Từ điều 242 đến điều 247 (C254-C260)
242 病人小便不利,大便乍难乍易,时有微热,喘冒不能卧者,有燥屎也,宜大承气汤。C254
242 Bệnh nhân tiểu tiện bất lợi, đại tiện sạ nan sạ dị, thời hữu vi nhiệt, suyễn mạo bất năng ngoạ giả, hữu táo thỉ dã, nghi Đại thừa khí thang. C254
Đoạn văn này thảo luận về các phương pháp nhận biết và điều trị chứng phân khô nội kết và đại tiện lúc khó lúc dễ.
Chúng ta dùng thang Đại thừa khí điều trị chứng táo bón kéo dài 7,8 ngày, thậm chí 10 ngày không đại tiện, ở đoạn văn này có sự khác biệt “Đại tiện sạ nan sạ dị” (大便乍难乍易) đại tiện có lúc khó, có lúc lại dễ, không phải là đai tiện lúc nào cũng khó khăn. Đây có phải là chứng đại tiện táo bón?, có phân khô hay không? Đây không phải là vấn đề, ở kinh Dương minh có hai loại nhiệt, một là nóng chưng chưng (bốc hơi nóng), hai là nhật bô nhiệt (nóng vào giờ thân). “Thời hữu vi nhiệt” (时有微热), có thời điểm phát sốt nhẹ, “Thị hữu táo thỉ, có thể hạ”, (是有燥屎,可以下)có phân cứng, có thể dùng phép hạ, Dương minh bệnh đã có táo nhiệt, tân dịch không ở trong dạ dày, tân dịch thấm ra ngoài nên sẽ tiểu tiện nhiều lần, tiểu tiện liên tục. Hiện tại “Bệnh nhân tiểu tiện bất lợi” (病人小便不利) hiện tại bệnh nhân tiểu tiện khó khăn, có thể dùng phép tả hạ không? “Suyễn mạo bất năng ngoạ giả” (喘冒不能卧者), có bệnh suyễn, mạo là huyễn mạo, bốc lên đầu hoa mắt. Thở ngắn khí suyễn, hoa mắt váng đầu, không nằm được. Không thể nằm là không thể nằm xuống, đương nhiên là khi không thể nằm thì có buồn ngủ cũng không ngủ được. Đây là bệnh, Trương Trọng Cảnh nói rằng “Hữu táo thỉ dã” (有燥屎也)có phân khô, nên dùng thang Đại thừa khí để tả hạ. Vì sao để biết bệnh này có phân khô? Ở đây có hai phương pháp giải thích. Một là trước khi “Đại tiện sạ nan sạ dị” là đã có phân khô. Đây là bn đã có phân khô từ trước, hiện tại đại tiện như thế nào? Có lúc đại tiện khó và có lúc đại tiện còn dễ gọi là sạ nan sạ dị là lúc khó lúc dễ. “Hữu táo thỉ dã”, có phân khô từ trước, khi đại tiện lúc khó lúc dễ, đây không phải là hai vấn đề. Phân khô vốn đã có từ trước là cặn bã ngưng kết ở trong ruột, không được bài tiết mà thành. Hiện tại là sau khi đã có phân khô trong ruột, anh ta vẫn tiếp tục ăn uống, tiêu hoá, cặn bã và phân trong ẩm thực của anh ta bị phân khô chặn lại, có lúc không xuất ra được, có những lúc có thể xuất ra chút ít, vì thế mà xuất hiện vấn đề đại tiện lúc khó lúc dễ. Đây là một phương pháp giải thích.
