Thương hàn luận từ điều 326 đến điều 338 (C340-C352)
Từ điều 326 đến điều 338
326厥阴之为病,消渴,气上撞心,心中疼热,饥而不欲食,食则吐蛔,下之利不止。 C340
326 Quyết âm chi vi bệnh, tiêu khát, khí thượng chàng tâm, tâm trung đông nhiệt, cơ nhi bất dục thực, thực tắc thổ hồi, hạ chi lợi bất chỉ. C340
Điều văn này trình bày hội chứng đề cương của Quyết âm bệnh, chính là hội chứng hỗn tạp của hàn chứng và nhiệt chứng.
Nhiệt chứng của Quyết âm bệnh biểu hiện là “Tiêu khát”, “khí thượng chàng tâm” (气上撞心) khí bốc lên va chạm mạnh vào tim, “tâm trung đông nhiệt” (心中疼热) tim đau và nóng, vì Quyết âm thuộc về tạng của phong mộc, có tướng hoả, có khí Thiếu dương, thời điểm này dương khí sẽ phù, âm hoả sẽ uất cực độ rồi phát ra, và bắt đầu cùng một lúc. “Khí thượng chàng tâm” (气上撞心), chữ “chàng” (chạm) là từ hình dung, không giống như câu trước đây “khí thượng xung hung” (气上冲胸), “khí thượng xung yết hầu” (气上冲咽喉) xung là đánh mạnh (vào yết hầu) mà chàng là đánh rất mạnh. Vì khi hàn đã đến cực độ, khí phong mộc của can và Thiếu dương tướng hoả uất cực độ rồi phát ra. Nhiệt gây tổn thương tân dịch, nên khát. Miệng khát cầu cứu ở ngoài, sẽ uống nước để tự cứu, khát nước có thể uống, sau khi uống vẫn còn khát thì gọi là tiêu khát, nhưng tiểu tiện không có vấn đề, điều này cho thấy không tích trữ nước, không phải là Ngũ linh tán chứng.
Túc Quyết âm can và thủ Quyết âm tâm bào đều thuộc về Quyết âm, “tâm trung đông nhiệt”( 心中疼热) đau và nóng trong tim, phản ảnh dương khí trở lại, uất cực độ rồi phát ra. Đây chính là nhiệt chứng của Quyết âm. Bệnh lý của nó là khí mộc hoả của can, khí tướng hoả phát tác từ dưới lên trên.
Tỳ vị hư hàn, không có năng lực làm ngấu chín thuỷ cốc, vì thế bệnh nhân đói mà không muốn ăn.
Miễn cưỡng ăn vào thì “Thực tắc thổ” (食则吐) ăn vào thì thổ ra. Trong bụng người này có giun, thậm chí người bệnh có thể nôn ra giun, đúng là “Thực tắc thổ hồi” (食则吐蛔). Đây chính là hàn chứng của Quyết âm. Chứng trung tiêu tỳ vị hư hàn.
Nếu không hiểu đó là hội chứng hỗn hợp hàn nhiệt, thì trên phương diện trị liệu sẽ mắc sai lầm phiến diện. Nếu chỉ nhìn vào các nhiệt chứng “tiêu khát, khí thượng chàng tâm, tâm trung đông nhiệt” (消渴,气上撞心,心中疼热), sử dụng thuốc khổ hàn tả hạ để trị nhiệt, tỳ vị lại càng lạnh, sẽ “hạ chi lợi bất chỉ” (下之利不止), công hạ bn sẽ đi tả không ngừng.
Ngược lại, nếu chỉ chú ý vào các hàn chứng của trung tiêu như “Cơ nhi bất dục thực, thực tắc thổ” (饥而不欲食,食则吐), đơn thuần cho bệnh nhân uống thuốc nóng (nhiệt dược), thì chứng tiêu khát và đau nóng trong tim càng nghiêm trọng hơn.
Vì thế, nên dùng hàn dược, lại cần dùng cả nhiệt dược là phương pháp kiêm trị cả hàn và nhiệt chứng, như thế mới có thể giải quyết vấn đề này.
Liên quan với điều văn này có tranh luận rất lớn. Có người cho rằng đây là nhiệt chứng, căn bản là không có hàn chứng, thí dụ như Vưu Tại Kính {Thương hàn quán châu tập} cho rằng tả hạ gây hạ lợi không ngừng, chính là do can vượng tỳ hư gây ra. Nhưng đa số đều giữ quan điểm là hội chứng hàn nhiệt hỗn tạp.
327 厥阴中风,脉微浮,为欲愈;不浮,为未愈。 C341
327 Quyết âm trúng phong, mạch vi phù, vi dục dũ; Bất phù, vi vị dũ. C341
Điều văn này phân tích hình tượng mạch để biết bệnh sắp khỏi hoặc chưa khỏi.
Trong {Thương hàn luận} không kèm theo trị liệu và phương thang, các điều văn đều giảng về lý luận và có tính cương lĩnh (nguyên tắc chỉ đạo).
Quyết âm bệnh âm hàn chứng, nếu thấy dương chứng hoặc thấy dương mạch thì tốt.
Phản ảnh hàn chứng của Quyết âm chính là hỉ dương ố âm (thích dương ghét âm). Quyết âm trúng phong là quyết âm đã cảm thụ phong hàn. Phàm là khi kinh âm cảm thụ tà khí, mạch đều trầm và vi, vì nó là tạng bệnh âm hàn, phản ảnh đây là chứng âm hàn. Nếu như mạch trầm vi biến thành mạch vi phù, “vi dục dũ”(为欲愈) là bệnh sẽ khỏi. Âm thuộc lý (bên trong), dương thuộc biểu (bên ngoài), bệnh âm mà thấy dương mạch (phù), “Đại, phù, sác, động, hoạt giả, dương dã; Trầm, sáp, nhược, huyền, vi giả, âm dã” (大浮数动滑者,阳也;沉涩弱弦微者,阴也) Mạch dương gồm các mạch: Đại, phù, sác, động, hoạt; Mạch âm: Trầm, sáp, nhược, huyền, vi, từ âm mạch trầm vi biến thành dương mạch vi phù, đây chính là âm bệnh thấy dương mạch, là bệnh sắp khỏi. Cho thấy tà âm hàn đã có biểu hiện suy yếu, dương khí trên cơ thể có biểu hiện khôi phục, vì thế mạch có thể từ trầm vi mà biến thành mạch vi phù.
“Bất phù, vi vị dũ” (不浮,为未愈) Mạch không phù, bệnh chưa khỏi. Nếu mạch tiếp tục trầm vi mà vô lực không thấy vi vi mà phù, đây còn là hàn chứng của Quyết âm, còn là tà âm hàn chưa được giải trừ của Quyết âm, vì thế “Vi vị dũ” (为未愈) bệnh chưa khỏi, bệnh chưa tốt.
Tam âm bệnh có tính quy luật, Mạch của Thái âm chính là “Dương vi âm sáp nhi trường giả, vi dục dũ” (阳微阴涩而长者,为欲愈) Mạch dương vi (nhỏ yếu), mạch âm sáp (rít) mà trường (dài) là khỏi bệnh; Mạch của Thiếu âm là “Mạch dương vi âm phù giả, vi dục dũ”( 脉阳微阴浮者,为欲愈) Mạch dương vi (nhỏ yếu), mạch âm phù (nổi) là khỏi bệnh; Quyết âm chính là mạch từ trầm vi biến thành “Vi phù, vi dục dũ” (微浮,为欲愈) mạch trầm vi (chìm nhỏ yếu) biến thành mạch vi phù (nhỏ yếu và nổi) là khỏi bệnh; Hội chứng âm hàn của bệnh ở 3 kinh âm, nếu trong âm mạch xuất hiện dương mạch, phản ảnh chính khí đắc thế, đây đều là hiện tượng tốt, cho biết tà khí thoái lui và chính khí phục hồi, sẽ nhanh chóng khỏi bệnh. Nếu như âm chứng còn thấy âm mạch. Đó là “vi vị dũ dã” (为未愈也) là chưa khỏi bệnh.
