùng một chút Thạch hộc, dùng một chút Sơn dược sống, để dưỡng vị âm, dưỡng âm cho vị tràng, củng cố hạ tiêu, là rất tốt. Ngàn vạn lần không nên sử dụng thuốc đắng lạnh.
372 下利,腹胀满,身体疼痛者,先温其里,乃攻其表。温里四逆汤,攻表桂枝汤。 C387
372 Hạ lợi, phúc trướng mãn, thân thể đông thống giả, tiên ôn kỳ lý, nãi công kỳ biểu, ôn lý Tứ nghịch thang, công biểu Quế chi thang. C387
Điều này trình bày nguyên tắc và phương pháp trị liệu chứng tiêu chảy hư hàn có kèm theo biểu chứng.
Bụng trướng đầy xuất hiện cùng với tiêu chảy thì thường thuộc hư chứng. {Linh khu kinh*Kinh mạch} nói “Vị trung hàn tắc trướng mãn” (胃中寒则胀满) Dạ dày lạnh nên trướng đầy, tỳ thận dương hư, không ôn vận được khiến hàn ngưng khí trệ nên tiêu chảy, thuỷ cốc không tiêu hoá, bụng trướng đầy. “Thân thể đông thống” (身体疼痛)thân thể đau nhức, điều này cho thấy biểu chứng chưa được giải trừ, vì thế nên phải “Tiên ôn kỳ lý, nãi công kỳ biểu”, tức là trước tiên dùng Tứ nghịch thang để ôn lý phù dương, đợi khi khí bên trong khôi phục, đại tiểu tiện tự điều hoà, sau khi năng lực đề kháng ngoại tà được tăng cường, tái dùng Quế chi thang để công biểu. Đây chính là pháp tắc điều trị biểu lý cùng bị bệnh mà khí bên trong bị hư suy. Nếu như không tuân theo pháp tắc này mà công biểu trước, là phát hãn nhầm cho người hư tổn, sẽ tạo thành hậu quả nghiêm trọng của chứng vong dương hư thoát. Trương Cảnh Nhạc đối với pháp tắc trị liệu này có một phân tích rất sâu sắc: “Thử nhất điều nãi ngôn biểu lý câu bệnh nhi hạ lợi giả, tuy hữu biểu chứng, sở cấp tại lý, cái lý hữu bất thực, tắc biểu tà dũ hãm, tức dục biểu chi, nhi trung khí vô lực diệc bất năng tán, cố phàm kiến hạ lợi trung hư giả, tốc đương tiên ôn kỳ lý, lý thực khí cường tắc biểu tà tự giải, ôn trung khả dĩ tán hàn, tức thử vị dã” (此一条乃言表里俱病而下利者,虽有表证,所急在里,盖里有不实、则表邪愈陷,即欲表之,而中气无力亦不能散,故凡见下利中虚者,速当先温其里,里实气强则表邪自解,温中可以散寒,即此谓也。)Điều này nói về biểu và lý cùng bị bệnh mà tiêu chảy, tuy có biểu chứng, mà cần cấp lại là ở bên trong (lý) mà lý không thực (lý hư) thì biểu tà càng hãm, tức là muốn giải biểu tà mà khí bên trong vô lực nên không thể tán biểu tà, vì thế phàm khi gặp chứng tiêu chảy trung khí hư suy, nên nhanh chóng ôn kỳ lý, khí lý thực khí mạnh thì biểu tà tự giải, ôn trung có thể tán hàn, đó là ý nghĩa của điều này.
374 下利,谵语者,有燥屎也,宜小承气汤。C389
374 Hạ lợi, chiêm ngữ giả, hữu táo thỉ dã, nghi Tiểu thừa khí thang. C389
Điều nay phân tích hội chứng và trị liệu chứng táo thực nội trở, nhiệt kết bàng lưu.
