Thương hàn luận Từ điều 265 đến điều 272 (C278-C285)
265 伤寒,脉弦细,头痛发热者,属少阳。少阳不可发汗,发汗则谵语, 此属胃,胃和则愈,胃不和,则烦而悸。 C278
265 Thương hàn, mạch huyền tế, đầu thống phát nhiệt giả, thuộc Thiếu dương. Thiếu dương bất khả phát hãn, phát hãn tắc chiêm ngữ, thử thuộc vị, vị hoà tắc dũ, vị bất hoà, tắc phiền nhi quý. C278
Điều văn này thảo luận bổ túc mạch chứng của Thiếu dương bệnh, đồng thời chỉ ra những cấm kỵ trong điều trị Thiếu dương bệnh và những biến chứng sau khi ngộ hãn (phát hãn nhầm).
“Phiền nhi quý” chữ “quý悸”, có nhà chú giải nói rằng đó là chữ “táo躁”, phiền nhi táo, táo của phiền táo bất an, có lý do gì để nói như vậy? Đây chẳng phải Triệu bản chỉ nói về sự nôn nóng thôi sao? Rất nhiều nhà chú giải cho rằng chính là phiền nhi táo (bực bội mà nóng vội). Vì Dương minh vị bất hoà, vị khô (táo燥), vì thế nên phiền mà táo(躁), cũng có lý. Trọng điểm của điều này là bổ sung vấn đề mạch của Thiếu dương, ngoài ra còn là bổ sung Thiếu dương không chỉ không thể dùng phép thổ, phép hạ mà ngay cả phát hãn cũng không được dùng. Nếu như sai lầm mà phát hãn Thiếu dương, có thể xuất hiện Dương minh bệnh, xuất hiện Dương minh tân dịch bất hoà.
Thiếu dương bệnh có mạch huyền tế, như đã đề cập ở phần trước, không cụ thể, không đặc hiệu như Thái dương thì mạch phù, Dương minh thì mạch đại. Thiên Thái dương bệnh điều C156, “mạch tế giả, thử vi dương vi kết” (脉细者,此为阳微结), dương vi kết là thiếu dương, tôi giới thiệu vấn đề này với mọi người, giảng mạch tế này là mạch huyền tế, ở đây chỉ nói là mạch tế, không nói đến mạch huyền, nói “mạch tế giả, thử vi dương vi kết”( 脉细者,此为阳微结) mạch tế là dương kết nhẹ, đây chẳng phải cũng là điểm nói đến mạch tế huyền của Thiếu dương bệnh sao? Đã đề cập đến mạch tế rồi. Điều C105 cũng nói đến “Dương mạch sáp, âm mạch huyền, pháp đương phúc trung cấp thống, tiên dữ Tiểu kiến trung thang, bất sái giả, dữ Sài hồ thang”( 阳脉涩,阴脉弦,法当腹中急痛,先与小建中汤,不瘥者,与柴胡汤) dương mạch sáp, âm mạch huyền, phép trị chứng đau bụng cấp, đầu tiên dùng thang Lý trung, không khỏi dùng thang Sài hồ, chỉ ra rằng căn bản mạch của kinh Thiếu dương là mạch huyền. Điều C105 chính là giảng về mạch huyền, điều C156 là giảng về mạch tế, nhưng không giảng cụ thể về mạch huyền tế.
Hôm nay điều này “Thương hàn, mạch huyền tế, đầu thống phát nhiệt giả, thuộc Thiếu dương” (伤寒,脉弦细,头痛发热者,属少阳) , có nghĩa là gì? Người này bị bệnh thương hàn, ngoại cảm phong hàn, đau đầu , phát sốt, chẳng phải là Thái dương bệnh sao?, đau đầu, phát sốt chính là thương hàn, thương hàn đầu thống phát nhiệt chẳng phải là thuộc Thái dương bệnh sao? Hãy chẩn mạch cho anh ta, nếu thấy mạch phù thì thuộc Thái dương bệnh, mạch huyền tế, bản thân mạch huyền là có kèm theo tế, vì huyền có hình tượng nhỏ (tế) giống dây cung dây đàn, nếu lớn thô thì như dây thừng. Mạch khẩn giống như dây thừng, cho nên không xuất hiện mạch phù của Thái dương mà xuất hiện mạch huyền tế của Thiếu dương.
