Từ điều 281 đến điều 296 (C295-C310)
Biện mạch chứng và điều trị bệnh ở kinh Thiếu âm
[Khái thuyết]
Thiên Thiếu âm trong bệnh của ba kinh âm có một vị trí rất quan trọng, vì bên ngoài nó có các chứng trạng hạ lợi của Thái âm bệnh, bên trong có thể hợp với các chứng trạng tay chân quyết lãnh của Quyết âm bệnh, bệnh của kinh Thiếu âm có thể đại biểu cho 3 kinh âm. Vì thế: “Học thương hàn, Thái dương bệnh thiên ứng học hảo; Tam âm thiên, ứng cai tương Thiếu âm thiên học hảo ” (学伤寒,太阳病篇应学好;三阴篇,应该将少阴篇学好.) Học Thương hàn luận, nên học thật tốt thiên Thái dương bệnh; Ba kinh âm nên học thật tốt thiên Thiếu âm) Thái dương và Thiếu âm, một kinh dương, một kinh âm, là hai kinh trọng yếu trong biện chứng lục kinh, rất có tính đại biểu.
Túc thiếu âm thận là tạng của thuỷ hoả. Thuỷ là âm, hoả là dương, vì thế thận là căn bản của âm dương, là nơi liên hệ với khí của tiên thiên. Trung y giảng về tiên thiên và hậu thiên, tiên thiên giảng âm dương, hậu thiên giảng khí huyết. Tiên thiên nhận từ cha mẹ, hậu thiên nhận từ thuỷ cốc (ẩm thực). Nếu như tà khí khách vu (ở nhờ) thiếu âm, thận khí sẽ bị tổn thương, sẽ xuất hiện âm dương không thăng bằng, sản sinh hội chứng hàn của dương hư hoặc hội chứng nhiệt của âm hư, một khi bệnh phát triển, khả năng sẽ xuất hiện âm dương li quyết (rời nhau). “Âm dương li quyết, tinh khí nãi tuyệt” (阴阳离决,精气乃绝) Âm dương rời nhau, tinh khí sẽ hết) Khi đó sự sống của cơ thể sẽ nguy hiểm. Vì thế Thiếu âm bệnh có tiên lượng không tốt là chứng chết (những chứng trạng của sự sống không khôi phục).
Bệnh của kinh Thiếu âm cũng có hai loại: Nguyên phát và kế phát, bệnh nguyên phát thường thấy ở người cao tuổi, hoặc là dương hư yếu, sau khi bị cảm hàn có thể trực trúng (trúng trực tiếp) vào kinh Thiếu âm, hoặc do ngộ hạ, ngộ trị dùng lương dược (do hạ nhầm, trị nhầm bằng vị thuốc mát lạnh) gây tổn thương dương khí của Thiếu âm. Người xưa nói: “Lão phạ thương hàn, thiểu phạ lao” (老怕伤寒少怕痨) Già sợ thương hàn, trẻ sợ lao.
Tại sao người lớn tuổi sợ thương hàn? Vì người già dương hư, hàn tà gây tổn thương dương, bệnh dễ trúng thẳng vào kinh Thiếu âm. Đây chính là Thiếu âm bệnh nguyên phát. Thiếu âm bệnh kế phát, một là do bệnh ở kinh Thái âm truyền vào, tỉ như bệnh tiết tả của Thái âm, đến một mức độ nhất định sau đó sẽ truyền vào Thiếu âm, chứng tiết tả của trung tiêu có thể biến thành chứng hư hàn của hạ tiêu. Thái âm là bình phong che chắn của ba kinh âm. Nếu khí của tỳ vị mạnh mẽ, sau khi cảm bệnh tà sẽ không phát sinh âm chứng, mà chỉ đột phá bình phong như hạ lỵ, ẩu thổ, sau khi tỳ vị hư hàn sẽ xuất hiện Thiếu âm bệnh, Quyết âm bệnh. Một là do ngộ trị, sử dụng thuốc đắng lạnh, thuốc phát hãn gây tổn thương âm dương của kinh Thiếu âm, nhất là dương khí của Thiếu âm, sẽ xuất hiện Thiếu âm bệnh. Còn có Thiếu âm bệnh chính là từ Thái dương truyền vào, vì hai kinh Thái dương và Thiếu âm có quan hệ biểu lý, bàng quang và thận có liên hệ hỗ tương, vì thế bệnh tà ở bàng quang có thể trực tiếp truyền vào Thiếu âm, đây chính là truyền từ biểu vào lý. Đương nhiên, loại tình huống thứ ba cũng chính là nguyên do bản thân dương khí của Thiếu âm hư hàn. Vì Thái dương và Thiếu âm là quan hệ âm dương biểu lý, thường khi bệnh tà xuất hiện tại kinh Thái dương là đã nối liền vào trong kinh Thiếu âm; Khi hàn trúng Thiếu âm, cũng có tình huống nối ra bên ngoài với Thái dương.
Thiếu âm bệnh dương hư, không thể ức chế thuỷ, khí không thể hoá thành tân dịch, sẽ xuất hiện các chứng trạng như tiểu tiện bất lợi, thuỷ khí lan tràn; Nếu là âm hư dương kháng, thuỷ suy hoả vượng, sẽ xuất hiện các chứng trạng tâm thận bất giao, tâm hoả gây bệnh, tâm phiền mất ngủ. Tại sao lại xuất hiện thuỷ chứng, hoả chứng? Điều này và Thiếu âm chủ thuỷ hoả không thể tách rời. Từ biện chứng lục kinh xem xét Thiếu âm bệnh, nói về hai phương diện âm dương, nhưng trọng điểm ở dương hư âm hàn chứng. Vì thế, đề cương của Thiếu âm bệnh chính là “Mạch vi tế, đãn dục mị” (脉微细,但欲寐) mạch vi tế, nhưng muốn ngủ, đã được dùng làm tiền đề (điều kiện đầu tiên).