Đây là thông nhân thông dụng* trị chứng nhiệt kết bàng lưu (bên cạnh). Nhiệt kết bàng lưu, có nhẹ có nặng. Chúng ta nói về ba hội chứng hạ cấp bách của Thiếu âm, “thiếu âm bệnh, tự lợi, thanh thuỷ, sắc thuần thanh, tất tâm hạ đông thống, khẩu can táo giả” (少阴病,自利,清水,色纯青,必心下疼痛,口干燥者), đó chính là dùng Đại thừa khí thang. Còn ở đây là tiêu chảy và nói mê, chứng nói mê chính là dương minh vị gia thực, là chứng tiêu chảy vị gia thực, đương nhiên là nhiệt kết bàng lưu*, vì thế nên tiêu chảy; Vì nhiệt kết, cho nên nói mê sảng. Mấu chốt ở nhiệt kết, mà không ở bàng lưu, vì thế “Hữu táo thỉ dã”(có phân khô).
Như vậy, bụng có đau không?, có đầy bụng không? Có hay không có chứng trạng ở bụng? Ẩn ý là người này nhất dịnh có chứng trạng ở bụng. Các chứng trạng như bụng trướng đầy, đau bụng , thuộc về chứng có phân khô, “nghi Tiểu thừa khí thang”, nên dùng thang Tiểu thừa khí, thông nhân thông dụng*, đưa phân khô ra ngoài cơ thể, sẽ hết nói mê, chứng tiêu chảy cũng tự ngừng.
Người viết trên lâm sàng đã từng điều trị một bệnh nhân, đó là ở y viện Hoà bình, một tu sinh đến tìm người viết khám bệnh cho 1 người bị tiêu chảy, rêu lưỡi người này có chút màu vàng, lý cấp hậu trọng*, tiêu chảy phân có niêm dịch và nặng mùi, mạch trầm hoạt. Người viết liền cho bệnh nhân uống Bạch đầu ông thang. Sau khi uống hết thang Bạch đàu ông, anh ta lại đến. Hỏi tình trạng người bệnh, anh ta nói có đỡ một chút, số lần tiêu chảy giảm. Người viết lại khám cho bệnh nhân, màu vàng của rêu lưỡi vàng hơn so với lúc chưa uống thuốc Bạch đầu ông. Không những không giảm mà còn vàng hơn rõ rệt. Người tu sinh đề nghị với người viết cho uống thêm một thang Bạch đâu ông nữa, người viết trả lời là không thể tiếp tục uống Bạch đầu ông thang. Lý do tại sao? Người viết nói với tu sinh là hãy xem rêu lưỡi bệnh nhân, sắc vàng sẫm hơn trước. Màu vàng ở đầu lưỡi không giảm, ở đây có tích trệ, nếu cho aanh ta uống tiếp Bạch đầu ông thang chẳng những không được mà còn sợ rằng sẽ có vấn đề. Người viết cho bệnh nhân uống thang Tiểu thừa khí, Hậu phác, Chỉ thực, Đại hoàng. Thông nhân thông dụng, bệnh nhân đi tả một số lần, sau khi ngừng đi tả, tiêu chảy cũng ngừng. Cặn bã trong ruột không ra được, thì chứng tiêu chảy không thể ngừng, hãy chú ý các vấn đề này khi lâm sàng.
Vì sao hai điều này lại liên quan với nhau? Phía trước là Bạch đầu ông thang, phía sau là Tiểu thừa khí thang? Là nói rằng trên lâm sàng có một vài tình huống như vậy, sau khi uống thang Bạch đầu ông không thu được hiệu quả, nếu như trong ruột có phân khô, có biểu hiện như nói mê sảng, đau bụng, rêu lưỡi vàng. Sau khi tả hạ thì rêu lưỡi hết vàng.
375 下利后更烦,按之心下濡者,为虚烦也,宜栀子豉汤。 C390
375 Hạ lợi hậu canh phiền, án chi tâm hạ nhu giả, vi hư phiền dã, nghi Chi tử thị thang. C390
Điều này trình bày hội chứng và trị liệu chứng tà nhiệt uẩn kết ở tim và lồng ngực.