Bệnh này thuộc Thái dương hay thuộc Thiếu dương? Trương Trọng Cảnh cho rằng bệnh thuộc Thiếu dương, tại sao không gọi là Thiếu dương bệnh mà lại thêm chữ “thuộc”? Ở đây có ý nghĩa là tuy bệnh này là Thái dương bệnh, có chứng trạng đau đầu, phát nhiệt, nhưng đã thấy mạch huyền tế, là bệnh đã đến sát bên kinh Thiếu dương, nên không cần phải suy nghĩ đến Thái dương nữa. Tại sao? Thiếu dương có ý nghĩa như vậy, bất luận bệnh thuộc kinh nào, chỉ cần thấy mạch huyền hoặc giả xuất hiện hàn nhiệt vãng lai, ngực sườn trướng đầy, chỉ cần xuất hiện mạch chứng của Thiếu dương, thì nên suy nghĩ đến vấn đề của Thiếu dương. Tại sao? Nếu không suy nghĩ đến vấn đề của Thiếu dương, trong trị liệu không được phát hãn và thổ hạ, mà Thiếu dương bệnh thì cấm hãn, cấm thổ và cấm hạ, việc này rất dễ phát sinh sai lầm. Vì thế Trương tiên sinh đã chỉ ra một đạo lý, chỉ cần thấy mạch của kinh Thiếu dương là bệnh thuộc về Thiếu dương. Nếu như sai lầm mà phát hãn Thiếu dương bệnh, “tắc chiêm ngữ” (则谵语) là sẽ nói mê sảng, vì sao phát hãn lại khiến bệnh nhân nói mê sảng? Vì khi phát hãn sẽ làm tổn thương tân dịch của vị, khi vị dịch bị tổn thương thì vị bị khô (táo), vị táo nên vị khí bất hoà, cho nên “Thử thuộc vị”, là đã thuộc vị, nói mê sảng cũng thuộc chứng vị táo. “Vị hoà tắc dũ, vị bất hoà tắc phiền nhi quý” (胃和则愈, 胃不和则烦而悸), Nếu tân dịch của bệnh nhân khôi phục, tân dịch tự hồi phục, có thể điều tiết vị khí, bệnh cũng có thể biến chuyển tốt. Nếu như vị khí bất hoà, tân dịch không thể khôi phục, bệnh người này không thể biến chuyển tốt, không những bệnh nhân nói mê sảng, mà còn hồi hộp, hoảng hốt tim đập nhanh. Tại sao như vậy? Vì sau khi phát hãn nhầm đã gây tổn thương tân dịch, làm cho mức độ vị táo tăng lên (dạ dày bị khô hơn), cũng là tăng độ hư tổn của tân dịch, khi tân dịch bị hư tổn thì huyết dịch cũng bị hư tổn, vì thế nên bệnh nhân hoảng hốt, tim đập nhanh.Có nhà chú giải cho rằng đây chính là “Phiền nhi táo”( 躁 vội vã), thân thể vội vã không yên, đây chính là đặc điểm của Dương minh bệnh. Tất cả điều này đều có thể suy xét.
Hợp hai điều này lại để xem xét, “Thiếu dương bệnh bất khả dĩ thổ, thổ hạ tắc quý nhi kinh” (少阳病不可以吐,吐下则悸而惊)Thiếu dương bệnh không thể dùng phép thổ, thổ hạ bệnh nhân sẽ hồi hộp, sợ hãi, “Thiếu dương bất khả phát hãn, phát hãn tắc chiêm ngữ, tắc phiền nhi quý” (少阳不可发汗,发汗则谵语,则烦而悸) Thiếu dương bệnh không được phát hãn, nếu phát hãn bệnh sẽ bực bội, hồi hộp. Đây chính là cấm hãn, cấm thổ, cấm hạ của Thiếu dương bệnh. Nếu sử dụng sai lầm sẽ có hậu quả, hậu quả như thế nào? Một là chính khí thụ thương, hai là tà khí truyền biến. {Y Tông Kim Giám} khái quát nội dung {Thương Hàn Luận} bằng một số câu theo thể loại: “Thiếu dương tam cấm yếu tường minh, hãn chiêm thổ hạ quý nhi kinh”( 少阳三禁要详明,汗谵吐下悸而惊)Ba điều cấm của Thiếu dương bệnh cần nhận rõ, phát hãn nói nhảm, thổ và hạ gây hồi hộp kinh sợ. Phần dưới còn thêm “Thậm tắc thổ hạ lợi bất chỉ, thuỷ tương bất nhập mệnh nan sinh”, (甚则吐下利不止,水浆不入命难生)Trường hợp bệnh nặng thì tiết tả không ngừng, không ăn uống được và khó giữ được mạng sống) bổ sung nội dung không có trong {Thương hàn luận}. Cho nên khi điều trị Thiếu dương bệnh chính là phải giữ ba điều cấm gồm có cấm phát hãn, cấm dùng thổ pháp và hạ pháp. Đến thời kỳ Kim Nguyên, Lý Đông Viên bổ sung thêm một điều cấm nữa là cấm lợi tiểu tiện, từ tam cấm biến thành tứ cấm. Đây là những gì đã nói về Thiếu dương, và đây là phép chung. Thiếu dương bệnh cũng có thể dùng phép phát hãn, có thể dùng phép thổ, phép hạ, có thể lợi tiểu tiện, thang Đại sài hồ không phải để tả hạ sao? Thang Sài hồ Quế chi có phát hãn không?, hung mãn (ngực trướng đầy), khí Thiếu dương uất trệ, cũng có thể dùng Qua đế tán. Nên những điều này phải được nghiên cứu xem xét để có thể biết được sự linh hoạt của nó.