Liên quan đến vấn đề tiên lượng của Thiếu âm bệnh. Nếu như Thiếu âm bệnh xuất hiện sợ lạnh, thân thể mỏi mệt hoặc hạ lợi mà chân tay ấm áp, hoặc giả phát sốt muốn bỏ bớt y phục là hiện tượng của dương khí khôi phục, đây là phản ảnh dương khí của Thiếu âm khôi phục, có thể cứu trị. Chân tay ấm áp, phát nhiệt, muốn bỏ chăn áo là hiện tượng tốt của âm khí thoái, dương khí khôi phục, chính là Thiếu âm bệnh thoái lui, mà không phải là bệnh tăng lên. Nếu Thiếu âm bệnh, thân thể bệnh nhân mỏi mệt, chân tay quyết lãnh (lạnh ngược đến khuỷu), hạ lợi, mạch bất chí (thốn, xích không đến quan (bộ), âm dương tuyệt), là tiên lượng xấu, đây là dấu hiệu của dương khí vong.
Phép điều trị bệnh ở kinh Thiếu âm: Chứng âm hàn chủ yếu là phù dương tiêu âm, ích hoả chi nguyên dĩ tiêu âm ế (che lấp)(益火之源以消阴翳)bổ dương để thoái âm, phương đại biểu là thang Tứ nghịch; Chứng Dương nhiệt chủ yếu dùng tư âm tiết hoả, tráng thuỷ chi chủ để chế dương quang (壮水之主以制阳光) Tư âm tráng thuỷ để ức chế dương kháng hoả thịnh, phương đại biểu là thang Hoàng liên A giao.
281少阴之为病,脉微细,但欲寐也。 C295
281 Thiếu âm chi vi bệnh, mạch vi tế, đãn dục mị dã. C295
Điều văn này là đề cương các hội chứng của bệnh ở kinh Thiếu âm, đề cương này có sự khác biệt với những đề cương của các kinh khác, không những đề xuất được hình tượng mạch của Thiếu âm bệnh, mà còn đề xuất một đặc điểm của tinh thần con người “đãn dục mị” (nhưng muốn ngủ ngon).
Túc thiếu âm là thận, thủ thiếu âm là tâm, Thiếu âm bị bệnh là thuộc chính khí hư tổn. Bệnh ở ba kinh âm chủ yếu là chính khí hư, bệnh ở ba kinh dương chủ yếu là tà khí thực. Chính khí hư khi liên quan đến Thiếu âm thì âm dương thuỷ hoả không đầy đủ, âm dương đều hư nên mạch vi tế. Mạch vi là dương hư, mạch tế là âm hư, vì mạch vi tế phản ảnh âm dương của Thiếu âm đều bị hư tổn, mà chủ yếu là dương hư. Gọi là “Đãn dục mị”, là chỉ về buồn ngủ, nhưng không thể ngủ rất ngon, ngủ rất sâu. Tại sao lại “Đãn dục mị”? Chú thích của Thành Vô Kỷ: “Vệ khí hành vu dương nhi ngộ, hành vu âm nhi mị”.( 卫气行于阳而寤,行于阴而寐) Vệ khí đi vào dương thì thức, đi vào âm thì ngủ. Người bình thường ban ngày làm việc, học tập thì thức, ban đêm ngủ thì ngủ ngon.
Tà khí truyền vào Thiếu âm, dương khí của Thiếu âm bị hư tổn, âm khí lại thịnh. Dương hư âm thịnh, thời gian vệ khí đi vào dương đạo là dài. Dương chủ mạnh mẽ, chủ sinh cơ (sức sống) của con người; Âm chủ về tiêu cực, chủ thuỵ miên (ngủ). Cho nên bệnh nhân không thể phấn chấn tinh thần, mà chỉ muốn ngủ.
“Đãn dục mị”(但欲寐) chỉ muốn ngủ, là hình dung đặc điểm dương hư âm thịnh của bệnh ở kinh Thiếu âm. Người ta giảng về tinh thần, thày thuốc giảng về tinh khí thần. Thận chủ tàng tinh, tâm chủ tàng thần. Tâm và thận tốt thì con người có tinh thần, sẽ khoẻ mạnh. Mà Thiếu âm bị bệnh, mạch vi tế, không có tinh hoa của thuỷ hoả, con người sẽ không có tinh thần. Ai cũng có kinh nghiệm là khi làm việc, học tập mệt mỏi bạn sẽ ngáp dài, cảm thấy mệt mỏi và muốn ngủ, tức là “Đãn dục mị”, đây là biểu hiện của việc quá mệt mỏi, làm việc quá sức của não bộ, là thể hiện tiết chế của tinh thần.
“Đãn dục mị” (但欲寐) chỉ muốn ngủ còn phản ảnh tình trạng âm dương không đầy đủ của Thiếu âm. Người lớn tuổi thường hay ngủ gật. Là do tuổi già, thận khí suy kém, âm dương đều đã hư yếu. “Đãn dục mị” chính là phản ảnh tinh lực không còn đầy đủ, nên thích ngủ, khác với giấc ngủ của người bình thường. Người bình thường sau khi ngủ, tinh thần được khôi phục, mà “Đãn dục mị” (Muốn ngủ ngon) không giải trừ được mỏi mệt. “Đãn dục mị” là dương hư âm thịnh, thuỷ hoả tinh khí không đầy đủ, chính là tình huống bệnh lý. Tại sao Trương Trọng Cảnh lại lấy “Đãn dục mị” (Chỉ muốn ngủ) làm đề cương cho Thiếu âm bệnh? Trên lâm sàng có thể thấy, những bệnh nhân “Đãn dục mị”, là biết đây chính là chứng trạng âm thịnh dương hư của Thiếu âm bệnh, thường gặp ở người lớn tuổi.
282 少阴病,欲吐不吐,心烦,但欲寐,五六日,自利而渴者,属少阴也,虚故引水自救。若小便色白者,少阴病形悉具。小便白者,以下焦虚有寒,不能制水,故令色白也。 C296
282 Thiếu âm bệnh, dục thổ bất thổ, tâm phiền, đãn dục mị, ngũ lục nhật, tự lợi nhi khát giả, thuộc Thiếu âm dã, hư cố dẫn thuỷ tự cầu. Nhược tiểu tiện sắc bạch giả, Thiếu âm bệnh hình tất cụ. Tiểu tiện bạch giả, dĩ hạ tiêu hư hữu hàn, bất năng chế thuỷ, cố linh sắc bạch dã. C296
Đây là bài thảo luận về hội chứng dương hư thuỷ hoả bất tế “不济” không thăng bằng của bệnh ở kinh Thiếu âm, từ đó có thể nhận ra tư tưởng biện chứng của Trương Trọng Cảnh.