Âm dương tiêu trưởng, cơ chế tiến thoái, thường phản ảnh đầu tiên là ở mạch, mạch chính là chỉ tiêu nhanh nhạy của bệnh biến (thay đổi bệnh lý).
Thí dụ, một người bị một mụn nhọt hàn tính, là một âm chứng. Tình trạng mạch trước đâylà âm mạch, hiện tại xuất hiện dương mạch, hoặc thấy mạch sác, hoặc thấy mạch phù, hoặc mạch hoạt, chứng trạng có phương hướng phát triển về dương chứng, đó là có thể nói bệnh có hướng phát triển tốt.
328厥阴病,欲解时,从寅至卯上。 C342
328 Quyết âm bệnh, dục giải thời, tòng dần chí mão thượng. C342
Bài này thảo luận về thời gian thuận lợi để giải trừ bệnh ở kinh Quyết âm.
Quyết âm thuộc can, là biểu lý với Thiếu dương. Ba giờ dần, mão, thìn (từ 3 giờ đến 9 giờ) là khoảng thời gian khí Thiếu dương vượng thịnh, cũng chính là thời gian thuận lợi để giải trừ Quyết âm bệnh. “Dục giải thời” (欲解时) thời gian thuận lợi để giải trừ bệnh, không phải là “Dĩ giải thời” (已解时) thời gian đã giải trừ bệnh, là chỉ nói về chiều hướng tốt của bệnh, đây là câu nói có tính thương thảo, không phải là một từ tất yếu, chẳng qua là phải hội đủ những điều kiện này. Vì thế. Không nên xem thời gian muốn giải trừ bệnh (dục giải thời) là một việc tất nhiên. Lục khí (biến hoá khí hậu trong tự nhiên) thực sự có ảnh hưởng đối với cơ thể và đó không phải là câu chuyện bịa đặt, điều này có được là nhờ sự quan sát lâu dài.
329厥阴病,渴欲饮水者,少少与之,愈。 C343
329 Quyết âm bệnh, khát dục ẩm thuỷ giả, thiểu thiểu dữ chi, dũ. C343
Điều văn này trình bày chứng trạng và trị liệu chứng khát nước do dương khí trở lại của Quyết âm bệnh.
Điều văn này nói theo mặt chữ (nghĩa đen) thì rất đơn giản, trên lý thuyết phát huy bao gồm hai phương diện: Thứ nhất Quyết âm bệnh hỗn tạp hàn nhiệt sẽ xuất hiện tiêu khát, uống một chút nước sẽ không hiệu qủa, “thiểu thiểu dữ chi, dũ” (少少与之,愈)uống từng chút một, sẽ bài trừ được chứng hàn nhiệt hỗn tạp. Thứ hai, nếu Quyết âm hàn chứng âm thoái dương khôi phục, bn sẽ thích uống nước, uống từng chút nước một sẽ có tác dụng hoà vị nhuận táo là làm cho dạ dày không bị khô khan và khỏi bệnh.
330诸四逆厥者,不可下之,虚家亦然。 C344
330 Chư Tứ nghịch quyết giả, bất khả hạ chi, hư gia diệc nhiên. C344
Điều văn này thảo luận việc cấm dùng phép công hạ đối với chứng quyết nghịch hư hàn.
“Chư” là từ mở đầu có nghĩa là các là nhiều, không thích hợp khi nói “chư đa” có nghĩa là rất nhiều.
“Tứ nghịch” ở đây là nói về tứ chi quyết lãnh, là phản ảnh của 1 bệnh lý, lại là biểu hiện của 1 chứng trạng. Quyết là tình trạng lệch cực độ của âm dương, âm dương không nối kết gây ra. Kết hợp với bài C350 “Tiền nhiệt giả, hậu tất quyết, quyết thâm giả, nhiệt diệc thâm, quyết vi giả, nhiệt diệc vi; Quyết ứng hạ chi” (前热者,后必厥,厥深者,热亦深;厥微者,热亦微;厥应下之) Phát sốt trước, quyết lãnh sau, quyết sâu thì sốt cao, quyết nhẹ thì sốt cũng nhẹ, chứng quyết nên công hạ. Phân tích thấy rằng Tứ nghịch cần phân rõ hư thực, nếu thuộc hư, bất luận là dương hư, khí hư, đều không thể dùng phép tả hạ, vì “Hư gia diệc nhiên” (虚家亦然) người có tố chất hư nhược cũng vậy; Nếu thuộc thực chứng, “nhiệt thâm giả, quyết diệc thâm”,( 热深者,厥亦深) nhiệt xâm nhập càng sâu thì chứng quyết càng nghiêm trọng “Quyết ứng hạ chi” (厥应下之)chứng quyết này nên dùng phép công hạ.
331 伤寒先厥,后发热而利者,必自止。见厥复利。 C345
331 Thương hàn tiên quyết, hậu phát nhiệt nhi lợi giả, tất tự chỉ. Kiến quyết phục lợi. C345
Điều văn này trình bày sự quan hệ giữa quyết nhiệt và hạ lợi.
“Thương hàn” là nói rõ nguồn gốc của bệnh. “Tiên quyết”, đầu tiên xuất hiện thủ túc quyết nghịch của quyết âm hàn chứng, “hậu phát nhiệt”(后发热),sau đó lại phát nhiệt là do dương khí của quyết âm trở lại.
“Nhi lợi giả, tất tự chỉ” (而利者,必自止) Khi quyết lãnh có hạ lợi, đây là câu nói ngược, hiện tại lại phát nhiệt, là dương khí đã khôi phục, lúc này âm hàn thoái lui, chứng hạ lợi tất nhiên “Tự chỉ” (ngừng lại). Quyết lãnh và hạ lợi đại biểu cho hàn, phát nhiệt đại biểu cho dương nhiệt. Có quyết lãnh, hạ lợi thì không có phát nhiệt; Có phát nhiệt thì sẽ không có quyết lợi (quyết lãnh, hạ lợi) là chân tay lạnh, tiết tả.
“Kiến quyết phục lợi”, (见厥复利) thấy chứng quyết là thấy hạ lợi, chứng quyết lãnh và chứng hạ lợi là nhất trí (là cùng đến, là nhịp nhàng), nếu âm dương tiêu trưởng tiến thoái, sau khi phát nhiệt mà âm tà còn chiếm địa vị chủ đạo, thì sẽ lại xuất hiện tay chân quyết lãnh, tiết tả.
Chúng ta gọi hiện tượng, quyết, phát nhiệt, rồi lại quyết, lại hạ lợi như vậy là quyết nhiệt thắng phục*, âm dương tiêu trưởng, âm dương tiến thoái. Người viết chưa từng gặp bệnh như vậy trên lâm sàng. Ở đây là Trương Trọng Cảnh thông qua lý thuyết, phản ảnh quan hệ dài ngắn, lớn nhỏ của hàn nhiệt tiêu trưởng mà thôi. Trong phương dược các lão sư cho rằng có trường hợp dựa theo phương dược để nói về chứng, có khi dựa theo chứng để nói về phương dược, có khi lại dựa theo mạch để nói về chứng. Bài này trình bày về bệnh lý và quan hệ âm dương tiêu trưởng của hội chứng.