266 本太阳病不解,转入少阳者,胁下硬满,干呕不能食,往来寒热,尚未吐下,脉沉紧者,与小柴胡汤。 C279
267 若已吐、下、发汗、温针,谵语,柴胡汤证罢,此为坏病,知犯何逆,以法治之。 C280
266 Bản Thái dương bệnh bất giải, truyền nhập Thiếu dương giả, hiếp hạ ngạnh mãn, can ẩu bất năng thực, vãng lai hàn nhiệt, thượng vị thổ hạ, mạch trầm khẩn giả, dữ Tiểu sài hồ thang. C279
267 Nhược dĩ thổ, hạ, phát hãn, ôn châm, chiêm ngữ, Sài hồ thang chứng bãi, thử vi hoại bệnh, tri phạm hà nghịch, dĩ pháp trị chi. C280
Hai điều văn này nói về bệnh tà truyền đến kinh Thiếu dương, liền xuất hiện bản chứng của kinh Thiếu dương. Ngoài ra, nếu như không trải qua ngộ trị (điều trị nhầm), thì nên dùng thang Tiểu sài đồ để tiến hành điều trị, nếu đã trải qua ngộ trị, thì đó gọi là bệnh xấu, đối với bệnh xấu, nên theo nguyên tắc, “tri phạm hà nghịch, tuỳ chứng trị chi” (知犯何逆,随证治之) tìm biết sai phạm ở đâu, theo hội chứng mà điều trị), vẫn là tinh thần của Thiên Thái dương, nhưng không cụ thể nói đến từng cái một. “Bản Thái dương bệnh bất giải, chuyển nhập Thiếu dương giả” (本太阳病不解,转入少阳者), ban đầu bệnh này là bệnh ở kinh Thái dương, điều trị không thoả đáng, tà khí không được trừ khứ nên truyền biến và chuyển vào kinh Thiếu dương.
Vì thế chuyển cũng có ý nghĩa như truyền. Đúng là truyền đến Thiếu dương, khi truyền đến Thiếu dương liền xuất hiện Thiếu dương chứng, đó là những chứng gì? Có biểu chứng, cũng có lý chứng, “hiếp hạ ngạnh mãn, can ẩu bất năng thực” (胁下硬满,干呕不能食) Cứng đầy ở hạ sườn, nôn khan không thể ăn uống. Hạ sườn bị cứng đầy là biểu hiện của kinh bị bệnh (kinh thụ tà), nôn khan không thể ăn uống là biểu hiện khí bên trong của Thiếu dương bất hoà. Vì Thiếu dương cũng chủ về sơ tiết (điều tiết), có tác dụng sơ thông, bài tiết, tăng cường tân trần đại tạ (thay cũ đổi mới) đối với lục phủ, hiện tại Thiếu dương đã bị bệnh, không thể sơ tiết, vì thế bệnh nhân xuất hiện chứng trạng không thể ăn. “Mạc mạc bất dục ẩm thực” (默默不欲饮食) ảnh hưởng đến dạ dày, công năng của dạ dày và ruột không tốt nên không thể ăn uống, điều này cho thấy khí bên trong bất hoà. Nôn khan là không ẩu thổ, không thổ ra vật gì thì gọi là nôn khan (can ẩu). Chính là đặc điểm hỉ ẩu của Thiếu dương. Khí của Thiếu dương ảnh hưởng vị khí thượng nghịch (trào ngược dạ dày), vì thế nôn khan, “can ẩu bất năng thực” (nôn khan không ăn được) chính là bệnh của vị khí bất hoà, là một phản ảnh của khí cơ Thiếu dương bất lợi không thể tiến hành sơ tiết đối với dạ dày và ruột. Đây chính là khí bên trong bất hoà, khí bên trong mật và dạ dày bất hoà, “vãng lai hàn nhiệt”, lúc này chính và tà giao tranh ở hạ sườn, tiến lùi ở giữa nửa ngoài nửa trong (bán biểu bán lý), vì thế phát lãnh một trận, rồi lại một trận phát nhiệt, thay nhau phát tác.