Bệnh này đã giống nhiệt chứng lại giống hàn chứng, “dục thổ bất thổ, tâm phiền, tự lợi nhi khát” (欲吐不吐,心烦,自利而渴) buồn nôn mà không nôn, bực bội, tự tiết tả mà khát nước, rất giống nhiệt chứng, nhưng nó không phải là nhiệt chứng, chính là một chứng hư hàn của Thiếu âm bệnh. Phần cuối của bài văn với màu sắc nước tiểu được dùng để xác định hàn nhiệt, có tác dụng then chốt giải quyết dứt khoát đối với biện chứng hàn nhiệt. “tiểu tiện sắc bạch giả, Thiếu âm bệnh hình tất cụ” (小便色白者,少阴病形悉具). Với nước tiểu màu trắng là biết đây là hàn chứng của Thiếu âm bệnh. Thiếu âm không có lực đề kháng bệnh tà, xuất hiện tình hình, không cam chịu mà cũng không có năng lực kháng cự, thì sẽ “dục thổ bất thổ, thả tâm phiền” (欲吐不吐,且心烦)buồn nôn mà không nôn, và bực bội. “Đãn dục mị” (Chỉ muốn ngủ), những chứng trạng này phản ảnh được bản chất của bệnh ở kinh Thiếu âm. Dương khí hư, dùng âm khí, nhiều âm ít dương. Lúc này, có thể thấy chứng trạng chủ yếu của bệnh ở kinh Thiếu âm: “Thiếu âm chi vi bệnh, mạch vi tế, đãn dục mị dã” (少阴之为病,脉微细,但欲寐也) Bệnh ở kinh Thiếu âm, mạch vi tế (nhỏ bé) chỉ muốn ngủ.Thấy chủ chứng như vậy, dùng thang Tứ nghịch để ôn dương, phù dương để tiêu âm.
Trên lâm sàng thấy, “dục thổ bất thổ, tâm phiền, đãn dục mị” (欲吐不吐,心烦,但欲寐)Muốn thổ không thổ, bực bội, chỉ muốn ngủ, không rõ là âm hay dương, hàn hay nhiệt, vì thế không kịp thời điều trị, sẽ khiến bệnh bị trì hoãn dây dưa.
Khi mới bệnh, “dục thổ bất thổ, tâm phiền”, có nghĩa là chính khí còn lực đề kháng bệnh, đến 5,6 ngày, dương khí ngày càng hư tổn, hàn tà ngày càng thịnh, nên “Tự lợi nhi khát” (tiết tả mà khát nước). “Tự lợi” là chứng tiết tả tự phát, Thiếu âm có hàn, thì bên trong lạnh Thiếu âm hoả suy, hàn thịnh ở trong, xuất hiện tiết tả. Vì sao mà khát? Tiết tả tự phát mà không khát là thuộc Thái âm, tiết tả tự phát mà khát thì thuộc Thiếu âm. Thiếu âm chủ hạ tiêu, thận dương ở hạ tiêu, thận dương có tác dụng khí hoá (气的运行变化) vận hành biến hoá của khí, tân dịch, thận dương hư suy, không thể khí hoá tân dịch, khiến cho tân dịch bị thiếu hụt, phát sinh khát nước. Thiếu âm bệnh kéo dài 5,6 ngày, bệnh tà càng mạnh, Thiếu âm chính khí càng suy. Thận chủ thuỷ, tâm chủ hoả. Thiếu âm dương hư ở dưới, hoả không có dương để ấm áp, liền xuất hiện tiết tả.
Thận thuỷ không có dương khí để chưng hoá tân dịch, không thể thăng lên, liền xuất hiện khát nước, cần dùng nước để tự cứu, nước uống vào nhưng vì Thiếu âm dương hư không hoá được, nên không thể biến thành tân dịch bình thường.
Xét các chứng trạng như tâm phiền, miệng khát, tựa như có dương nhiệt, nhưng xét theo các chứng như tiết tả hạ lợi, muốn ngủ gật, người này lại có chứng trạng hư hàn. Trọng Cảnh đưa ra chứng trạng then chốt: Tiểu tiện có sắc trắng là đầy đủ hình dạng của bệnh ở kinh Thiếu âm. Phàm tiểu tiện không có màu vàng, màu đỏ, mà có màu trắng, là biểu hiện của Thiếu âm hư có hàn, không thể chế thuỷ. Bệnh này tiết tả, muốn ngủ gật, tiểu tiện sắc trắng, đây chính là Thiếu âm hàn chứng. Tâm phiền, buồn nôn mà không nôn, miệng khát, đều là Thiếu âm dương hư khí hoá không thuận lợi, Thiếu âm muốn đề kháng bệnh tà nhưng không có lực, ở đây thực tế là phản ảnh của Thiếu âm dương hư. Điều này đã được học ở điều C57: “Thương hàn, bất đại tiện lục thất nhật, đầu thống hữu nhiệt giả, dữ Thừa khí thang, kỳ tiểu tiện thanh giả, tri bất tại lý, nhưng tại biểu dã, đương tu phát hãn; Nhược đầu thống giả, tất nục, nghi Quế chi thang.” (伤寒,不大便六七日,头痛有热者,与承气汤,其小便清者,知不在里,仍在表也,当须发汗;若头痛者,必衄,宜桂枝汤) Chính là với màu nước tiểu trong để phân biểu chứng hay lý chứng. Ở bài này tiểu tiện trong, sắc trắng, thuộc Thiếu âm bệnh. Chúng ta dựa vào tiểu tiện có thể biện chứng, phân rõ biểu, lý, hàn, nhiệt. “Thập vấn ca” của Trương Cảnh Nhạc là hỏi về tình huống của đại tiểu tiện.
Bài C296 nói về bệnh của kinh Thiếu âm ở tình huống dương hư xuất hiện một số giả nhiệt, thực tế là không phải nhiệt. Bài C295 dựa theo mạch, dựa theo chứng để thuyết minh bệnh ở kinh Thiếu âm, bài C296 dựa theo hàn nhiệt để phân tích bệnh ở kinh Thiếu âm. Những điều này đều phản ảnh bản chất của Thiếu âm tạng hàn.