332 伤寒始发热,六日,厥反九日而利。凡厥利者,当不能食,今反能食者,恐为除中,食以索饼,不发热者,知胃气尚在,必愈,恐暴热来出而复去也。后三日脉之,其热续在者,期之旦日夜半愈。所以然者,本发热六日,厥反九日,复发热三日,并前六日,亦为九日,与厥相应,故期之旦日夜半愈。后三日脉之而脉数,其热不罢者,此为热气有余,必发痈脓也。 C346
332 Thương hàn thuỷ phát nhiệt, lục nhật, quyết phản cửu nhật nhi lợi. Phàm quyết lợi giả, đương bất năng thực, kim phản năng thực giả, khủng vi trừ trung, thực dĩ tác bính, bất phát nhiệt giả, tri vị khí thượng tại, tất dũ, khủng bạo nhiệt lai xuất nhi phục khứ dã. Hậu tam nhật mạch chi, kỳ nhiệt tục tại giả, kỳ chi đán nhật dạ bán dũ. Sở dĩ nhiên giả, bản phát nhiệt lục nhật, quyết phản cửu nhật, phục phát nhiệt tam nhật, tính tiền lục nhật, diệc vi cửu nhật, dữ quyết tương ứng, cố kỳ chi đán nhật dạ bán dũ. Hậu tam nhật mạch chi nhi mạch sác, kỳ nhiệt bất bãi giả, thử vi nhiệt khí hữu dư, tất phát ung nùng dã. C346
Điều văn này trình bày phương pháp phán đoán sự tiến thoái của bệnh quyết nhiệt thắng phục* và biện chứng trừ trung (giảm vị khí).
Bệnh do thương hàn, bắt đầu phát sốt 6 ngày, sau đó tay chân quyết lãnh (lạnh quá khuỷu, gối) 9 ngày, trong thời gian quyết lãnh bệnh nhân còn tiêu chảy (hạ lợi). Trương Trọng Cảnh đưa ra được 2 phương diện âm và dương, phát nhiệt đại biểu cho dương, đã 6 ngày; Tay chân quyết lãnh kèm theo tiêu chảy là đại biểu âm, đã 9 ngày. Chứng quyết nhiều hơn chứng nhiệt 3 ngày. “Phàm quyết lợi giả, đương bất năng thực” (凡厥利者,当不能食。) Phần nhiều bệnh nhân tay chân quyết lãnh còn thêm chứng tiêu chảy là bên trong hư có hàn, nên không thể ăn uống.
“Kim phản năng thực giả” (今反能食者) bây giờ lại ăn được, đó là “Khủng vi trừ trung” (恐为除中). “Trừ trung” là một danh từ của cổ nhân, trung chính là vị khí, trừ là giảm. Con người trước khi chết, khi vị khí sắp kết thúc, đều nghĩ đến ăn một thứ gì đó, hiện tượng này gọi là trừ trung. Người bệnh này quyết lợi (quyết lãnh, hạ lợi) tay chân quyết lãnh lại hạ lợi, còn nghĩ đến ăn gì đó, phải chăng đây là chứng trừ trung? “Khủng vi trừ trung ” (恐为除中) e rằng đó là trừ trung, không thể biết được chuẩn mực của chứng trừ trung, sau đó người xưa đã nghĩ ra một cách, “Thực dĩ sách bính” (食以索饼) cho bn ăn mì sợi, người xưa dùng bột mì để làm bánh, tác bính là mì sợi, cho anh ta ăn mì sợi để biết có phải là chứng trừ trung hay không?.
“Bất phát nhiệt giả” (不发热者) , chữ “bất” này có lẽ là một chữ sai. Sau khi ăn hết mì sợi, người này không phát sốt, “tri vị khí thượng tại” (知胃气尚在) là biểu hiện của vị khí còn tồn tại và đây không phải là chứng trừ trung, “tất dũ”, là người này sẽ khỏi bệnh.
“Khủng bạo nhiệt lai xuất nhi phục khứ dã” (恐暴热来出而复去也) có ý là : Sợ rằng sau khi ăn mì sợi đột nhiên toàn thân nóng bừng, cơn nóng này đến và đi đều rất nhanh. Vì là bệnh trừ trung (vị khí sắp cạn kiệt), là hình tượng giả của vị khí hưng phấn, sau khi ăn mì thì xuất hiện toàn thân nóng bừng, sau cơn nóng thì thân thể quyết nghịch (lạnh lẽo), lúc này bệnh nhân tử vong. Đây gọi là Quỳnh hoa nhất hiện, phù dung sớm nở tối tàn, không bền vững. “Hậu tam nhật mạch chi” (后三日脉之), sau ba ngày lại thiết mạch, lại khám bệnh, “kỳ nhiệt tục tại giả” (其热续在者), còn tiếp tục phát nhiệt, từ đâu mà nói như vậy? Ở phần trước là không sốt, phần này là sốt liên tục thì không kết nối liên hệ với phần trước được.
Theo Vưu Di trong {Thương hàn quán châu tập} lấy chữ “bất” của “Bất phát nhiệt giả, tri vị khí thượng tại” (不发热者,知胃气尚在) sửa thành chữ “nhược” (若). Người viết cho rằng sửa như vậy là rất hợp lý. “Thực dĩ sách bính” (食以索饼) Cho người bệnh ăn mì sợi, “nhược phát nhiệt giả” (若发热者) nếu người này còn phát sốt là vị khí còn tồn tại, “tất dũ” (必愈)là sẽ khỏi bệnh, Nhưng “Khủng bạo nhiệt lai xuất nhi phục khứ dã” (恐暴热来出而复去也), nhưng chính là cái nhiệt này không kéo dài, nóng đột ngột, nóng kéo đến một chập rồi thôi, không kéo dài, đó là giả nhiệt, “hậu tam nhật mạch chi” (后三日脉之), đợi đến khi ăn xong, qua ba ngày, khi thiết mạch bệnh nhân, “kỳ nhiệt tục tại giả” (其热续在者) chứng phát nhiệt này vẫn còn tồn tại, không thể nói là bạo nhiệt đến mà lại đi, mà chính là liên tục tồn tại. “kỳ chi đán nhật dạ bán dũ” (期之旦日夜半愈) là nửa đêm mai khỏi bệnh, vì nửa đêm là thời gian khí Thiếu dương bắt đầu, dương khí sẽ khôi phục, vì thế nửa đêm ngày thứ hai, bệnh này sẽ khỏi.
“Sở dĩ nhiên giả” (所以然者) sở dĩ như vậy, Trương Trọng Cảnh giải thích, “bản phát nhiệt lục nhật, quyết phản cửu nhật” (本发热六日,厥反九日) phát nhiệt này kéo dài 6 ngày, thời gian quyết lãnh là 9 ngày, thời gian quyết nhiều hơn thời gian nhiệt là 3 ngày, sau khi ăn mì sợi, “phục phát nhiệt tam nhật, tính tiền lục nhật diệc vi cửu nhật” (复发热三日,并前六日亦为九日) lại phát nhiệt 3 ngày, cùng với phát nhiệt 6 ngày của lần trước cũng thành 9 ngày), đây cũng chẳng phải là 9 ngày sao? “Dữ quyết tương ứng” (与厥相应) số ngày phát sốt và quyết lãnh bằng nhau. Nhiệt và quyết phù hợp, không nhiều không ít, “cố kỳ chi đán nhật dạ bán dũ” (故期之旦日夜半愈), vì thế đây là nói về âm khí không có năng lực, dương khí đã khôi phục, đến nửa đêm ngày hôm sau, dương khí khôi phục, bệnh sẽ khỏi. “Hậu tam nhật mạch chi nhi mạch sác” (后三日脉之而脉数) sau ba ngày thiết mạch thấy mạch sác, là sau 9 ngày, mạch vẫn còn sác, “kỳ nhiệt hoàn bất bãi” (其热还不罢) là còn chưa hạ nhiệt, đây là dương khí trở lại thái quá, “thử vi nhiệt khí hữu dư” (此为热气有余), đây gọi là nhiệt khí có thừa. “Tất phát ung nùng dã” (必发痈脓也) tất sẽ phát mụn nhọt, vì nhiệt của kinh can đều ở huyết phận, can chủ huyết, vì thế nhiệt tại huyết phận nên dễ phát mụn nhọt. Bệnh đến giai đoạn Quyết âm, là chuyển hoá lưỡng cực, âm cực độ thì sinh dương, dương khí trở lại, vì thế đặc điểm phát bệnh có vấn đề của quyết nhiệt thắng phục*. Quyết (lãnh) đại biểu cho hàn, đại biểu cho dương khí bất lợi, vì thế chân tay quyết lãnh (lạnh quá khuỷu, quá gối) mà phân lỏng, những điều này là nhất trí (xảy ra nhịp nhàng). Nếu như bn phát nhiệt, đó chính là dương khí trở lại, âm hàn thoái lui, lúc này chứng tay chân lạnh (quyết nghịch) và chứng tiết tả phân lỏng cũng theo đó mà hết. Căn cứ theo y lý, trên lâm sàng chúng ta phải phân biệt so sánh cả hai thế lực quyết và nhiệt xem cái nào lớn cái nào mạnh. Trương Trọng Cảnh đã đưa ra một so sánh về thời gian và ngày tháng. Nếu quyết và nhiệt bằng nhau, và quyết hàn không thể tăng lên, bệnh sẽ được chữa khỏi.