Đây là những phản ảnh đầy đủ hội chứng của Thiếu dương. “Hiếp hạ ngạnh mãn” (trướng đầy cứng ở hạ sườn) là biểu hiện của kinh khí bất lợi, “can ẩu bất năng thực” (nôn khan không muốn ăn) là biểu hiện của khí bên trong bất hoà, “vãng lai hàn nhiệt” (lạnh nóng qua lại) là biểu hiện bệnh tà của biểu lý đấu tranh với nhau ở bán biểu bán lý. Lúc này chính là “Thượng vị thổ hạ” (尚未吐下) chưa dùng phép thổ và phép hạ, viết như vậy cho thấy những lương y thời đó dễ dàng ngộ dụng thổ pháp và hạ pháp để trị bệnh, Trương Trọng Cảnh viết rằng lúc đó còn chưa ngộ thổ ngộ hạ (thổ hạ nhầm), “Mạch trầm khẩn giả”, mạch trầm huyền mà có lực thì chính là trầm khẩn, mạch khẩn này là có lực, “dữ Tiểu sài hồ thang”, đây là bản mạch (mạch gốc), bản chứng (chứng gốc), lại chưa trải qua ngộ trị, vì thế có thể dùng thang Tiểu sài hồ. “Nhược dĩ thổ, hạ, phát hãn, ôn châm” (Nếu đã dùng các phép như thổ, hạ, phát hãn, ôn châm) là các phương pháp điều trị sai lầm, phép thổ cũng không phù hợp với cấm kỵ của Thiếu dương, phép tả hạ cũng vậy, phép phát hãn và ôn châm lại càng không phù hợp với cấm kỵ của Thiếu dương. Sau khi ngộ trị, bệnh nhân nói mê sảng, lời nói vô nghĩa, là biểu hiện tân dịch bị tổn thương mà trong dạ dày bị khô. “Sài hồ chứng bãi” (柴胡证罢) Không còn Sài hồ chứng, những chứng trạng của Sài hồ như trướng đầy ở dưới sườn, vãng lai hàn nhiệt đã không có nữa. “Thử vi hoại bệnh” (此为坏病), bệnh này bệnh tệ hại, thày thuốc trị hoại bệnh, tình trạng của hoại bệnh rất phức tạp, liên quan đến khá nhiều vấn đề, vì thế “Tri phạm hà nghịch, dĩ pháp trị chi” (知犯何逆,以法治之) xem xét nghịch phạm như thế nào thì dùng phương pháp điều trị tương ứng, là cung cấp cho thày thuốc một nguyên tắc, xem xét bệnh để biết nguồn gốc, quan sát phản ảnh của mạch và chứng, phải tìm hiểu tình huống cụ thể của ngộ trị, sau đó dùng phương pháp để điều trị bệnh, các phương pháp gồm : Thanh, bổ, hoà, phù chính, khứ tà. Cho thấy Thiếu dương rất dễ phát sinh ngộ trị, ở thời Trương Trọng Cảnh thì đây là một bài học kinh nghiệm.
268 三阳合病,脉浮大,上关上,但欲眠睡,目合则汗。 C281
269 伤寒六七日,无大热,其人躁烦者,此为阳去入阴故也。 C282
270 伤寒三日,三阳为尽,三阴当受邪。其人反能食而不呕,此为三阴不受邪也。 C283
268 Tam dương hợp bệnh, mạch phù đại, thượng quan thượng, đãn dục miên thuỵ, mục hợp tắc hãn. C281
269 Thương hàn lục thất nhật, vô đại nhiệt, kỳ nhân táo phiền giả, thử vi dương khứ nhập âm cố dã. C282
270 Thương hàn tam nhật, tam dương vi tận, tam âm đương thụ tà. Kỳ nhân phản năng thực nhi bất ẩu, thử vi tam âm bất thụ tà dã. C283
Ba điều này nói về Thiếu dương chủ xu (trục xoay), một là trục xoay của biểu lý, là trục xoay của âm dương, vì thế nó bị bệnh bất luận là do bệnh tà ở biểu hay ở lý đều được, rời dương nhập vào âm cũng được, thường có quan hệ với vận động then chốt (xu cơ) không thuận lợi, vận động then chốt (xu cơ) gây bệnh của Thiếu dương. Vì thế chúng ta là những thày thuốc lâm sàng, phải chú ý các vấn đề này, làm thế nào để khiến vận động then chốt (xu cơ) của Thiếu dương thuận lợi, khiến tà khí không thể từ dương nhập âm, làm sao để chữa trị tam dương hợp bệnh từ Thiếu dương để giải trừ bệnh tà phức tạp của tam dương.