283 病人脉阴阳俱紧,反汗出者, 亡阳也,此属少阴,法当咽痛,而复吐利。 C297
283 Bệnh nhân mạch âm dương câu khẩn, phản hãn xuất giả, vong dương dã, thử thuộc Thiếu âm, pháp đương yết thống, nhi phục thổ lợi. C297
Điều văn này thảo luận về mạch chứng của hàn thịnh vong dương, nên xem xét kết hợp với thiên bệnh ở kinh Thái dương.
Thái dương với Thiếu âm là quan hệ biểu lý, môi hở răng lạnh. Kinh Thái dương thụ bệnh, mạch âm dương của bệnh nhân đều khẩn, mạch khẩn chủ về hàn chứng, về thực chứng. Mạch âm dương đều khẩn, cần phải không có mồ hôi. Thái dương bệnh không có mồ hôi mà suyễn, chủ yếu dùng thang Ma hoàng để điều trị bệnh. Nếu như lại xuất mồ hôi “Vong dương dã”, có hội chứng xuất mồ hôi, chính là do vong dương. Vong dương thuộc bệnh ở kinh Thiếu âm. Chính khí không hư tổn, tà khí lại thực, đây thuộc về bệnh ở kinh Thái dương. Trong Thiếu âm bệnh có dương hư âm thịnh vong dương, mạch trầm vi; Có hàn thịnh vong dương, mạch khẩn. Thái dương bị bệnh, Thiếu âm không có lực mà xuất mồ hôi, đó là bệnh tà của kinh Thái dương bay qua Thiếu âm. Thực chứng tại kinh Thái dương, hư chứng tại kinh Thiếu âm. Do đó có thể thấy, Ma hoàng thang chứng của {Thương hàn luận}, không những tà khí thực, Thiếu âm cũng không hư tổn, cho nên “Vô hãn nhi suyễn” (无汗而喘) không có mồ hôi mà suyễn. Nếu Thiếu âm đã hư tổn, thì sẽ “phản hãn xuất, vong dương dã” (反汗出,亡阳也)Lại xuất mồ hôi là vong dương, đây chính là bệnh ở kinh Thiếu âm. Kinh Thiếu âm thụ hàn tà gây đau họng, Tạng Thiếu âm thụ hàn tà lại thổ lợi (thổ tả). Đó là hàn tính dương hư vong dương, thấy mạch khẩn.
284少阴病,咳而下利谵语者,被火气劫故也,小便必难,以强责少阴汗也。 C298
285少阴病,脉细沉数,病为在里,不可发汗。C299
286 少阴病,脉微,不可发汗,亡阳故也。阳已虚,尺脉弱涩者,复不可下之。 C300
284 Thiếu âm bệnh, khái nhi hạ lợi chiêm ngữ giả, bị hoả khí kiếp cố dã, tiểu tiện tất nan, dĩ cường trách Thiếu âm hãn dã. C298
285 Thiếu âm bệnh, mạch tế trầm sác, bệnh vi tại lý, bất khả phát hãn. C299
286 Thiếu âm bệnh, mạch vi, bất khả phát hãn, vong dương cố dã. Dương dĩ hư, xích mạch nhược sáp giả, phục bất khả hạ chi. C300
Ba điều văn này là dựa theo các góc độ khác nhau để trình bày về những trường hợp Thiếu âm bệnh không thể phát hãn.
Trong Thiếu âm bệnh ho và tiết tả là thuộc về hàn chứng của kinh Thiếu âm , hàn tà nghịch lên thì ho, bệnh tà rót xuống thì tiết tả. Có nhà chú giải cho rằng, ho mà tiết tả là chứng trạng của thang Chân võ.
Xuất hiện bệnh nhân nói mê sảng là do thày thuốc dùng hoả khí kiếp hãn của Thiếu âm mà ra. Kiếp, là cưỡng bách phát hãn, dùng hoả cưỡng bách phát hãn, sẽ gây tổn thương âm của Thiếu âm, khiến tiểu tiện khó khăn. Hoả tà lưu lại bên trong, có thể khiến vị khô khan tổn thương tân dịch, xuất hiện bệnh nhân nói mê sảng là biểu hiện của hoả tà công kích ở bên trong. Những chứng trạng không tốt nêu trên, là do việc cưỡng bách mồ hôi của Thiếu âm gây ra. Âm dương của kinh Thiếu âm đều đã bị hư tổn, lại còn cưỡng bách phát hãn để tổn thương chính khí, sẽ gây ra những chứng trạng xấu (hoại chứng) vừa nêu. Thiếu âm bệnh là hàn chứng, khi xuất hiện ho và tiết tả, cũng không thể dùng hoả liệu (liệu pháp bằng lửa). Nếu dùng hoả liệu, tổn thương âm, tổn thương chính khí tân dịch, thì tiểu tiện sẽ khó khăn, hoả khí gây tổn thương nên bệnh nhân nói nhảm, bài văn cũng chỉ ra chính là “Cường trách Thiếu âm hãn dã.” (强责少阴汗也) Cưỡng cầu mồ hôi ở Thiếu âm.
Điều C299 chính là để so sánh với điều C300. Mạch tế trầm sác là âm hư.
Thiếu âm âm hư với dương hư đều không thể phát hãn. Vậy tại sao Thiếu âm bệnh bỏ phát hãn? Hàm ý của Trọng Cảnh là vì bệnh tại kinh Thiếu âm mà bên ngoài có liên quan đến kinh Thái dương, bệnh tại kinh Thái dương mà bên trong có liên quan đến kinh Thiếu âm, nếu bệnh ở kinhThiếu âm mà bên ngoài liên quan đến kinh Thái dương thì có thể có biểu chứng, thang Ma hoàng phụ tử tế tân, thang Ma hoàng phụ tử cam thảo đều có thể phát hãn, nếu bệnh ở kinh Thiếu âm đã thuyên giảm thì không dùng những phương phát hãn này, nếu phát hãn sẽ bị vong dương. Mạch trầm sác, âm khí của Thiếu âm đã hư tổn, nếu phát hãn sẽ làm cho tân dịch và âm bị tổn thương nhiều hơn. Vì thế, bài C299, bài C300 chính là xem xét dựa theo ngoài biểu có những chứng trạng có thể phát hãn, nhưng xét theo chính khí, xét theo Thiếu âm mà nói thì âm dương hư của kinh Thiếu âm là không thể phát hãn. Các thày thuốc hậu thế dùng thuốc tư âm trong phép phát hãn để giải biểu, phù trợ dương khí để giải biểu, chính là chiếu cố đến tình trạng hư tổn bên trong của kinh Thiếu âm. Vì thế, khi Thiếu âm bệnh mà âm dương đều hư tổn thì nhất thiết không thể phát hãn, nếu phát hãn thì dương khí bị diệt vong có thể dẫn đến chết người.