Nếu vẫn không ổn định trong thời gian quyết nhiệt ngang bằng, quyết nghịch và tiết tả lại xuất hiện, bệnh sẽ không có biến chuyển tốt. Nếu nhiệt ít quyết nhiều, thì chẳng những bệnh không biến chuyển tốt mà ngược lại còn trầm trọng hơn, là quyết hàn chiếm ưu thế, chính khí không đầy đủ, đây là vấn đề thứ nhất cần phải nắm vững.
Vấn đề thứ hai cần nắm vững, là xét từ ăn uống và vị khí để kiểm nghiệm chính khí (năng lực kháng bệnh), tà khí của bệnh nhân. Vấn đề thứ ba, dương khí khôi phục là việc tốt, nhưng cũng có trường hợp khôi phục thái quá.
333伤寒脉迟,六七日,而反与黄芩汤彻其热。脉迟为寒,今与黄芩汤,复除其热,腹中应冷,当不能食;今反能食,此名除中,必死。 C347
333 Thương hàn mạch trì, lục thất nhật, nhi phản dữ Hoàng cầm thang triệt kỳ nhiệt. Mạch trì vi hàn, kim dữ Hoàng cầm thang, phục trừ kỳ nhiệt, phúc trung ứng lãnh, đương bất năng thực; Kim phản năng thực, thử danh trừ trung, tất tử. C347
Điều văn này trình bày nguyên tắc cấm dùng thuốc hàn lương và phân tích nguyên nhân biến thành “Trừ trung” (除中) giảm vị khí khi uống nhầm thuốc hàn lương của bệnh thương hàn mạch trì.
Trương Trọng Cảnh đề cử 1 trường hợp. “Thương hàn mạch trì” (伤寒脉迟) là mạch đập chậm, trì là chỉ về mạch hàn thấp, thuộc về mạch dương hư hữu hàn. Mạch trì chủ hàn, mạch sác chủ nhiệt. Mạch trì sẽ thấy đau bụng hạ lợi, “lục thất nhật” (sáu bảy ngày), đó là thời gian dương khí của tỳ vị hư tổn hơn, hàn tà càng nặng hơn, nên sử dụng loại hình Tứ nghịch để bổ dương chỉ tả. “Phản dĩ Hoàng cầm thang triệt kỳ nhiệt” (反以黄芩汤彻其热) lại dùng thang Hoàng cầm triệt bỏ nhiệt. Thày thuốc không cho đây là hàn tính, thuộc về hạ lợi của hội chứng thang Lý trung, của thang Tứ nghịch, mà sai lầm cho rằng đây là chứng hạ lợi của Thiếu dương Thái dương hợp bệnh, không sử dụng Tứ nghịch bối (Tứ nghịch loại: Thang Tứ nghịch, thang Lý trung…) Lại dùng thang Hoàng cầm để trừ thực nhiệt. Bệnh không có nhiệt, không có nhiệt để triệt, không có nhiệt để trừ, và tất nhiên khi uống thang Hoàng cầm thì dương khí của tỳ vị sẽ bị tổn hại. “Đương bất năng thực” (当不能食) Là đang không thể ăn. “Kim phản năng thực” (今反能食) nay lại có thể ăn , sau khi uống thang Hoàng cầm đúng ra là không thể ăn được, nhưng hiện tại ngược lại lại có thể ăn, đây không phải là một tình huống tương phản sao? “Thử danh trừ trung” (tên của nó là trừ trung) , hiện tượng này có tên gọi là trừ trung, là biểu hiện của vị khí sắp cạn kiệt, ăn uống để tự cứu, “tất tử” (必死) là chứng chết.
Đối với hàn chứng của tam âm, chúng ta không chỉ xem xét vấn đề của dương khí, còn cần phải xem xét các vấn đề của tỳ vị, của tiên thiên và hậu thiên. Vì vị khí là căn bản của con người, vị là bể chứa thuỷ cốc, có khả năng nuôi dưỡng tạng phủ khí huyết, vị khí suy bại, chính khí tán loạn, không tụ lại được, vì thế có vị khí là có thể sống, không có vị khí là chết. Vị khí là căn bản của con người, đề xuất tính trọng yếu của vị khí, vì vị chính là bình phong che chở của tam âm (ba kinh âm), là căn bản của hậu thiên, là nguồn cội của khí huyết, đây là ý tứ của tầng thứ nhất.
Những hiện tượng nhiệt xuất hiện ở hàn chứng hạ lợi thì đều là giả, không nên nhầm lẫn cho rằng đó là vần đề của dương chứng, mà lại có thể dùng thuốc hàn lãnh để gây tổn thương khí của tỳ vị, dẫn đến phát sinh trừ trung. Khi điều trị hàn chứng, không được dùng thuốc hàn lương vì sẽ gây tổn thương dương khí của tỳ vị, và sẽ để lại hậu quả khôn lường, và đây là tầng ý nghĩa thứ hai.
334 伤寒先厥后发热,下利必自止,而反汗出,咽中痛者,其喉为痹。发热无汗而利必自止,若不止,必便脓血。便脓血者,其喉不痹。 C348
334 Thương hàn tiên quyết hậu phát nhiệt, hạ lợi tất tự chỉ, nhi phản hãn xuất, yết trung thống giả, kỳ hầu vi tí. Phát nhiệt vô hãn nhi lợi tất tự chỉ, nhược bất chỉ, tất tiện nùng huyết. Tiện nùng huyết giả, kỳ hầu bất tí. C348
Điều văn này phân tích biến chứng do dương phục thái quá của thương hàn bệnh tiên quyết hậu nhiệt (quyết lãnh trước, phát nhiệt sau)
Điều văn này nên liên hệ kết hợp với điều văn kế bên trên để có thể hiểu rõ hơn. Quyết nhiệt thắng phục, dương khí khôi phục, là một việc tốt. Nhưng nếu như dương khí khôi phục thái quá, cũng sẽ phát sinh bệnh tật, ở những vị trí trên dưới khác nhau. Điều văn C346 “Kỳ nhiệt bất bãi, thử vi nhiệt khí hữu dư, tất phát ung nùng dã” (其热不罢者,此为热气有余,必发痈脓也) Nhiệt không ngừng lại, là nhiệt khí có thừa, tất sẽ phát ra mụn nhọt, mụn nhọt trên cơ thể. Điều văn này thuộc vị trí của bệnh ở trên hay ở dưới. Dương khí của Quyết âm bệnh chính là thái quá, tổn thương âm huyết, có thể xuất hiện toàn thân mụn nhọt, cũng có thể xuất hiện chứng đau họng, đại tiện có máu mủ. Thương hàn xuất hiện thủ túc quyết lãnh, đây là hàn chứng của Quyết âm. Làm thế nào để biết nó là chứng quyết nghịch của Quyết âm mà không phải là chứng quyết nghịch của Thiếu âm? Có thể biết, vì chứng quyết nghịch của Thiếu âm sau đó không tiếp tục phát sốt, chỉ có chứng quyết nghịch của Quyết âm là sau đó có phát sốt. Quyết âm là âm cực độ và dương bắt đầu, ở giữa thì thấy Thiếu dương, vì thế chứng quyết lãnh và chứng hạ lợi tất nhiên sẽ tự ngưng lại.