“Tam dương hợp bệnh”chính là giảng về hợp bệnh. Chỉ giảng hợp bệnh ở kinh dương, không giảng hợp bệnh ở kinh âm. Thái dương và Dương minh hợp bệnh, “suyễn nhi hung mãn giả” (喘而胸满者) suyễn ngực đầy trướng, dùng thang Ma hoàng; Tam dương hợp bệnh “Thân trọng, đoản khí, phúc mãn, hãn xuất” (身重,短气,腹满,汗出) thân thể nặng nề, thở ngắn, đầy bụng, xuất mồ hôi dùng thang Bạch hổ gia Nhân sâm. Một thang trị Thái dương, một thang trị Dương minh, trị Thái dương là bệnh tà nghiêng về biểu (bên ngoài), tuy nhiên chính là Thái dương Dương minh hợp bệnh, nhưng vì thiên (lệch) ra biểu nên có thể dùng thang Ma hoàng. Tam dương hợp bệnh xuất hãn, khát nước, nặng về nhiệt ở Dương minh, được dùng thang Bạch hổ gia Nhân sâm, cho nên hợp bệnh có phép phát hãn, có phép thanh giải, thanh nhiệt sinh tân dịch.
“Tam dương hợp bệnh, mạch phù đại, thượng quan thượng, đãn dục miên thuỵ, mục hợp tắc hãn” (三阳合病,脉浮大,上关上,但欲眠睡,目合则汗). Tam dương hợp bệnh, mạch phù đại ở mạch quan, nhưng buồn ngủ, nhắm mắt thì xuất hãn.
Điều văn này không nói đến chứng mà nói đến mạch, dùng mạch thay cho chứng, mạch phù là mạch của Thái dương, mạch đại (lớn) là mạch của Dương minh, “thượng quan thượng” (上关上) chính là mạch quan. Vì Trương Trọng Cảnh luận về mạch khác với hậu thế, ông gọi mạch thốn là thốn khẩu, mạch quan là quan thượng, mạch xích là xích trung. Khi tà dương nhiệt mạnh thì mạch phù đại, thấy ở quan thượng, là mạch thốn và mạch quan khá rõ rệt, nhất là mạch quan thượng càng rõ hơn. Vì tà dương nhiệt mạnh và bị tắc nghẽn, mạch thốn và quan thiên về vị trí dương, xích mạch thiên về vị trí âm. Có những nhà chú giải cho rằng mạch quan thuộc về Thiếu dương, mạch quan thuộc về đảm, mạch quan đại biểu cho Thiếu dương.
Trên thực tế, “tam dương hợp bệnh, mạch phù đại, thượng quan thượng”( 三阳合病,脉浮大,上关上) là có ý nói dương nhiệt rất mạnh, tà nhiệt của tam dương rất mạnh, cho nên mạch phù lại đại, nhất là lại phản ảnh rất rõ ràng ở quan thượng.
Nhiệt mạnh sẽ phát sinh thần trí hôn ám, vì thế chỉ muốn ngủ. Thiếu âm bệnh chính là “Mạch vi tế, đãn dục mị dã” (脉微细,但欲寐也)mạch nhỏ bé và muốn ngủ, mạch vi tế chính là dương hư mà âm thịnh. Đây chính là mạch phù đại lại thấy xuất hiện ở quan thượng, càng rõ rệt hơn ở quan thượng, đây chính là dương mạch, thuộc nhiệt bị nghẹt tắc mà thần trí hôn ám, hoàn toàn khác biệt với chứng dương hư.
“Mục hợp tắc hãn” (目合则汗) nhắm mắt vì muốn ngủ, hai mắt nhắm nghiền, toàn thân xuất hãn, đây không phải là tự hãn, gọi là đạo hãn, trong khi ngủ mà xuất hãn thì gọi là đạo hãn (mô hôi trộm), tại sao? “Dương gia vu âm vị chi hãn” (阳加于阴谓之汗) dương thêm vào âm gọi là mồ hôi, dương khí thịnh, nhất là khí của Thiếu dương tướng hoả uất bách, càng có nhiều khả năng tổn thương âm, âm không thể nhập, bức bách mồ hôi xuất ra ngoài, là xuất hiện đạo hãn. Đây chính là có bệnh. Người viết trong một lần khám bệnh trong y viện Hoà Bình, có một bé gái khoảng hơn 10 tuổi, em bị chứng đạo hãn (xuất mồ hôi khi ngủ), điều trị nhiều nơi mà không khỏi, có các chứng trạng như miệng đắng, phân khô, đầy trướng ở dưới tim, khó chịu, tâm lý buồn bực, kinh nguyệt trễ kỳ, vì thế người viết cho uống thang Đại sài hồ gia Mẫu đan bì, uống vào mọi chứng trạng đều tốt. Xuất hãn của Thiếu dương khí uất hoá hoả khác với chứng tự hãn của Dương minh bệnh. Phần trên đã giảng về Thái dương và Dương minh hợp bệnh, suyễn và tức ngực “Dữ Ma hoàng thang” (与麻黄汤) dùng thang Ma hoàng, chính là không xuất mồ hôi, tam dương hợp bệnh “Thân trọng, nan dĩ chuyển trắc, khẩu bất nhân” (三阳合病‚身重,难以转侧,口不仁) Ba kinh dương hợp bệnh, thân thể nặng nề, khó xoay người, miệng tê dại thuộc về Dương minh, không phải là đạo hãn, chính là tự hãn. Đến kinh Thiếu dương, tam dương hợp bệnh, nhiệt khí mạnh và tắc nghẽn, phải hiển thị đặc điểm của Thiếu dương, “hợp mục tắc hãn” (合目则汗)ngủ là xuất hãn, chính là đạo hãn. Đã là như vậy, có được dùng thang Bạch hổ không? Không được, Vưu Tại Kính nói, e rằng không thể dùng thang Bạch hổ để trị bệnh này. Vì đây là đạo hãn, ý nói đây là tam dương hợp bệnh, trị bệnh ở kinh Thiếu dương thì cần phải thanh giải nhiệt của Thiếu dương.