“Mạch tế trầm sác”, người viết dựa theo âm hư để giảng bài này, khác biệt với một số nhà chú giải.
Một số nhà chú giải cho rằng đây cũng chính là dương hư. Trong {Thương hàn luận} sự quan hệ giữa chính và tà, là một thày thuốc liệu có thể khứ trừ bệnh để tốt cho sức khoẻ. Nếu khứ trừ bệnh mà làm hại sức khoẻ thì Trương Trọng Cảnh không làm. Trừ khứ bệnh tà mà không gây tổn thương chính khí, chính là tinh thần xuyên suốt trong {Thương hàn luận}.
Căn bản của điều trị bệnh là phải bảo tồn chính khí, nếu không bảo tồn được chính khí thì không đạt được mục đích của điều trị bệnh.
Học {Thương hàn luận}, là phải tìm hiểu tư tưởng của nó để nâng cao sự hiểu biết của chúng ta. Ba bài vừa nêu rất có ý nghĩa trên lâm sàng, âm hư hoặc dương hư đều không thể phát hãn, và đây chính là lời cảnh báo của Trọng Cảnh gửi đến chúng ta.
287少阴病脉紧,至七八日,自下利,脉暴微,手足反温,脉紧反去者,为欲解也。虽烦下利,必自愈。 C301
287 Thiếu âm bệnh mạch khẩn, chí thất bát nhật, tự hạ lợi, mạch bạo vi, thủ túc phản ôn, mạch khẩn phản khứ giả, vi dục giải dã, tuy phiền hạ lợi, tất tự dũ. C301
Điều văn này phân tích mạch chứng của quá trình hàn bị trừ khứ, dương hồi phục và bệnh ở kinh Thiếu âm tự khỏi.
“Vô nhiệt ố hàn giả, phát vu âm dã.”(无热恶寒者,发于阴也.)Không sốt, ghét lạnh là bệnh phát ở âm. Ghét lạnh, chân tay lạnh, mạch khẩn, thuộc về hàn thực chứng của kinh Thiếu âm . Nếu như 7,8 ngày hàn tà bên trong đã suy yếu, công năng của chính khí đã thắng bệnh tà, sẽ xuất hiện hạ lợi tự phát, mạch từ khẩn biến thành mạch vi, có nghĩa là hàn tà không mạnh, tay chân đang quyết lãnh (lạnh đến khuỷu) chuyển thành ấm áp. Lúc này mạch không còn khẩn, là bệnh được giải trừ. Vì thế, tuy lúc này hạ lợi có kèm theo tâm phiền, nhưng dương khí có thể tranh đấu với hàn tà, hàn tà thuận theo phân ra ngoài. Đây là quá trình tự khỏi của bệnh ở kinh Thiếu âm. Nếu khi hàn tà chiếm thượng phong, ghét lạnh, tay chân quyết lãnh, mạch khẩn, lại xuất hiện mạch vi, tay châm ấm, hạ lợi, đây là biểu hiện bệnh biến chuyển tốt hơn. Do đó có thể thấy, quan hệ tiêu trưởng của chính khí với tà khí.
288 少阴病,下利,若利自止,恶寒而蜷卧,手足温者,可治。 C302
288 Thiếu âm bệnh, hạ lợi, nhược lợi tự chỉ, ố hàn nhi quyện ngoạ, thủ túc ôn giả, khả trị. C302
Bài này trình bày các chứng trạng có thể điều trị được của bệnh ở kinh Thiếu âm là dương khí trở lại khiến tay chân ấm áp.
Đây là một câu đảo trang (phép đảo, một hình thức tu từ), đúng ra nên viết “ Thiếu âm bệnh, hạ lợi, ố hàn nhi quyện ngoạ, nhược lợi tự chỉ, thủ túc ôn giả khả trị” (少阴病,下利,恶寒而蜷卧,若利自止,手足温者可治). Chứng hạ lợi của Thiếu âm bệnh là chứng hạ lợi do dương hư, dương hư âm thịnh nên bn ghét lạnh, quyện là cuộn khúc. Nằm co, có ý là dương khí toàn thân không còn, toàn là âm hàn, là chứng trạng của sự chết. Nếu như bên ngoài nằm co, bên trong hạ lợi, đây là biểu hiện dương khí của Thiếu âm sẽ tiêu vong, rất nguy hiểm. Nhưng nếu tay chân lại ấm áp, thì có thể điều trị. Tứ chi là căn bản của dương, nếu chân tay ấm áp, là biểu hiện của dương khí tồn tại, nên nhanh chóng dùng thang Tứ nghịch, thang Bạch thông để điều trị bệnh, vì bệnh này còn có thể điều trị. Vì thế, bài nay nói về Thiếu âm bệnh sợ vong dương.
289 少阴病,恶寒而蜷,时自烦,欲去衣被者可治。 C303
289 Thiếu âm bệnh, ố hàn nhi quyện, thời tự phiền, dục khứ y bị giả khả trị. C303
Bài này trình bày các chứng trạng khi dương khí trở lại như phiền nóng muốn bỏ mền áo, là những biểu hiện có thể điều trị của bệnh ở kinh Thiếu âm.
Bệnh ở kinh Thiếu âm ghét lạnh và nằm co người lại, là Thiếu âm bệnh dương hư nghiêm trọng. Nếu luôn luôn bực bội, muốn bỏ mền áo là biểu hiện của dương khí có thể trở lại, là chứng trạng có thể điều trị bệnh. Nếu tìm hiểu biện chứng, bệnh ở kinh Thiếu âm, ghét lạnh nằm co quắp, không bực bội, không muốn bỏ áo mền, lại hạ lợi, tay chân quyết lãnh, là biểu hiện của bệnh nghiêm trọng.