“Thương hàn tiên quyết” (伤寒先厥), quyết lãnh trước thì có chứng hạ lợi, “hậu phát nhiệt” (后发热), phát sốt sau thì chứng quyết cũng biến chuyển tốt, chứng hạ lợi cũng tự ngừng. “Nhi phản hãn xuất, yết trung thống giả, kỳ hầu vi tí” (而反汗出,咽中痛者,其喉为痹) mà nếu xuất mồ hôi, đau họng, là bị viêm họng, nếu như dương khí khôi phục thái quá, bức bách âm tiết ra ngoài, bn sẽ xuất mồ hôi.
Nếu tà dương nhiệt đi lên trên, thì “kỳ hầu vi tí” (其喉为痹). Hầu tí là tên một bệnh chứng của thời cổ đại, để chỉ cổ họng bị viêm. “phát nhiệt vô hãn, nhi lợi tất tự chỉ, nhược bất chỉ giả, tất tiện nùng huyết, tiện nùng huyết giả, kỳ hầu bất tí” (发热无汗,而利必自止,若不止者,必便脓血,便脓血者,其喉不痹) phát sốt không xuất mồ hôi, và tiết tả tự ngừng, nếu tiết tả không ngừng, tất đại tiện ra máu mủ, mà họng thì không viêm. Khi dương khí thái quá sẽ hướng lên trên, hướng ra ngoài, vì thế mà có xuất mồ hôi, có chứng hầu tí (viêm họng), đây là một loại chiều hướng. Còn có một loại chiều hướng là tuy phát sốt, nhưng không có mồ hôi, bệnh tà hướng xuống dưới, mà “Lợi tất tự chỉ” (利必自止)hạ lợi tự ngừng lại, chính là dương khí khôi phục và hàn tà thoái lui; Nếu hạ lợi vẫn không ngừng lại, tính chất này đã biến hoá, chứng hạ lợi trước là chứng hạ lợi hàn tính (tính chất lạnh), hiện tại là sau khi phát sốt chứng hạ lợi không cầm, dương nhiệt đi xuống dưới, vì thế “Tất tiện nùng huyết”. “Tiện nùng huyết giả, kỳ hầu bất tí” (便脓血者,其喉不痹), đại tiện ra máu mủ là nhiệt đi xuống dưới mà không đi lên trên, vì thế bộ phận yết hầu không phát sinh chứng hầu tí (viêm họng). Trên thực tế dương khí khôi phục trong bài văn này là một hiện tượng tốt, chứng quyết lãnh và chứng hạ lợi liền tự ngừng lại.
335 伤寒一二日,至四五日而厥者,必发热,前热者,后必厥,厥深者,热亦深,厥微者,热亦微,厥应下之,而反发汗者,必口伤烂赤。 C349
335 Thương hàn nhất nhị nhật, chí tứ ngũ nhật nhi quyết giả, tất phát nhiệt, tiền nhiệt giả, hậu tất quyết, quyết thâm giả, nhiệt diệc thâm, quyết vi giả, nhiệt diệc vi, quyết ứng hạ chi, nhi phản phát hãn giả, tất khẩu thương lan xích. C349
Điều văn này thảo luận về hội chứng và phương pháp điều trị chứng nhiệt quyết, suy đoán và cấm kỵ về tình trạng nặng nhẹ của bệnh.
Trên thực tế bài này bao gồm ôn bệnh của hậu thế, nguồn gốc của thương hàn là do bệnh ngoại cảm gây nên, từ 1,2 ngày đến 4,5 ngày “nhi quyết giả” (而厥者), xuất hiện tay chân quyết lãnh, “tất phát nhiệt” (必发热). Đây là một câu đảo trang* Chính ra câu văn phải viết “Thương hàn nhất nhị nhật chí tứ ngũ nhật” (伤寒一二日至四五日) thương hàn 1,2 ngày đến 4,5 ngày, thời gian này đã phát sốt, quyết lãnh là theo phát sốt mà có. “Tiền nhiệt giả, hậu tất quyết” (前热者,后必厥), trước tiên là phát nhiệt, sau đó xuất hiện quyết lãnh, nhiệt xuất hiện trước, quyết xuất hiện sau, đặc điểm của nó là toàn thân phát nhiệt, ngược lại tay chân lại lạnh (quyết lãnh), đây gọi là chứng nhiệt quyết.
“Quyết thâm giả, nhiệt diệc thâm, quyết vi giả, nhiệt diệc vi” (厥深者,热亦深,厥微者,热亦微)quyết càng sâu thì nhiệt cũng nặng, quyết nhẹ thì nhiệt cũng nhẹ, quyết và nhiệt trên tổng thể mức độ là đồng đều nhịp nhàng với nhau, thâm cũng là nặng, tay chân quyết lãnh càng sâu thì nhiệt cũng nặng; quyết nhẹ thì nhiệt cũng nhẹ, bên trong bao gồm hội chứng cũng bao gồm cả bệnh cơ, cả hai kèm theo nhau mà có.
Vì sao quyết nghịch lại xuất hiện sau cơn sốt? Vì sao nhiệt nặng thì quyết cũng sâu, quyết nặng thì nhiệt cũng nặng, quyết nhỏ yếu thì nhiệt cũng nhỏ yếu? Tại sao nó là nhiệt quyết? Đây là bệnh thuộc dương uất ở trong, dương khí và âm khí không nối tiếp nhau một cách thuận lợi (tương thuận tiếp), cũng có nhà chú giải cho rằng đây gọi là dương uất bức âm ra ngoài, dương khí càng uất tay chân càng quyết lãnh; Dương khí uất nhẹ đi một chút, thì tay chân quyết lãnh cũng nhẹ theo tương ứng, mức độ uất tích của dương nhiệt tỉ lệ với quyết nghịch.
Chứng quyết nghịch nên hạ, chứng nhiệt tính dương uất như vậy không nên hỏi đến trong quá trình điều trị, là chứng quyết nên dùng phép ôn? Nên dùng phép hạ? Đúng là không nên dùng thuốc ấm (ôn pháp) mà nên dùng phương pháp phá dương hành (thúc đẩy) âm, phá dương khí bế uất cực độ, khiến hai khí âm dương có thể hỗ tương duy trì, hỗ tương thông đạt, khiến âm dương hoà hợp. Dương khí đắc thân (duỗi ra) không bị bế uất, âm dương nhịp nhàng hài hoà, sức khoẻ được khôi phục và khỏi bệnh. Vì thế, theo trải nghiệm của người viết thì nên phá dương uất, sẽ sử dụng một số lương dược (vị thuốc mát) bao gồm phép tả hạ và phép khổ hàn thanh nhiệt. {Nội kinh} viết “Toan khổ dũng tiết vi âm” (酸苦涌泄为阴), vì thế nói theo nghĩa rộng thì các vị thuốc khổ hàn (đắng lạnh) đều có khả năng tả hạ. Các sản phẩm được gọi là thanh nhiệt không chỉ giới hạn ở các vị thuốc tả hạ như Đại hoàng, Mang tiêu.
“Nhi phản phát hãn giả” (而反发汗者), nếu như không sử dụng phép khổ hàn thanh nhiệt, ngược lại lại cho rằng phát sốt là thuộc biểu tà mà dùng các vị thuốc tân ôn phát hãn như Quế chi, Ma hoàng, việc phát hãn này không giải quyết được tình trạng bế uất của dương khí, ngược lại lại tăng thêm nhiệt tà, vì thế dương khí bị các vị thuốc tân ôn phát hãn biến thành nhiệt khí, nhiệt tà công kích lên trên và miệng bị lở loét. Chứng quyết này không phải là chứng quyết đã đề cập trước đây, chứng quyết này là chứng quyết nghịch sau khi phát sốt, dễ phạm sai lầm phát hãn. Nếu sử dụng nhầm hãn pháp, miệng sẽ bị lở loét.