Điều này nên liên kết với điều Tiểu thừa khí thang chứng ở phía trước để xem xét. Người bệnh sau khi tiêu chảy tâm lý thường bực bội. Đây không phải là thực phiền, mà là hư phiền. Ấn tay vào dạ dày (tâm hạ) thấy mềm mại không cứng. Bụng còn mềm mại, đây chính là hư phiền. Nếu ấn vào tâm hạ cảm thấy đau, hoặc cứng, thì đó không phải là hư phiền. Chứng hư phiền thì đại tiện còn tương đối bình thường. Nếu là thực phiền, thì e rằng đại tiện có vấn đề. Đối với chứng hư phiền thì không nên tả hạ, dùng Chi tử thị thang. Vì chứng hư phiền chính là có hoả uất, là nhiệt tà uẩn uất tại lồng ngực, vì thế nên dùng Chi tử thị thang.
376呕家有痈脓者,不可治,呕脓尽自愈。C391
376 Ẩu gia hữu ung nùng giả, bất khả trị, ẩu nùng tận tự dũ. C391
Điều này trình bày chứng ẩu thổ do bên trong có ung nhọt, nên điều trị ung nhọt bên trong.
Quyết âm bệnh ảnh hưởng đến ruột thì tiêu chảy, ảnh hưởng đến dạ dày thì oẹ. Trên thực tế đây là vấn đề của một số tạp bệnh, một số tạp bệnh ẩu thổ cũng được xếp vào, và chứng quyết âm không có nội dung quan hệ cũng được xếp vào đây, vì thế cũng không thể gượng ép tất cả đều là quyết âm bệnh.
Ẩu gia, là những người bệnh thường xuyên ẩu thổ.
Nguyên nhân của chứng ẩu thổ này là gì?
Trong dạ dày có ung nhọt (có mủ), nó được thổ ra ngoài. Cơ thể con người có loại công năng này, trong cơ thể có một số thứ không tốt phải nôn ra ngoài. Nôn ra ung nhọt “Bất khả trị” là không cần điều trị, “ẩu nùng tận tự dũ” thổ hết mủ ra là tự nhiên khỏi bệnh.. Nếu như bạn trị liệu, trị liệu cũng uổng công. Vì thế khi nội tạng có ung nhọt, phế ung, trong dạ dày có ung nhọt mà ẩu thổ, là anh ta đang tống khứ mủ của ung nhọt ra ngoài, không giống như trạng huống ẩu thổ thông thường, và không cần điều trị chứng ẩu thổ của bệnh nhân, điều trị không những chỉ uổng công, ngược lại lại khiến cho bệnh cơ không ra ngoài được. Đoạn văn này cho chúng ta một gợi ý, chính là trị bệnh tất cầu kỳ bản, bản ở đây là ung nhọt, ung nhọt và mủ gây ra ẩu thổ, vì thế nên trị ung nhọt, không cần trị ẩu thổ, hết mủ là khỏi bệnh.
377 呕而脉弱,小便复利,身有微热见厥者难治。四逆汤主之。 C392
377 Ẩu nhi mạch nhược, tiểu tiện phục lợi, thân hữu vi nhiệt kiến quyết giả nan trị. Tứ nghịch thang chủ chi. C392
Điều này trình bày chứng ẩu thổ mà tay chân quyết lãnh thì thuộc âm thịnh cách dương, là bệnh khó trị.
Ẩu thổ là vị khí bất hoà, “ẩu nhi mạch nhược”, có ý tứ là bệnh ở bên trong (lý). “Tiểu tiện phục lợi” (小便复利) tiểu tiện thuận lợi. Đây chính là một chẩn đoán phân biệt, cho thấy chuyển hoá của nước vẫn còn rất tốt, không có khả năng xuất hiện các chứng trạng đình, ứ nước. Ẩu nhi mạch nhược, “thân hữu vi nhiệt” (身有微热), trên thân thể còn sốt nhẹ, nếu như tình trạng này không phát triển, thì đây cũng không phải là một bệnh khó trị, vấn đề không lớn. “Kiến quyết giả nan trị” (见厥者难治), nếu như xuất hiện chứng trạng tay chân quyết lãnh, thì bệnh này khó trị liệu. Vì sao lại khó trị?, đầu tiên là bệnh nhân sốt nhẹ, sau đó lại xuất hiện tay chân quyết lãnh, đây là biểu hiện của âm tà thắng dương khí, âm tà chiếm địa vị chủ đạo cũng chính là dương khí không thể thắng âm, âm hàn mạnh ở bên trong. Chiều hướng phát triển này là chiều hướng âm tà mạnh, là chiều hướng dương khí bất lợi, là chính khí hư nhược và tà thịnh (năng lực kháng bệnh hư yếu mà bệnh tà mạnh), vì thế bệnh này khó điều trị. Nhưng đây cũng không phải là một bệnh không thể chữa trị. “Tứ nghịch thang chủ chi”, cần nhanh chóng dùng thang Tứ nghịch, phù trợ dương để tiêu âm, phù dương để trừ khứ bệnh tà âm hàn.