290少阴中风,脉阳微阴浮者,为欲愈。 C304
290 Thiếu âm trúng phong, mạch dương vi âm phù giả, vi dục dũ. C304
Bài này trình bày hội chứng sắp khỏi bệnh của Thiếu âm dựa theo hình tượng mạch.
Thiếu âm bị trúng phong tà, “mạch dương vi” là thốn mạch vi. Phong tà gây tổn thương kinh Thiếu âm, mạch thốn không nên vi, nên phù. Nếu mạch thốn vi, cho thấy kinh Thiếu âm trúng tà đã suy. “Âm phù” là mạch bộ xích là thấy dương mạch, là biểu hiện của dương khí trở lại, điều này cho thấy bệnh sẽ tốt lên. Đó là “Âm chứng nhi kiến dương mạch giả thuộc vu thuận” (阴证而见阳脉者属于顺) Âm chứng mà thấy dương mạch là thuận.
291少阴病欲解时,从子至寅上。 C305
291 Thiếu âm bệnh dục giải thời, tòng tý chí dần thượng. C305
Bài này phân tích thời gian thuận lợi để giải trừ bệnh ở kinh Thiếu âm.
Từ giờ Tý đến giờ Dần là dương khí đã thăng, mà Thiếu âm bệnh thích hợp với thế thăng trưởng của dương khí, điều này có tác dụng giúp đỡ đối với Thiếu âm hàn chứng. Vì thế, thời gian từ giờ Tý đến giờ Dần là thời gian thuận lợi để Thiếu âm bệnh được giải trừ.
Phần trên đã giới thiệu các vấn đề như tiên lượng, có thể trị, không thể trị của Thiếu âm bệnh, điểm then chốt là sự thịnh suy của dương khí. Dương khí khôi phục và tà khí thoái lui là bệnh có thể điều trị khỏi; Nếu tà khí mạnh, dương khí diệt vong thì bệnh nguy hiểm. Có thể do biện chứng thấy được sự quan hệ giữa dương khí với tà khí, phán đoán trên những chứng trạng cụ thể như tay chân ấm áp, tự ngừng hạ lợi v.v…
292 少阴病,吐利,手足不逆冷,反发热者,不死。脉不至者,灸少阴七壮。 C306
292 Thiếu âm bệnh, thổ lợi, thủ túc bất nghịch lãnh, phản phát nhiệt giả, bất tử. Mạch bất chí giả, cứu Thiếu âm thất tráng. C306
Điều văn này trình bày chứng trạng dương khí trở lại và tiên lượng của bệnh ở kinh Thiếu âm.
Bệnh ở kinh Thiếu âm là một bệnh nghiêm trọng, mà mấu chốt là sự tồn vong của dương khí. Dương khí tồn tại thì khỏi bệnh; Nếu Dương khí tiêu vong, thì tiên lượng bệnh không tốt. Việc phán đoán dương khí tồn vong phải căn cứ theo hội chứng khách quan. Thiếu âm bệnh thổ lợi (ẩu thổ và hạ lợi) là hội chứng hàn hoá của kinh Thiếu âm . Căn bản dương khí của lục phủ ngũ tạng đều ở thận, khi thận dương suy yếu, các tạng phủ đều lạnh (hàn). Chứng thổ lợi của lý hàn (lạnh bên trong), là do dương hư làm cho chân tay nghịch lãnh (lạnh đến khuỷu), nhưng “Nhược thủ túc bất nghịch lãnh, phản phát nhiệt” (若手足不逆冷,反发热) nếu chân tay không lạnh mà lại ấm áp, chân tay là gốc của dương, chân tay không nghịch lãnh (lạnh ngược lên) là biểu hiện của dương khí tồn tại, lại ấm áp là phản ảnh thân thể có mặt dương nhiệt tích cực, là Thiếu âm bệnh không chết (bất tử). Thiếu âm bệnh phát nhiệt lúc này nên phân tích một cách cụ thể: Có khi do dương khí chưa mất, cũng có trường hợp do hàn thịnh cách dương. Nếu phát nhiệt ở trường hợp sau là sự việc không tốt, đây là tình trạng âm thịnh vong dương. Hiện tại là tay chân không nghịch lãnh (lạnh ngược lên đến khuỷu), ngược lại lại phát nhiệt, đây là nhiệt có gốc, phân biệt với chứng âm thịnh cách dương, là chứng phát nhiệt do dương khí phù việt gây ra.
Kinh Thiếu âm hàn thịnh (quá lạnh) thổ tả (ẩu thổ hạ lợi) thì khí huyết tân dịch bị tổn thất rất lớn làm cho mạch bất chí (không đến) là tình trạng bệnh nghiêm trọng. Nhưng phải phân tích cụ thể về “mạch bất chí” (脉不至)
Mạch là phản ảnh động lực của sự sống, hiện mạch bất chí (không đến), là tình trạng bệnh nghiêm trọng. Nhưng “Mạch bất chí” nên phân tích cụ thể. Bài C312 “Thiếu âm bệnh, tứ nghịch ố hàn nhi thân quyện, mạch bất chí”, mạch bất chí là chứng nguy hiểm, là chân khí không thể tiếp tục, dương khí đã mất, là chứng chết. Nếu như bệnh nhân sau khi đột nhiên thổ lợi, mạch nhất thời không tiếp tục, mạch bất chí, thì đây không phải là do chân khí bị đứt đoạn, mà là tình trạng còn có thể cứu được. Lúc này, uống thuốc thì không kịp, nên cứu Thiếu âm 7 tráng. Dùng Ngải hoả cứu Thiếu âm huyệt đạo 7 tráng để phù trợ dương khí của Thiếu dương, thông huyết mạch Thiếu âm, trừ khứ tà khí của Thiếu âm. Nếu sau khi cứu đã xuất hiện mạch, thì có thể dùng thang Thông mạch tứ nghịch v.v… Sẽ khỏi bệnh; Nếu sau khi cứu một ngày một đêm mà mạch vẫn không đến, Trọng Cảnh cũng không còn phép gì khác. Cứu Thiếu âm 7 tráng là cứu các huyệt nào? Nên chiếu theo các huyệt để cứu của kinh Thiếu âm, mà nên cứu 7 tráng. Có nhà chú thích cho rằng cần cứu huyệt Thái khê. Trên lâm sàng khi thày thuốc bất ngờ gặp loại mạch này (bất chí mạch) thì không nên bó tay không có biện pháp, cần phải cứu huyệt, rồi cho bệnh nhân uống thang Thông mạch tứ nghịch v.v…Đây chính là loại bệnh âm dương li quyết (tách rời nhanh chóng) trọng yếu. “Âm bình dương bí, tinh thần nãi chí, âm dương ly quyết, tinh khí nãi tuyệt”(阴平阳秘,精神乃至,阴阳离决,精气乃绝) Âm bình dương bí, tinh thần sẽ đến, âm dương tách rời, tinh khí sẽ hết, vì thế phải điều trị tích cực, không nên coi thường.