Điểm thứ hai, chúng ta cùng trải nghiệm, ngay cả phát hãn là không thể, dùng thang Tứ nghịch có thể được không? Loại quyết này thuộc về nhiệt quyết, quyết nặng thì nhiệt cũng nặng, quyết nhẹ thì nhiệt cũng nhẹ, là do dương khí bị uất lại không thông suốt, chứng nhiệt quyết như vậy mà điều trị bằng thang Tứ nghịch là không được. Nếu dùng nhầm thì đó là càng hỗ trợ nhiệt, tay chân quyết nghịch càng tệ hại hơn, thậm chí xuất hiện các chứng trạng như tinh thần hôn ám, nói nhảm. Đã không thể sử dụng thuốc cay ấm để phát hãn, cũng không thể dùng thuốc hồi dương tân ôn (cay ấm), chứng quyết này được dùng phép tả hạ, nên dùng thuốc khổ hàn (đắng lạnh), nếu như đại tiện táo kết, còn được dùng một lượng nhỏ Đại hoàng, Mang tiêu, hoặc dùng thang Đại sài hồ. Khi lâm sàng, trước tiên đối với chứng quyết của tay chân quyết lãnh, cần phân biệt rõ là hàn quyết hay nhiệt quyết, đây chính là điều kiện tiên quyết của việc điều trị bệnh. Nói theo bệnh ngoại cảm, chứng nhiệt quyết thường phát sốt trước, quyết lãnh sau, đương nhiên móng tay của loại quyết này có màu hồng, chất lưỡi hồng, rêu lưỡi vàng, mạch cũng chính là thấy dương mạch mà không thấy âm mạch, có khi mạch dương uất cũng xuất hiện trầm, nhưng là mạch trầm có lực, hoặc trầm hoạt, trâm hoạt mà sác. Căn cứ thiệt chẩn, mạch chẩn, người bệnh còn có thể các hiện tượng nhiệt như tâm phiền, khát nước, táo bón, nước tiểu vàng đỏ. Chứng hàn quyết có những hiện tượng hàn như hạ lợi thực phẩm chưa tiêu hoá, hơi lạnh, mạch trầm vi, chất lưỡi nhạt, muốn ngủ. Chỉ khi phân biệt được là hàn quyết hay nhiệt quyết thì việc điều trị mới có cơ sở và không phạm sai lầm.
336 伤寒病,厥五日,热亦五日,设六日当复厥,不厥者,自愈。厥终不过五日,以热五日,故知自愈。C350
336 Thương hàn bệnh, quyết ngũ nhật, nhiệt diệc ngũ nhật, thiết lục nhật đương phục quyết, bất quyết giả, tự dũ. Quyết chung bất quá ngũ nhật, dĩ nhiệt ngũ nhật, cố tri tự dũ.C350
Điều văn này giảng về quan hệ thắng phục của quyết nhiệt. Nguồn gốc của thương hàn bệnh là quyết âm, vì quyết âm có hàn quyết và nhiệt quyết. Tay chân quyết nghịch 5 ngày, mà phát sốt cũng 5 ngày, “thiết lục nhật đương phục quyết”(设六日当复厥), thiết là giả thiết, giả như đến ngày thứ 6, nếu âm hàn mạnh, thì lại quyết lãnh trở lại; Nếu không quyết lãnh là bệnh tự khỏi. Vì, quyết cuối cùng cũng không vượt qua 5 ngày, với quyết nghịch 5 ngày, nhiệt cũng 5 ngày, quyết và nhiệt bằng nhau, âm khí đã thoái lui, hàn tà cũng thoái lui, dương khí khôi phục không thái quá, bệnh không điều trị cũng tự khỏi.
337凡厥者,阴阳气不相顺接,便为厥。厥者,手足逆冷是也。 C351
337 Phàm quyết giả, âm dương khí bất tương thuận tiếp. tiện vi quyết. Quyết giả, thủ túc nghịch lãnh thị dã. C351
Hai điều văn này chính là phân tích bệnh cơ (phát sinh, phát triển, biến hoá và kết cục) của chứng quyết lãnh.
Khí âm dương có thứ tự, nối tiếp nhau từng cái một, chúng có cơ sở vật chất. Xuất hiện tay chân quyết lãnh, khí âm dương không nối tiếp nhau thuận lợi thì đó là chứng quyết. “Phàm quyết giả” (凡厥者) là bao gồm các loại quyết như hàn quyết, nhiệt quyêt, âm quyết, dương quyết, khí uất quyết, chỉ cần tay chân lạnh quá khuỷu và gối (quyết lãnh), cho dù tính chất bệnh khác nhau, thì bệnh cơ vẫn là khí âm dương không nối tiếp nhau. Tại sao gọi là quyết? Quyết là “Thủ túc nghịch lãnh thị dã” (手足逆冷是也) là tay chân nghịch lãnh (lạnh ngược lên), không nối tiếp nhau gọi là nghịch, khí âm dương nghịch nhau, tay chân lạnh, vì thế nghịch là nói một cách tương đối.
Vì sao khí âm dương không nối tiếp nhau?Lấy nhiệt quyết để nói, là dương khí bị hãm vào trong mà không nối tiếp với âm. Lại lấy hàn quyết để làm thí dụ, hàn quyết chính là âm thịnh dương suy, dương khí không ra đến tứ chi, sự nối tiếp của khí âm dương thông qua 12 kinh mạch, đều hỗ tương nối tiếp, hỗ tương liên hệ ở tay chân. Nếu âm dương thiên thịnh thiên suy*, đó là âm dương không nối tiếp, hoặc là dương thịnh thì cản trở âm, hoặc âm thịnh cản trở dương, nên không thể khai thông, không thể nối tiếp, lúc này sẽ xuất hiện tay chân quyết lãnh (lạnh quá khuỷu, gối). Vì thế, nguồn gốc của bệnh tuy rất rộng, nhưng nói trên phương diện bệnh lý, chính là do khí huyết của thủ túc kinh lạc tam âm tam dương đã không nối tiếp với nhau mà thôi.
Đây chính là dùng đạo lý âm dương để tóm tắt bệnh lý phát sinh quyết nghịch. {Thương hàn luận} đối với âm dương có 3 tóm tắt cao độ: Thứ nhất là “Phát nhiệt ố hàn giả, phát vu dương dã; Vô nhiệt ố hàn, phát vu âm dã” (发热恶寒者,发于阳也;无热恶寒者,发于阴也) phát sốt ghét lạnh là bệnh phát ở dương, không phát sốt mà ghét lạnh là bệnh phát ở âm.