Khi chúng tôi giảng đến thiên Thiếu âm đã giới thiệu về {Thương hàn bổ vong luận} của Quách Ung, giới thiệu một số nguyên tắc liên quan đến việc sử dụng Tứ nghịch thang, Thông mạch tứ nghịch thang và Ngô thù du thang. Nếu như ẩu thổ tiêu chảy mà lại phiền táo (bực bội), bất luận là tình huống nào, trước tiên hãy dùng Ngô thù du thang. Nếu như ẩu thổ tiêu chảy (thổ tả) quyết nghịch, mạch vi dục tuyệt, hãy dùng Thông mạch tứ nghịch thang. Ẩu thổ tiêu chảy, nếu như xuất hiện quyết lãnh, quyết nghịch, hãy nhanh chóng dùng Tứ nghịch thang. Điều này nhất định sẽ thấy chứng quyết, vì thế cần dùng Tứ nghịch thang để trị liệu.
378 干呕,吐涎沫,头痛者,吴茱萸汤主之。C393
379呕而发热者,小柴胡汤主之。 C394
378 Can ẩu, thổ diên mạt, đầu thống giả, Ngô thù du thang chủ chi. C393
379 Ẩu nhi phát nhiệt, Tiểu sài hồ thang chủ chi. 394
Hai điều này chính là để so sánh, một là hàn tính, một là nhiệt tính, một là ở kinh Quyết âm, một ở kinh Thiếu dương.
“Can ẩu, thổ diên mạt”, can ẩu (nôn khan) là không thổ ra thực phẩm, không thổ ra thực phẩm gọi là can ẩu (nôn khan), vì thế, nôn khan là không nôn ra cái gì sao? Anh ta cũng nôn ra một chút, nôn ra cái gì? Không thổ ra thực phẩm mà thổ ra một chút nước dãi có bọt. Dãi có bọt không phải là thực phẩm mà là nước, loại thuỷ dịch đó gọi là dãi có bọt. Đồng thời còn đau đầu, là đau đỉnh đầu điển hình, nôn khan ra nước dãi nước bọt, đau đỉnh đầu. Chính là chứng trạng điển hình của Ngô thù du thang.
Hội chứng của Ngô thù du thang trong {Thương hàn luận} có một số phương diện sau. Đầu tiên là ở bệnh biến của Dương minh, “thực cốc dục ẩu giả, Ngô thù du thang chủ chi”( 食谷欲呕者,吴茱萸汤主之)ăn vào muốn nôn, Ngô thù du thang chủ trị. Thứ hai là “Thiếu âm thổ lợi, thủ túc quyết lãnh, phiền táo dục tử giả, Ngô thù du thang chủ chi.” (少阴吐利,手足厥冷,烦躁欲死者,吴茱萸汤主之。)Thiếu âm thổ tả, tay chân quyết lãnh, buồn bực muốn chết, Ngô thù du thang chủ trị bệnh này. Điều này thấy ở thiên Quyết âm, “can ẩu, thổ tiên mật, đầu thống giả, Ngô thù du thang chủ chi.”( 干呕,吐涎沫,头痛者,吴茱萸汤主之。)