(Âm và dương đối kháng, chế ước, bài xích (loại trừ) để đạt được sự thống nhất, thu được động thái thăng bằng tương đối giữa âm dương, cái đó gọi là “âm bình dương bí”)
293 少阴病,八九日,一身手足尽热者,以热在膀胱,必便血也。 C307
293 Thiếu âm bệnh, bát cửu nhật, nhất thân thủ túc tận nhiệt giả, dĩ nhiệt tại bàng quang, tất tiện huyết dã. C307
Điều văn này trình bày hội chứng do âm chuyển dương mà di chuyển nhiệt về bàng quang của bệnh ở kinh Thiếu âm.
Khi bệnh ở kinh Thiếu âm đã 8,9 ngày, là có thể thấy xuất hiện một biến hoá bệnh lý của Thiếu âm bệnh, một số vấn đề cụ thể có thể được phơi bày ra. Nếu bệnh ở kinh Thiếu âm luôn phát triển về phương diện âm hàn, sẽ xuất hiện hội chứng vong dương; Tay chân quyết nghịch (lạnh đến khuỷu), thổ tả, nằm co, đây chính là những biểu hiện hướng về phương diện phát triển hiểm ác của bệnh. Cũng có những trường hợp Thiếu âm bệnh sau 8,9 ngày, chính khí được khôi phục, bệnh phát triển theo hướng tích cực, trong đó một loại là từ tạng xuất sang phủ, từ âm xuất sang dương chuyển biến hoá nhiệt. Căn bản của Thiếu dương hàn chứng là cách dương*, toàn thân nóng nhưng tay chân lạnh, đây là chứng giả nhiệt. Nhưng Trọng Cảnh sợ mọi người nhầm với chứng Thiếu âm cách dương, mà viết “Nhất thân thủ túc tận nhiệt” (nóng tất cả người kể cả tay chân), có thể ngoại trừ chứng âm thịnh cách dương. “Nhất thân thủ túc tận nhiệt, dĩ nhiệt tại bàng quang” (一身手足尽热,以热在膀胱) nóng toàn thân kể cả chân tay, với nhiệt tại bàng quang, Trọng Cảnh chỉ ra rằng nhiệt đã từ Thiếu âm trở lại Thái dương.
Thái dương và Thiếu âm có quan hệ biểu lý, lúc này chính khí đã khôi phục, tà khí thoái lui, tà khí từ bên trong hướng ra bên ngoài, từ hàn hoá nhiệt, nhiệt đến bàng quang. Bệnh tà ở kinh Bàng quang, thì toàn thân và tay chân đều nóng, đây là hiện tượng tốt. Chuyển tà nhiệt của Thiếu âm đến bàng quang, tổn thương âm lạc dẫn đến đại tiện ra máu, tiểu tiện xuất ra từ bàng quang, thì đó là tiểu tiện và đại tiện ra máu (?) Các nhà chú giải có tranh biện ở vấn đề này. Phương Hữu Chấp với Du Gia Ngôn cho rằng đây chính là tiểu tiện đại tiện ra máu, nhưng có nhà chú giải cho rằng nhiệt ở bàng quang, tiện huyết có thể theo đại tiện ra ngoài. Đan Ba Nguyên nói một đơn giản: “Khủng vị tất tòng tiểu tiện xuất”(Sợ rằng không hẳn đã theo tiểu tiện xuất ra ngoài). Liên quan đến việc tiêu ra máu có hai loại ý kiến: Tiểu tiện ra máu hoặc đại tiện ra máu.
Chúng ta không thể kết luận đối với việc này, mà cần căn cứ theo lâm sàng để xác định. Những bệnh này sẽ điều trị như thế nào?
Đa số các nhà chú thích đều cho rằng dùng thang Trư linh trị liệu bệnh tiện huyết do nhiệt ở bàng quang. Thang Trư linh có thể thanh nhiệt tư âm cầm máu. Hai chứng phát nhiệt ở trên, một là “Thiếu âm bệnh, thổ lợi, thủ túc bất quyết lãnh, phản phát nhiệt gỉa” (少阴病,吐利,手足不厥冷,反发热者) Thiếu âm bệnh, thổ tả, tay chân quyết lãnh, lại phát sốt, hai là “Thiếu âm bệnh, bát cửu nhật, nhất thân thủ túc tận nhiệt giả, dĩ nhiệt tại bàng quang” (少阴病,八九日,一身手足尽热者,以热在膀胱) Thiếu âm bệnh, 8,9 ngày, toàn thân tay chân đều nóng, với nhiệt ở bàng quang, hai bài này đối chiếu hỗ tương, là Thiếu âm do hàn chuyển nhiệt, là chứng thuận, không phải là chứng nghịch. Có một bài xuất huyết ở phần sau, là bệnh khó trị.