Vì thế, tam dương hợp bệnh có phép phát hãn, phép thanh nhiệt, còn có phép thanh thấu nhiệt của Thiếu dương, khi hoả bị uất thì dùng phương pháp thông đạt (hoả uất tắc đạt chi) (hoả uất thì dùng phép thông đạt). Nội khoa có bệnh lao, là bệnh hư lao, cũng chính là bệnh lao phổi hiện nay, nhiều bệnh nhân có chứng nóng trong tận xương, đạo hãn ban đêm, trong thuốc đều gia thêm vị Sài hồ, như Sài hồ thanh cốt tán. “Sài cốt chưng cửu bất thuyên, nhiệt thịnh thanh chi diệu hồ liên, Miết giáp Thanh hao Sài địa cốt” (柴骨蒸久不痊,热盛清之炒胡连,鳖甲青蒿柴地骨) Chứng nóng trong xương lâu ngày, thanh nhiệt mạnh dùng các vị Hồ liên Miết giáp Thanh hao Sài hồ Địa cốt bì, nên gia Thanh hao, Sài hồ, vì đều là chứng hoả uất gây tổn thương âm, tướng hoả của Thiếu dương bị uất, vì thế nên gia thuốc thanh thấu (thông thấu để giải uất), sơ thông mộc khí uất bách của Thiếu dương, lại gia thêm thuốc tư âm để có hiệu quả. Sài hồ thanh cốt tán, Sài hồ Miết giáp thang, dùng Sài hồ, Thanh hao, là những vị thuốc thẩm thấu Thiếu dương, khiến khí không bị uất trệ, tướng hoả thông đạt, sẽ không tụ thành khối, từ đó đạt được mục đích trị liệu.
Điều C282 chính là thương hàn ngoại cảm bệnh, nếu như tà khí ở biểu, còn phát nhiệt, người này không quá nóng, nhưng không phải một chút nhiệt cũng không có. “Thương hàn lục thất thiên” (伤寒六七天) thương hàn 6,7 ngày, nếu bệnh tà còn ở kinh Thái dương thì còn phát sốt, hiện tại phát sốt không quá tệ, chính là không quá nóng, “kỳ nhân táo phiền”, xuất hiện nóng nảy bực bội bất an, đứng ngồi không yên, tâm phiền thân thể bực bội, đã 6,7 ngày không sốt mà xuất hiện nóng nảy bực bội. Ở đây có lý do gì? “Thử vi dương khứ nhập âm dã” (此为阳去入阴也), Trương Trọng Cảnh cho chúng ta biết, đây là dương khứ, đúng là dương tà, là biểu tà của Thái dương, “khứ” là đi, từ một kinh đi đến một kinh khác, “khứ nhập âm”, âm là lý (bên trong), là từ biểu nhập lý (từ bên ngoài đi vào bên trong), có khả năng là đến Dương minh. “Âm” này có thể không phải là kinh âm mà âm dương ở đây là chỉ về biểu lý, “dương khứ nhập âm” là bệnh tà từ biểu nhập vào lý, từ biểu của Thái dương nhập vào lý của Dương minh. Đây là thời kỳ quá độ (chuyển giao), biểu nhiệt của Thái dương nhỏ yếu, nhập vào Dương minh nhưng chưa gây ra đủ để bế tắc, đầy, khô, cứng, đặc.