Nôn khan, thổ ra dãi bọt, đau đầu, Ngô thù du chủ trị bệnh này) Trước đây khi nói về Ngô thù du, chúng ta thường nhấn mạnh vấn đề, Ngô thù du thang trị thổ, cũng trị tiết tả. Thổ tả, nhưng chủ yếu là ẩu thổ, vì sao phải đề cập đến luận điểm này? Là ở thiên Quyết âm khi nói về nôn khan thổ ra dãi bọt cũng không nói đến hạ lợi, thiên Dương minh nói về ăn thực phẩm muốn ẩu thổ, chúng chính là giảng về ẩu thổ. Vì thế, Ngô thù du thang ở thiên Thiếu âm dùng để trị chứng ẩu thổ và hạ lợi, nhưng chủ yếu là điều trị chứng ẩu thổ, vì vậy Lý trung hoàn, Lý trung thang trị ẩu thổ cũng trị chứng hạ lợi, nhưng tác dụng chủ yếu của chúng là điều trị chứng hạ lợi (tiêu chảy). Nôn khan ra dãi bọt, đau đầu, đây là can hàn (gan bị lạnh) của túc quyết âm, tà âm hàn của can bức bách vị, “kiến can chi bệnh, tri can truyền tỳ” (见肝之病,知肝传脾), tạng Can có bệnh tà, sẽ ảnh hưởng đến tỳ vị. Vị khí thượng nghịch (trào ngược) sẽ thổ ra dãi bọt. Tạng hàn sẽ dễ dàng sinh thuỷ, tạng nhiệt sẽ dễ dàng động phong, đây là xu hướng biến hoá của âm dương hàn nhiệt. Tà hàn nghịch của Quyết âm, sẽ nôn ra dãi bọt, dãi bọt là thuỷ ẩm, cũng là thuỷ dịch. Không chỉ nôn ra dãi bọt mà còn có một đặc điểm, là trên lâm sàng bạn cần xem xét hội chứng thang Ngô thù du, người này nôn oẹ suốt, nôn khạc ra dãi bọt, nôn không ngừng, dùng xô đựng dãi bọt, nôn ra rất nhiều trong một lúc, có khi tựa như tròng trắng trứng. Nôn khan dãi bọt, đồng thời đau đầu, có lúc không những đau đầu, mà còn chóng mặt váng đầu nhẹ. Mạch thường thấy Huyền Hoãn, Huyền Trì, là dùng “Ngô thù du thang chủ chi”(Ngô thù du chủ trị bệnh này).
Thang Ngô thù du trị chứng tạng can bị lạnh ảnh hưởng gây nên chứng ẩu thổ do vị khí thượng nghịch (trào ngược dạ dày), nôn khạc dãi bột và đau đầu có hiệu quả phi thường. Người viết căn cứ theo nguyên tắc này, khám và điều trị một số người bệnh. Một người họ Nghiêm là một nhà địa chất, được tây y chẩn đoán là loét hành tá tràng, hằng đêm từ 11 đến 12 giờ, đầu tiên bệnh nhân cảm thấy lạnh, tựa như sốt rét, ăn vào đau tệ hại, sau đó là nôn ra. Bệnh viện đã đề nghị phẫu thuật, nhưng anh ta không đồng ý, liền đến gặp người viết để khám bệnh, người viết thấy bệnh nhân mạch Huyền Trì, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi có nước nhờn, khạc ra dãi bọt, đây chính là hội chứng của Ngô thù du thang. Người viết liền cho bệnh nhân uống thang Ngô thù du, uống vào là bệnh có biến chuyển tốt.