Thứ hai là, “Nhược phát hãn, nhược thổ, nhược hạ, nhược vong huyết vong tân dịch, âm dương tự hoà giả, tất tự dũ” (若发汗、若吐、若下、若亡血亡津液,阴阳自和者,必自愈)Bất kể là bệnh gì (trúng phong, thương hàn, mọi bệnh, là trị pháp gì (hãn, thổ, hạ) gây ra những tổn hại như vong huyết, vong tân dịch chỉ cần âm dương tự hoà là khỏi bệnh. Thứ ba là “Âm dương khí bất tương thuận tiếp, tiện vi quyết. Quyết giả, thủ túc nghịch lãnh thị dã” (阴阳气不相顺接,便为厥。厥者,手足逆冷是也) Khí âm dương không nối tiếp nhau thuận lợi là chứng quyết. Quyết là tay chân lạnh ngược lên (quá khuỷu, quá gối)
338 伤寒,脉微而厥,至七八日,肤冷,其人躁无暂安时者,此为藏厥,非为蛔厥也。蛔厥者其人当吐蛔。 今病者静,而复时烦,此为藏寒。蛔上入膈,故烦,须臾复止,得食而呕,又烦者,蛔闻食臭出,其人当自吐蛔。蛔厥者,乌梅丸主之。又主久利方。 C352
338 Thương hàn, mạch vi nhi quyết, chí thất bát nhật, phu lãnh, kỳ nhân táo vô tạm an thời giả, thử vi tạng quyết, phi vi hồi quyết dã. Hồi quyết giả kỳ nhân đương thổ hồi. Kim bệnh giả tĩnh, nhi phục thời phiền, thử vi tạng hàn. Hồi thượng nhập cách, cố phiền, tu du phục chỉ, đắc thực nhi ẩu, hựu phiền giả, hồi văn thực xú xuất, kỳ nhân đương tự thổ hồi. Hồi quyết giả, Ô mai hoàn chủ chi. Hựu chủ cửu lợi phương. C352
Phương Ô mai hoàn
Lục lạng Bá Sâm Quế Phụ Tân Hoàng liên nhất cân hàn nhiệt trình
Ô mai khổ tửu tí nhất túc Ngũ thăng mễ hạ khứ hạch chưng
Mễ mai dược mật xử vi hoàn Tiên thực ẩm phục cấm sinh lãnh
Ô mai 300 quả Tế tân 6 lạng Can khương 10 lạng Hoàng liên 1 cân Đương quy 4 lạng Phụ tử 6 lạng sao Độc tiêu 4 lạng, bỏ hạt Quế chi 6 lạng Nhân sâm 6 lạng Hoàng nghiệt 6 lạng, giã chung sàng hợp lại dùng, dùng rượu ngâm Ô mai 1 đêm, bỏ hạt, chưng 5 thăng gạo cho chín, giã thành như bùn, hoà vào thuốc, trộn với mật, viên thành hoàn bằng hạt ngô đồng, trước tiên uống 10 viên, ngày 3 lần, tăng dần lên 20 viên. Cấm ăn thực phẩm sống lạnh, nhờn và nặng mùi.
Điều văn này trình bày chứng trạng và phương pháp trị liệu bệnh hồi quyết (hồi là giun).
Ô mai hoàn là phương dược trị bệnh hồi quyết*. Để mọi người hiểu rõ hơn về bệnh hồi quyết, Trương Trọng Cảnh sử dụng phương pháp so sánh giữa tạng quyết và hồi quyết. Mở đầu là miêu tả bệnh tạng quyết của quyết âm và tiến hành phân biệt với bệnh hồi quyết.
“Thương hàn, mạch vi nhi quyết, chí thất bát nhật, phu lãnh, kỳ nhân táo vô tạm an thời giả, thử vi tàng quyết, phi vi hồi quyết dã” (伤寒,脉微而厥,至七八日肤冷,其人躁无暂安时,此为脏厥,非为蛔厥也), đây là một đoạn. Nguồn gốc của bệnh là thương hàn, “mạch vi nhi quyết” (脉微而厥) (mạch vi là biểu hiện của dương hư, quyết lãnh là biểu hiện của âm thịnh) là phản ảnh của dương hư mà âm thịnh, vì thế tay chân quyết lãnh. Sau 7,8 ngày, hàn tà tăng lên, dương khí càng thêm hư yếu suy thoái, không chỉ tay chân quyết lãnh mà tất cả da thịt cũng đều lạnh.
“Kỳ nhân táo vô tạm an thời” (其人躁无暂安时), táo là tự mình vội vàng bất an, “vô tạm an thời giả” (无暂安时者) là mức độ bất an không chỉ trong chốc lát. “Thử vi tạng quyết” (此为脏厥), đây là thuộc về tạng quyết của quyết âm, “Phi hồi quyết dã” (非蛔厥也)không phải bệnh hồi quyết. “Kỳ nhân đương thổ hồi”( 其人当吐蛔), trong bài này có hai chữ “Đương”, có hai cách nói có liên quan đến chữ “Đương” , một là dùng như chữ “thường” thường thường, người này không chỉ thổ ra giun từ khi bị bệnh, mà trước cũng thường thổ ra giun; Cách thứ hai là chữ “đương” có nghĩa như ứng đương (cần phải), xác định là bệnh hồi quyết thì người này cần phải thổ ra giun. Chứng quyết của hồi quyết khác với chứng quyết của tạng quyết, chứng quyết của tạng quyết chủ yếu là chứng quyết nghịch ở tay chân, chứng quyết của hồi quyết là chứng quyết của thổ nghịch, thổ ngược ra rất tệ hại. Ngoài ra, tay chân của chứng hồi quyết cũng quyết nghịch, nhưng không chắc chắn, không thường xuyên. Kết hợp với chứng giun ống mật của y học cận đại để xem xét, chứng hồi quyết đau tệ hại, chân tay quyết lãnh, nhưng chứng trạng chủ yếu là ẩu thổ.
“Linh bệnh giả tĩnh, nhi phục thời phiền, thử vi tạng hàn, hồi thượng nhập cách, cố phiền” (令病者静,而复时烦,此为脏寒,蛔上入膈,故烦).
“Linh” (令), chữ này được dùng trong {Ngọc hàm kinh}, chữ “Linh” cũng được dùng trong bản của họ Triệu.
Bệnh nhân có lúc vội vàng, có lúc an tĩnh, không cùng dạng với chứng không tạm thời an tĩnh của chứng tạng quyết. “Thử vi tạng hàn”, “tạng” ở đây là chỉ về dạ dày và ruột. Giun là một loại ký sinh trùng, có thói quen thích ấm áp và ghét lạnh, là tránh lạnh thích gần ấm nóng mà “thượng nhập cách, cố phiền” (lên hoành cách nên bực bội khó chịu. “Tu du phục chỉ”, “tu du” là một khoảng thời gian ngắn, một thời gian không lâu nó dừng lại và người bệnh sẽ không bực bội. “Đắc thực nhi ẩu, hựu phiền giả, hồi văn thực xú xuất” (得食而呕,又烦者,蛔闻食臭出), nếu như ăn vào lại ẩu thổ, lại xuất hiện bực bội bất an, đây chính là giun ngửi thấy mùi thực phẩm, lại tái hoạt động, vì thế “kỳ nhân đương tự thổ hồi” (其人当自吐蛔), người bệnh lại bực bội, lại ẩu thổ ra giun, lại buồn nôn.
Đối với chứng hồi quyết, cần sử dụng Ô mai hoàn để điều trị, đây là phương thuốc chủ trị bệnh cửu lợi (đi tả lâu ngày) .
Cửu lợi là chứng đi tả lâu ngày không khỏi. Ô mai hoàn gồm các thành phần Ô mai 300 quả, Tế tân 6 lạng, Can khương 10 lạng, Hoàng liên 1 cân, Đương quy 4 lạng, Phụ tử 6 lạng, Độc tiêu, Quế chi, Nhân sâm, Hoàng bá đều 6 lạng, tổng cộng là 10 vị. Phương này dùng Ô mai làm chủ dược nên gọi là Ô mai hoàn. Phương dược có hai tác dụng, một là trị chứng hàn nhiệt hỗn tạp của quyết âm bệnh, do dương khí của can bị ức uất đên một mức độ nhất định, uất tích mà phát các hội chứng của bài thứ nhất “Tiêu khát, khí thượng chàng tâm, tâm trung đông nhiệt” (消渴,气上撞心,心中疼热); Thứ hai là dùng điều trị chứng hồi quyết. Can thể âm nhi dụng dương*, can thể âm là chỉ về tạng can trữ tàng huyết dịch mà huyết là âm; Dụng dương là chỉ về tạng can chủ sơ tiết (điều tiết tinh thần và công năng hoạt động của các tạng khác), dưới sự ức chế của hàn tà, khí của mộc hoả bốc lên, bệnh phát gồm các hội chứng “Tiêu khát, khí thượng chàng tâm, tâm trung đông nhiệt” (消渴,气上撞心,心中疼热). Thể âm của can không đủ, vì thế dùng Ô mai vị chua nhập can, giữ gìn can âm, liễm khí của can; Đương quy ngọt nhuận có hương thơm nhẹ, có tác dụng bổ máu nuôi âm, cùng với vị Ô mai cùng có tác dụng dưỡng can âm, là bổ thực thể cho can. Hoàng liên, Hoàng bá vị đắng dùng để giúp can sơ tiết. Hoang liên, Hoàng bá đều là những vị thuốc đắng lạnh, có đủ khả năng tả hoả, có thể trị chứng “Khí thượng chàng tâm, tâm trung đông nhiệt” (khí bốc lên tim, tim đau và nóng), phép trị bệnh này và phép trị Thiếu âm bệnh không giống nhau. Thiếu âm bệnh dương hư tuyệt đối không sử dụng thuốc khổ hàn, Quyết âm bệnh thì có thể dùng, tại sao? Một là bệnh ở thận, một là bệnh ở can. Các vị thuốc như Phụ tử, Tế tân, Quế chi đều là thuốc cay ấm, sao Phụ tử có tác dụng bổ dương và giữ lại (bổ nhi hữu thủ), không như vị Phụ tử sống trong bổ có phát tán (bổ trung hữu phát). Quyết âm bệnh là dương khí hư tổn, Quế chi và Tế tân có tác dụng tán hàn, Phụ tử bổ dương, Quế chi, Tế tân tán hàn tà trong kinh lạc, Nhân sâm bổ trung ích khí. Quyết âm bệnh là một chứng hàn nhiệt hỗn hợp, trọng điểm ở kinh Can, vì thế gia thêm một vài vị thuốc nóng, thuốc bổ dương, tán hàn, các vị thuốc đi kèm với nhau.