294少阴病,但厥无汗,而强发之,必动其血,未知从何道出,或从口鼻,或从目出,是名下厥上竭,为难治。 C308
294 Thiếu âm bệnh. Đãn quyết vô hãn, nhi cường phát chi, tất động kỳ huyết, vị tri tòng hà đạo xuất, hoặc tòng khẩu tỵ, hoặc tòng mục xuất, thị danh hạ quyết thượng kiệt, vi nan trị. C308
Điều văn này trình bày chứng hạ quyết thượng kiệt là chứng khó trị của Thiếu âm bệnh. Chứng hàn hoá của Thiếu âm bệnh, tay chân quyết lãnh (lạnh ngược đến khuỷu tay, đến đầu gối), mà không có mồ hôi. Thiếu âm dương hư không có lực bốc hơi nên không có mồ hôi, nếu lúc này thày thuốc cưỡng bách phát hãn thì không chỉ tổn thương dương mà còn động huyết. Dương không nhiếp âm, huyết dịch vọng hành (đi sai đường), “Bất tri tòng hà đạo xuất, hoặc tòng khẩu tỵ, hoặc tòng mục xuất” (không biết đường nào ra, hoặc theo miệng mũi, hoặc ra theo mắt), chỉ có Thiếu âm sẽ xuất huyết như vậy. Âm dương của Thiếu âm đều hư tổn, nếu tái phát hãn, thì sẽ động huyết, huyết theo lên trên mà xuất ra ngoài. “Thị danh hạ quyết thượng kiệt, vi nan trị” (是名下厥上竭,为难治)chứng này có tên là hạ quyết thượng kiệt (dưới quyết lãnh, bên trên suy kiệt) là chứng khó chữa. Dương đã tuyệt ở dưới, âm lại suy kiệt ở trên, là hạ quyết thượng kiệt, là bệnh khó trị.
Năm 1963, khi người viết làm thực tập sinh ở Thái nguyên, có một lần hội chẩn một bệnh nhân viêm cầu thận mạn tính, đản bạch niệu, không nước tiểu, thường xuyên chảy máu mũi, lợm giọng, nôn ra máu, bàn tay, cánh tay, đùi, bàn chân và ống chân lạnh, phù toàn thân, mạch trầm như muốn mất mạch, chất lưỡi béo và lưỡi trắng. Đây chính là chứng hạ quyết thượng kiệt ở {Thương hàn luận}. Tay chân bệnh nhân lạnh, mạch trầm vi là dương khí hư, mũi chảy máu, là dương không nhiếp (giữ) huyết, là thượng kiệt. Tây y gọi đây là bệnh thận đến giai đoạn niệu độc chứng. Hạ quyết thượng kiệt trên lâm sàng có thể thấy ở chứng viêm thận và bần huyết có tính tái sinh chướng ngại, xuất huyết cũng có thể thấy ở xuất huyết toàn thân, sớm nhất có thể thấy ban ứ ở trên lưỡi. Khi chúng ta điều trị Thiếu âm bệnh nên có thái độ thật tích cực, tránh để bệnh phát triển đến giai đoạn này.
295 少阴病,恶寒身蜷而利,手足逆冷者,不治。 C309
295 Thiếu âm bệnh, ố hàn thân quyện nhi lợi, thủ túc nghịch lãnh giả, bất trị. C309
Điều văn này trình bày về thuần âm vô dương là hội chứng nghiêm trọng của bệnh ở kinh Thiếu âm.
Bài này nên so sánh với bài C302: “Thiếu âm bệnh, hạ lợi, nhược lợi tự chỉ, ố hàn nhi quyện ngoạ, thủ túc ôn giả khả trị” (少阴病,下利,若利自止,恶寒而蜷卧,手足温者可治) Thiếu âm bệnh, hạ lợi, nếu hạ lợi không ngừng, sợ lạnh nằm co, tay chân ấm áp có thể điều trị. So với,bệnh dương hư hàn chứng ở kinh Thiếu âm , ghét lạnh đến nỗi nằm co, hạ lợi đến tay chân lạnh ngược, là hình tượng của phái âm hàn, âm thịnh dương tuyệt, thuần vô dương, là chứng không thể điều trị.
296少阴病,吐利,躁烦,四逆者死。 C310
296 Thiếu âm bệnh, thổ lợi, táo phiền, tứ nghịch giả tử. C310
Điều văn này trình bày âm thịnh dương tuyệt là chứng chết của Thiếu âm bệnh.
Chứng dương hư của kinh Thiếu âm, bên trong hàn tà rất mạnh gây ra trên thổ dưới tả. Phiền là phiền trong tâm, là tinh thần, táo là chi thể không chịu được bực bội. Phiền táo thường chủ yếu là nhiệt, như chứng trạng của thang Bạch hổ, phản ảnh dương khí có thừa. Táo phiền với chủ yếu là chi thể táo động bất an, phản ảnh âm thịnh mà dương muốn tuyệt (hết). Âm dương đối lập nhưng thống nhất, âm với dương là phối ngẫu, nếu chỉ có âm mà không có phối ngẫu, thì sẽ dẫn đến dương thịnh mà phiền (phiền muộn) hoặc âm thịnh mà táo (vội vã). Thổ tả là dương hư bên trong lạnh (dương hư lý hàn), xuất hiện bực bội vội vã, là âm thịnh vô ngẫu. Tứ chi là căn bản của dương, tứ nghịch giả tử. Nếu đầu ngón tay lạnh, lòng bàn tay ấm, thì là nhiệt chứng. Nếu tay lạnh đến khuỷu, chân lạnh đến gối, là tứ nghịch, thì bệnh không trị được. Bài văn này là biện chứng âm thịnh mà dương tuyệt. Trên lâm sàng, bệnh nhân trước tiên xuất hiện tay chân quyết lãnh, sau đó xuất hiện bực bội vật vã, đó là dương khí có thể đấu tranh với âm, đó là hiện tượng tốt. Nếu đầu tiên là bực bội vật vã, sau đó xuất hiện tứ nghịch, đó là dương khí đã hết, chỉ còn âm khí, là bệnh không thể điều trị được là bệnh chết. Trên lâm sàng nên chú ý bệnh cơ, xem xét quan hệ của âm dương. Người viết trong thời gian công tác tại Thiên Đàn hoa bắc Nhân dân y viện khoa bệnh lao, quan sát thấy những bệnh nhân lao trước khi chết đứng ngồi không yên, rất vật vã. Vì thế bài văn này chính là có căn cứ lâm sàng.
*Cách dương. Chỉ về dương khí trong cơ thể hư tổn cực độ, dẫn đến khí âm hàn mạnh lên, đẩy dương ra bên ngoài, âm dương hàn nhiệt ngăn chống nhau, biểu hiện hội chứng bên trong hàn thật bên ngoài là giả nhiệt.
Lương y Trường Xuân