Điều C394 “Ẩu nhi phát nhiệt giả, Tiểu sài hồ thang chủ chi.” (呕而发热者,小柴胡汤主之。)ẩu thổ mà phát nhiệt, thang Tiểu sài hồ chủ trị bệnh này. Nếu như cũng ẩu thổ, nhưng là phát sốt, thậm chí là phát sốt nhẹ không thoái, đây là dương chứng. Ở thiên Thái dương bệnh cho là hội chứng của thang Tiểu sài hồ, hội chứng của thang Tiểu sài hồ có phát nhiệt, “ẩu nhi phát nhiệt”, cũng bao gồm nhiệt không thoái. Trên lâm sàng có rất nhiều bệnh nhân như vậy, nhất là các đồng chí nữ. Lợm giọng, miệng đắng, phát nhiệt cao nhất là 38℃, buồn nôn suốt, mạch Huyền ở thốn khẩu, tựa như một sợi dây, thẳng lên thẳng xuống, dễ cáu giận(vu vơ), ngực đầy, khạc nhổ, thang Tiểu sài hồ dùng rất tốt trong trường hợp này. “Ẩu nhi phát nhiệt, Tiểu sài hồ thang chủ chi” (Ẩu thổ mà phát sốt, Tiểu sài hồ chủ trị bệnh này) Can và Đảm có tương quan biểu lý, đã xuất hiện hội chứng Thiếu dương, dương chứng Thiếu dương sẽ phát sốt, tướng hoả đã uất, vì thế nên phát sốt. Ghét lạnh, trong đêm ghét lạnh, đau đầu khạc thổ dãi bọt, đó là hội chứng của thang Ngô thù du; Nếu miệng đắng, hay nôn, ngực sườn khó chịu, sốt nhẹ, sốt không hạ đó là hội chứng của thang Tiểu sài hồ.
Một trường hợp là âm chứng, một trường hợp là dương chứng; Một trường hợp là hàn chứng, một trường hợp có kèm theo hiện tượng nhiệt. Đồng thời, trong thiên Quyết âm đã đề xuất thang Tiểu sài hồ, là cho thấy vấn đề biểu lý của can đảm. Can và đảm là một vấn đề của quan hệ biểu lý. Thực, là thực tại Thiếu dương; Hư, là hư tại Quyết âm.
380 伤寒大吐大下之,极虚,复极汗出者,以其人外气怫郁,复与之水,所以发其汗,因得哕。以然者,胃中寒冷故也。 C395
380 Thương hàn đại thổ đại hạ chi, cực hư, phục cực hãn xuất giả, dĩ kỳ nhân vị khí phất uất, phục dữ chi thuỷ, dĩ phát kỳ hãn, nhân đắc uế. Sở dĩ nhiên giả, vị trung hàn lãnh cố dã. C395
Điều này trình bày chứng thương hàn dùng nhầm phép thổ phép hạ, vị dương bị hư tổn mà phát sinh nôn oẹ.
Chứng thương hàn sau khi đại thổ, đại hạ, “cực hư ” (极虚) là hư cực độ để chỉ về mực độ hư của vị khí. “Phục cực hãn xuất giả” (复极汗出者) hư cực độ nên xuất hãn (mồ hôi), vì khí của vị dương đã hư suy, dương hư nên không vững mạnh kiên cố, vì thế nên xuất hãn, xuất hãn này là một hội chứng, không phải là chứng xuất hãn do thày thuốc tạo ra, mà là tự mình xuất hãn. Như vậy sẽ tạo thành vẻ bề ngoài bất an, vì dương khí không kiên cố vững vàng, bên ngoài dương hư vì thế người này có chút nhiệt, đây là hư dương, là dương khí của vị hư phù việt (trôi nổi) ra ngoài. Nếu như thày thuốc còn dùng thuỷ liệu, “dữ chi thuỷ dĩ phát kỳ hãn” (与之水以发其汗)nói anh ta uống một chút nước sôi, để anh ta phát hãn, như vậy khi anh ta xuất hãn, “nhân đắc uế” (因得哕) sẽ oẹ ra một cái, oẹ ra chính là “vị trung hàn lãnh cố dã” (胃中寒冷故也) là do dạ dày bị lạnh, lại làm cho anh phát hãn thì vị dương càng hư tổn. Dạ dày lạnh nên oẹ. Vị hư cũng có thể gây oẹ, lục phủ thực cũng có thể gây oẹ, phần sau (lục phủ thực) nếu trước sau bất lợi thì cần tả hạ, cần thông lợi, phần trước (Vị hư) tất nhiên cần bồi bổ vị khí, bổ dương, dùng thang Ngô thù du, thậm chí thang Tứ nghịch.
381伤寒,哕而腹满,视其前后,知何部不利,利之则愈。 C396
381 Thương hàn, uế nhi phúc mãn, thị kỳ tiền hậu, tri hà bộ bất lợi, lợi chi tắc dũ. C396
Điều này thảo luận về biện chứng và trị pháp của chứng nấc mà đầy bụng.