Trong bệnh của 5 kinh trước đây, từ kinh Thái dương đến kinh Thiếu âm, Dược lý đều không có vị Đương quy
Chỉ khi đến kinh Quyết âm, trong Ô mai hoàn mới có vị Đương quy, ở phần dưới có vị Đương quy trong thang Tứ nghịch gia Đương quy. Đây không phải là hiện tượng ngẫu nhiên. Vì vị Đương quy ngọt nhuận (ướt), có mùi thơm nhẹ, có khả năng dưỡng huyết, nhập vào gan, vì thế chỉ khi đến quyết âm can kinh thì mới có chứng và vị thuốc này.
Người viết cho rằng uống Ô mai hoàn không chỉ đơn thuần là tẩy giun, xổ giun mà còn có thể diệt giun đũa. Độc tiêu và Tế tân đóng vai trò đáng kể trong việc tiêu diệt côn trùng nhờ tác dụng làm tê liệt, không chỉ giun đũa mà cả những con rết bò trên mặt đất cũng rất hiệu quả. Nghe nói y học Trung Quốc có một số bài thuốc cấp cứu, ví dụ rắn vào miệng, đuôi ở ngoài không rút ra được, bèn khoét một lỗ trên đuôi rắn, rắc bột hoa tiêu vào. Hoặc nhét hạt hoa tiêu vào lỗ đã khoét, và con rắn rút đi. Sau khi mua được Nhân sâm tốt để giữ cho sâm không bị hư mọt, người ta hun Nhân sâm bằng Lưu hoàng sau đó để vào hộp kín chung quanh để thêm vị Tế tân, làm như thế vào mùa hè Nhân sâm không bị mọt. Hiện nay Trung Tây y kết hợp dùng Ô mai hoàn không phức tạp như vậy, phần lớn người ta chi dùng 4 vị gồm Ô mai, Hoàng liên, Xuyên tiêu, Cam thảo để trị giun ở ống mật, hiệu quả rất tốt.
“Thượng thập vị, dị đảo sư, hợp trị chi, dĩ khổ tửu tứ ô mai nhất túc” (上十味,异捣筛,合治之,以苦酒渍乌梅一宿), khổ tửu là giấm, dùng khổ tửu ngâm Ô mai 1 đêm. Tại sao phải dùng khổ tửu?
Vì Ô mai là một loại quả khô có hạt, vì thế cần phải ngâm ô mai vào giấm thì thịt ô mai sẽ tróc ra để có thể bỏ hạt. “Chưng chi ngũ thăng mễ hạ”( 蒸之五升米下) Hấp 5 thăng gạo, chín thành cơm, trộn cơm chung với thuốc giã nhuyễn như bùn, vì thế trong hoàn Ô mai có cơm. “Hoà dược linh tương đắc, nội cữu trung, dữ mật” (和药令相得,内臼中,与蜜)cho thuốc vào cối với mật, giã 3000 chày làm viên bằng hạt ngô đồng, uống trước ăn, bụng trống uống 10 viên, ngày 3 lần, tăng dần lên 20 hoàn, cấm ăn thực phẩm sống lạnh, mỡ màng, nặng mùi… Người xưa cho rằng, vì có giun đũa nên phải dùng cơm và mật ngọt để dụ và diệt chúng. Cơm có thể hoà trung dưỡng vị khí. Ô mai hoàn điều trị rất tốt chứng hàn nhiệt hỗn tạp của Quyết âm bệnh, điều hoà chỉnh lý can vị bất hoà. Hiệu quả cũng rất tốt, thường dùng để trị chứng ẩu thổ, đau dạ dày, hạ lợi do can vị bất hoà gây ra.
Ô mai hoàn laij chủ trị chứng cửu lỵ (kiết lỵ lâu ngày), Ô mai hoàn lại có tác dụng toan liễm, lại có thêm Phụ tử, Nhân sâm, vì thế các chứng như kiết lỵ lâu ngày không khỏi, hàn nhiệt hỗn tạp, tạng phủ lạnh ấm, hạ tiêu không ước thích (chắc chắn) đều thích hợp sử dụng Ô mai hoàn.
Tạng quyết là nói về chứng tạng hàn của Quyết âm, dương khí sắp mất, vì thế mạch vi, quyết lãnh, thậm chí da thịt lạnh lẽo, vật vã mà không bực bội “hữu táo vô phiền” (有躁而无烦) đây là bệnh cực kỳ nguy hiểm.
Hồi quyết cũng bực bội, nhưng chính là có lúc bực bội có lúc không, hồi quyết tay chân bệnh nhân cũng lạnh, nhưng không nghiêm trọng, chủ yếu là bệnh nhân ẩu thổ, hoặc nôn ra giun, đồng thời bệnh nhân có đặc điểm là khi ăn chút gì đó, “Hồi văn thực xú xuất, kỳ nhân đương tự thổ hồi” (蛔闻食臭出,其人当自吐蛔) Giun ngửi thấy mùi hôi thức ăn bò ra, bệnh nhân thường thổ ra giun, {Thương Hàn Luận} “Hồi văn thực xú xuất” (蛔闻食臭出) Giun ngửi mùi thực phẩm bò ra, câu thoại này tạo điều kiện cho hậu thế dùng làm phương pháp điều trị bệnh giun, Ví dụ, một số loại thuốc trị giun đũa trong “Phổ Tế Phương” được uống kèm với thịt thủ lợn, có khi là một số trái cây, và một chút dầu mè, để “làm theo ý thích của giun” là mồi để giun có thể ăn thuốc.
Trong {Nho Môn Sự Thân}có một y án, nói về nông thôn đánh chó dại, não của chó dại văng lên ngọn cây, lúc này thời tiết rất nóng bức, có một phụ nữ bị bệnh ký sinh trùng đi ngang để về nhà mẹ ruột, các con trùng trong ngươi phụ nữ này xôn xao và người phụ nữ này đi tới đi lui, và đến sát cái cây có não của chó dại, não chó dưới nắng nóng bốc mùi, người phụ nữ ngửi rất khó chịu chóng mặt ngã ra, cô có cảm giác như có vật bò lên, gọi là “Hồi văn thực xú xuất” (蛔闻食臭出) Giun ngửi thấy mùi thực phẩm thì bò ra, một con giun bò ra, theo ghi chép lại thì con giun có màu hồng, nó tiến nhanh về hướng có não chó dại, người phụ nữ nhanh chóng giẫm chết con trùng.
Có rất nhiều ghi chép như vậy, và các phương pháp điều trị của người xưa rất phong phú và nhiều màu sắc.
Trường Xuân