Điều C282 có quan hệ gì với kinh Thiếu dương? Ở một vài nơi trong{Thương Hàn Luận} có hàm ý sâu xa (ý tại ngôn ngoại). Kinh Thái dương chủ về biểu, kinh Dương minh chủ lý, kinh Thiếu dương là trục vận dộng của biểu lý.
Nếu khí của Thiếu dường bất lợi, sẽ có khả năng Thiếu dương giống như một cây cầu, một con đường để cho dương khí và bệnh tà ở biểu sẽ thông qua cây cầu này của kinh Thiếu dương để đi vào kinh Dương minh, vào bên trong (lý). Nói cách khác, nếu trục vận động Thiếu dương rất thuận lợi, khi bệnh tà đi vào trong, nó có tác dụng vận động trục quay, có thể khiến cho bệnh tà không xâm nhập vào được bên trong, như vậy không tốt sao? Vì thế phần trên đây là giảng về tam dương hợp bệnh, hợp bệnh là cùng phát bệnh, ở đây có vấn đề Thiếu dương có nhiệt. Phần dưới của điều này là bệnh ở kinh Thái dương truyền vào kinh Dương minh, có đường vào của Thái dương, có đường đi của Thiếu dương, ở giữa có quan hệ với Thiếu dương hay không? Cũng có quan hệ với Thiếu dương.
Ở đây bao gồm cả Thiếu dương xu cơ (vận động trục quay) không tốt, Thiếu dương xu cơ không thể đề kháng ngoại tà xuất ra ngoài, vì thế tà khí liền thông qua Thiếu dương mà truyền đến Dương minh, xuất hiện hội chứng phiền táo (bực bội nóng nảy) ở đây có hàm nghĩa, biểu, lý, trung, có biểu, có lý, có trung gian, trung gian là vấn đề của Thiếu dương.
Lấy điều C283 làm thí dụ, tỉ dụ bệnh thương hàn đã ba ngày, bệnh ở ba kinh dương được tính là đã truyền hết, ba kinh âm đương thụ bệnh tà, kinh đầu tiên là Thái âm, Thái âm đang thụ tà. “Kỳ nhân phản năng thực nhi bất ẩu, thử vi tam âm bất thụ tà dã”( 其人反能食而不呕,此为三阴不受邪也) Bệnh nhân có thể ăn mà không ẩu, đó là ba kinh âm không thụ tà, nếu như bệnh nhân này lại có thể ăn, đồng thời ăn rồi cũng không lợm giọng, không ẩu thổ, chính là khí của tỳ vị còn rất tốt, khí bên trong còn hoà. Lúc này tà khí vẫn còn ở các kinh dương, chưa thể xâm nhập vào các kinh âm. Là ba kinh âm không thụ tà, đặt nó ở thiên Thiếu dương có ý nghĩa gì? Thái dương, Dương minh, Thiếu dương, sau Thiếu dương là Thái âm, vì thế Thiếu dương lại chính là trục quay của âm dương, tà khí đến Thiếu dương, Thiếu dương đề kháng không được. Liền chuyển tiếp đến Thái âm. Nếu khí cơ Thiếu dương tốt bệnh không phát triển đến kinh âm, trước đây đã giảng qua, Thiếu dương bệnh có âm chứng là có cơ hội thay đổi tình thế, nói về thang Sài hồ Quế chi Can khương, bụng trướng đầy, tiết tả, đã xuất hiện các dấu hiệu của Thái âm bệnh. Nếu như Thiếu dương có sức mạnh, dương khí có thể đề kháng bệnh tà, ngăn chặn bệnh tà xâm nhập vào Thái âm. Hai điều này cho thày thuốc biết rằng, bệnh từ biểu vào lý cũng được, từ dương nhập vào âm cũng được, luôn luôn là khi điều trị Thiếu dương bệnh không hiệu quả, công năng kháng bệnh của Thiếu dương không tốt mà xuất hiện. Trong điều trị nên chú ý vấn đề này. Tại sao? Ở phần trước đã nói về việc này, Thiếu dương bệnh sau khi phát hãn, bệnh nhân lại nói nhảm, mê sảng, “thử thuộc vị, vị hoà tắc dũ, vị bất hoà tắc phiền nhi táo” (此属胃,胃和则愈,胃不和则烦而躁) Đó là thuộc vị, vị khí hoà thì khỏi bệnh, vị bất hoà nên bực bội và nóng nảy. Tại sao bn bực bội nóng nảy? Trị Thiếu dương bệnh không trị đúng, tà khí liền từ biểu nhập lý, rồi đến vị. Thiếu dương bệnh điều trị không tốt, sẽ ảnh hưởng đến công năng kháng bệnh của Thiếu dương, bệnh sẽ từ dương nhập vào âm. Vì thế Thiếu dương là trục xoay của biểu lý, là trục xoay của âm dương. Hai điều này là nói về vấn đề bệnh của ba kinh dương cũng được, với âm dương thì bệnh tà của kinh dương chuyển tiếp đến kinh âm cũng được, tất cả đều là có quan hệ với Thiếu dương. Vì thế khi điều trị bệnh ở Thiếu dương, không nên phạm vào những cấm kỵ của Thiếu dương, để Thiếu dương không bị bất cứ tổn thất nào, như vậy sẽ bảo đảm bệnh tà không truyền vào trong, không truyền biến vào trong âm. Ngoài ra, đối với việc điều trị Thiếu dương bệnh, đã có vấn đề hoà giải biểu lý, cũng có vấn đề hoà giải âm dương. Vì bản thân kinh Thiếu dương cũng có đủ các đặc điểm như vậy.