Oẹ là ách nghịch (nấc cục), giống như cơ hoành bị co thắt. Đồng thời bụng trướng đầy không tiêu.
Nếu như gặp bệnh như vậy, Trương Trọng Cảnh nói rằng “Thị kỳ tiền hậu” thị là quan sát, tiền hậu là trước sau là đại tiện và tiểu tiện, “tri hà bộ bất lợi”, sau khi quan sát, điều tra, qua tìm hiểu, là tiểu tiện bất lợi hay đại tiện bất lợi, “Tri hà bộ bất lợi, lợi chi tắc dũ” (知何部不利,利之则
愈) biết bộ phận nào bất lợi (đại hoặc tiểu tiện)
Giải quyết bộ phận bất lợi thì sẽ khỏi bệnh”. Tại sao? Vì đây là thuộc thực chứng của lục phủ, vì thế tiểu tiện bất lợi là tích tụ nước, đại tiện bất lợi là phủ khí không thông, oẹ mà đầy bụng thì liên hệ kết hợp với chứng đầy bụng.
Tiểu kết
Thiên quyết âm bệnh tổng cộng có 26 điều, quyết là cực, quyết âm là cực độ của âm, bệnh tà âm khí âm hàn của nó còn nặng hơn so với Thiếu âm bệnh, vì thế gọi là cực độ của âm. Vì âm hàn của nó cực thịnh, nên nó có một điều kiện để dương khí trở lại, cũng chính là điều Trung y thường nói về chuyển hoá là âm cực sinh dương, hàn cực sinh nhiệt. Vì thế thiên quyết âm và thiên thiếu âm là khác biệt, nội dung của hai thiên này không thể trộn lẫn. Vì quyết âm hàn cực sinh nhiệt, dương nhiệt trở lại, cho nên nó có chứng hàn nhiệt hỗn hợp. Thiếu âm bệnh thì không có, thiếu âm bệnh chỉ có chứng cách dương, đái dương của hàn cực độ mà không có chứng hàn cực sinh nhiệt, cũng không có âm cực sinh dương.
Chứng hỗn hợp hàn nhiệt của Quyết âm bệnh thể hiện trong thiên Quyết âm gồm có 3 phương diện, một là hội chứng của Ô mai hoàn, hai là hội chứng của thang Can khương Hoàng cầm Hoàng Liên Nhân sâm, ba là hội chứng của thang Ma hoàng Thăng ma. Ba phương chứng này đều cùng sử dụng cả hàn và nhiệt dược(hàn nhiệt tính dụng), nhưng mỗi phương lại có những đặc thù riêng. Ô mai hoàn hàn nhiệt tính dụng, nhưng chủ yếu là toan thu (vị chua và thu liễm), có thể điều trị chứng hồi quyết, có thể điều trị chứng khí bốc lên ảnh hưởng đến tạng tâm, tim bị đau và nóng. Thang Can khương Hoàng cầm Hoàng liên Nhân sâm dùng cả hàn và nhiệt dược, tác dụng chủ yếu là khổ giáng (vị đắng, giáng hạ), vì thế phương thang này có tác dụng trị ẩu thổ, chính là một phương dược lý tưởng để điều tri chứng ẩu thổ. Ma hoàng thăng ma thang cũng là một phương thang hàn nhiệt tính dụng (sử dụng cả hàn và nhiệt dược), nhưng nó có thể tuyên phát dương nhiệt bị đè nén, vì thế nó được sử dụng để điều trị mạch thốn trầm trì, quyết lãnh hạ lợi của mạch hạ bộ không đủ, sau khi uống thuốc bệnh nhân sẽ xuất hãn, hãn xuất lại giải trừ bệnh. Đây là chứng hỗn hợp hàn nhiệt, chứng này không có ở thiên Thiếu âm. Đây chính là đặc điểm thứ nhất. Theo tiền đề như vậy, Quyết âm bệnh lại chú trọng âm dương thiến thoái, hàn nhiệt thắng phục. Vì chúng phân hoá lưỡng cực, có khi hàn cực độ sẽ sinh nhiệt, nhiệt trở lại thì có vấn đề thái quá hoặc bất cập. Đồng thời, hàn là đại biểu cho tà khí, nhiệt là đại biểu cho chính khí, hàn, quyết, nhiệt xuất hiện hỗ tương. Quyết nhiều nhiệt ít, hoặc quyết ít nhiệt nhiều, trên thực tế cũng có chút giống như hàn nhiệt vãng lai.
Vì thế, đặc điểm lớn nhất của thiên Quyết âm, so sánh giữa quyết và nhiệt của nó, chiều hướng của quyết và nhiệt cái nào nhiều cái nào ít, cái nào thịnh cái nào suy, có thể biện chứng tình huống của âm dương tiêu trưởng. Đây là đặc điểm thứ hai của nó.
Đặc điểm thứ ba, quyết âm bệnh rất chú trọng vào quyết, quyết tóm lược được các tình huống khác nhau như hàn nhiệt, hư thực. Trương Trọng Cảnh dùng khí âm dương không thuận tiếp nhau như một cơ chế bệnh để giải thích cơ chế của chứng quyết. Vì thế, trong tình huống phức tạp nhiều biến hoá, chỉ cần bạn tìm ra vấn đề của hai phương diện âm dương thịnh suy, là có thể nắm được cơ chế của quyết bệnh, dựa vào đó có thể đề ra phương pháp trị liệu. Ở thiên Quyết âm có ba loại quyết, thứ nhất là hàn quyết, chủ yếu dùng loại tứ nghịch để trị liệu như Tứ nghịch thang, Thông mạch tứ nghịch thang, về cơ bản giống với chứng quyết của Thiếu âm. Trên cơ sở này, nó lại đề xuất chứng quyết lãnh của huyết hư có hàn, chứng này không có ở Thiếu âm bệnh, chỉ có ở thiên quyết âm, như hội chứng của thang Đương quy tứ nghịch.
Thứ hai là nhiệt quyết, một là nhiệt quyết mạch hoạt của hội chứng Bạch hổ thang, một nữa là “Quyết thâm nhiệt díệc thâm, quyết vi nhi nhiệt diệc vi, quyết ứng hạ chi, nhi phản hãn chi, tất khẩu thương lan xích dã” (厥深者热亦深,厥微者热亦微,厥应下之,而反汗之,必口伤烂赤也), chứng quyết đó thuộc về dương khí trở cách ở trong, có kèm theo hội chứng thấp nhiệt nhất định, không thể dùng thang Bạch hổ, mà nên tả hạ, vì thế có phép thanh, có phép hạ, đây chính là nhiệt quyết. Thứ ba là chứng quyết hỗn hợp hàn nhiệt, một là bao gồm cả hội chứng Ô mai hoàn của hồi quyết ở trong, hai là bao gồm hội chứng Ma hoàng Thăng ma thang sau khi đại hạ chứng thương hàn. Tóm lại, thiên quyết âm với quyết là chủ, quyết âm có hàn quyết, trong hàn quyết lại phân thành dương hư hàn quyết và huyết hư hàn quyết; Quyết âm còn có nhiệt quyết, trong nhiệt quyết có nhiệt quyết của phép thanh, nhiệt quyết của phép hạ; Nó còn có chứng quyết của hàn nhiệt hỗn hợp, một là hội chứng của Ô mai hoàn, hai là hội chứng của Ma hoàng Thăng ma thang.
Đặc điểm thứ tư là chứng hạ lợi (tiêu chảy). Chứng hạ lợi bao gồm hàn nhệt, âm dương, hư thực. Hạ lợi có tính hàn (lạnh) dùng Tứ nghịch bối (loại hình Tứ nghịch), nhiệt tính hạ lợi dùng thang Bạch đầu ông. Chứng hạ lợi nhiệt có các đặc điểm như khát nước, hai là hạ trọng (cảm giác nặng ở giang môn). Thiên quyết âm còn có chứng hạ lợi thực tính, ẩu thổ, nói mê sảng, đầy bụng, hạ lợi dùng thang Tiểu thừa khí. Hạ lợi hỗn hợp hàn nhiệt dùng ma hoàng Thăng ma thang và Ô mai hoàn.
Trường Xuân dịch