271伤寒三日,少阳脉小者,欲已也。 C284
272少阳病,欲解时,从寅至辰上。 C285
271 Thương hàn tam nhật, Thiếu dương mạch tiểu giả, dục dĩ dã. C284
272 Thiếu dương bệnh, dục giải thời, tòng dần chí thìn thượng. C285
Hai điều này trình bày về tiên lượng của Thiếu dương bệnh.
“Thương hàn tam nhật” (伤寒三日) chính là cách nói vay mượn. Thương hàn đã ba ngày, nếu như bệnh truyền vào kinh Thiếu dương, hãy thiết mạch cho anh ta, “thiếu dương mạch tiểu giả”( 少阳脉小者) chữ tiểu ở đây giảng là chữ “tế”, Thiếu dương bệnh mạch tế mà không huyền, Thiếu dương bệnh chính là “mạch huyền tế”, Thiếu dương mạch tiểu nói lên điều gì? Là đảm nhiệt đã suy, bệnh tà của Thiếu dương đã suy, mạch không huyền khẩn, huyền cấp, huyền sác, chính là mạch tiểu, đây là phản ảnh của tà khí suy mà chính khí khôi phục. Thiếu dương, chính là khí tiểu dương, vì thế mạch của nó là huyền tế, nếu như mạch tiểu, không phải như vậy là mạch đã rất huyền, không phải huyền cấp, mạch rất tế tiểu, như vậy là tà khí đã suy. Tà khí đã suy, thì chính khí hồi phục, và bệnh sẽ biến chuyển tích cực, “Dục dĩ dã” (欲已也)muốn ngừng lại, đúng là tốt, dĩ là ngừng lại, bệnh không phát triển. Đây chính là một hiện tương tốt đẹp. {Mạch quyết}cũng viết như vậy “Đại tắc bệnh tiến, tiểu tắc bệnh thoái”(大则病进,小则病退), phàm bệnh thấy mạch đại, chính là bệnh tiến triển, mạch tiểu là bệnh sẽ thoái lui, điều này cũng thích ứng với các bệnh.
Nếu như điều kiện hợp thành thì sẽ khỏi bệnh, “tòng dần chí thần thượng” (从寅至辰上) từ giờ dần đến giờ thìn, dần, mão, thìn, mặt trời mọc vào giờ mão, trước giờ Mão 2 giờ là giờ Dần, lúc này là khí nhất dương, dương khí, mộc khí, khí Thiếu dương vừa lên, vào lúc này đối với thân thể là có lợi cho Đảm, nó có khả năng hỗ trợ chính khí, vì thế ở thời điểm này khí vượng, thì chính khí mạnh mẽ và tà khí suy thoái, điều này tạo thành một điều kiện tốt, khi Thiếu dương bệnh biến chuyển tốt, tức là muốn giải trừ bệnh thì cần có điều kiện là vào đúng thời gian của Thiếu dương chính khí vượng. Có người tranh luận, về việc “Dục giải thời” (thời điểm dễ giải trừ bệnh) có thể nói về nó không? Khi Thiếu dương bị bệnh, không uống thang Tiểu sài hồ mà lại chờ đợi đến giờ Dần đến giờ Mão cho tốt ư? Lão Nhân gia Trương Trọng Cảnh cũng không nói như vậy. Thời gian thuận lợi cho việc giải trừ bệnh, dục ở đây có ý là cân nhắc, không thể nói như là một việc tất nhiên sẽ giải trừ được bệnh, khi có đầy đủ điều kiện rồi, bệnh này sẽ có chiều hướng thuận lợi để bình phục, con người và tự nhiên giới có liên hệ nội tại (bên trong) với nhau, có ảnh hưởng hỗ tương, thời điểm công năng của Thiếu dương tốt nhất, chính khí được đầy đủ nhất, theo quan sát của người xưa là vào giờ thìn và giờ mão, là bình minh, là lúc khí bắt đầu đến.
Trường Xuân