Một cách giải thích khác là do Dương minh bệnh có phân khô, nếu có phân khô thì có táo nhiệt, phân khô thì tản nhiệt và thấm xuống, xâm lấn tức là dịch thể trong ruột bị nhiệt ép chảy ra và thấm xuống . Vì thế đại tiện có lúc dễ dàng. “Sạ dị” (lúc dễ) là do phân khô bức bách tân dịch trong ruột, tân dịch thấm xuống dưới, vì thế đại tiện có thời điểm còn chút dễ dàng. Đây là “Táo nhiệt bức bách tân dịch” (燥热逼迫津液) là khô nóng bức bách tân dịch được dùng làm cách giải thích. Vì thế việc giải thích “Đại tiện sạ nan sạn dị” có hai tình huống, một là nói về phân cũ và phân mới, từ trước đã có phân ngưng tụ thành phân khô, phân mới thì chưa ở mức độ khô, vì thế còn có thể bài tiết ra ngoài, nhưng vì ở trong có phân khô, nên có lúc bài tiết không dễ dàng, đây gọi là sạ nan sạ dị (lúc khó lúc dễ)
Việc tiểu tiện khó khăn ở đây là do táo nhiệt gây tổn thương tân dịch, mà không phải chứng tiểu tiện bất lợi do tân dịch còn ở trong vị (dạ dày), là tân dịch đã suy kiệt thiếu hụt, anh ta không thể tiểu tiện, giống như tiểu tiện bất lợi. Tóm lại, trong ruột có phân khô, táo nhiệt (khô nóng), tổn thương tân dịch, tiểu tiện sẽ bất lợi, gây trở ngại đại tiện, vì thế đại tiện khó khăn, có lúc tân dịch thấm xuống, đại tiện có thể chợt dễ dàng. “Thời hữu vi nhiệt” (时有微热) có lúc sốt nhẹ, vì táo nhiệt ngưng kết ở trong, nhiệt rất mạnh ở trong, ngược lại ở ngoài rất ít (vi nhiệt). Táo nhiệt ngưng kết ở bên trong, trong ruột tạo thành dạng nội kết, có ít tà khí ở bên ngoài, chỉ là vi nhiệt, không phải đại nhiệt. “Suyễn mạo bất đắc ngoạ” (喘冒不得卧) là suyễn không thể nằm, vì khí của vị tràng nghẹt tắc không thông, khí của phủ không thuận lợi, phế khí không thể hạ giáng (giáng xuống), vì thế lại suyễn, trên đầu hoa mắt chóng mặt, không nằm xuống được, đây là thực chứng. Là khí bị trở ngại. táo nhiệt nghẹt tắc, phế khí không giáng xuống, táo nhiệt bốc lên. Vì thế đây chính là có phân khô, “nghi Đại thừa khí thang”.
Xem ra đoạn văn này cũng không quá điển hình.
Dùng thang Đại thừa khí trị chứng phân khô, hội chứng biểu hiện không quá điển hình. Chúng ta có thể xác định phân khô không điển hình này trên lâm sàng không? Cũng có thể được nhận ra. Một điều chính là đoạn văn của Trương tiên sinh chỉ ra là ngoại trừ đại tiện lúc khó lúc dễ, vi nhiệt, còn một chứng trạng đặc thù là chứng suyễn làm cho bn không thể nằm. Là chứng suyễn không cho bn nằm, khí của phủ bị nghẹt tắc, đau bụng, đau chung quanh rốn, bụng trướng đau, rêu lưỡi vàng, mạch trầm thực, những chứng trạng và biểu hiện này nằm ngoài lời nói của ông. Kết hợp với một số hội chứng chủ yếu của chứng trạng có thể dùng phép tả hạ, chúng ta có đoạn văn chỉ đạo này, đại tiện lúc khó lúc dễ, có lúc sốt nhẹ, suyễn không nằm được, là những hội chứng có thể vận dụng.
Từ đoạn văn C250 đến đoạn C254 phản ảnh các chứng trạng có thể dùng phép tả hạ ở các mức độ khác nhau của Dương minh vị gia táo thực, được trình bày từ nhiều góc độ khác nhau. Cho nên chứng đại tiện lúc khó lúc dễ này, mọi người nên ghi nhớ. Chứng Dương minh vị gia thực đồng thời không phải đều là táo kết, có khi còn có vấn đề có lúc đại tiện khó khăn, có lúc đại tiện dễ dàng. Trong phần sau, khi giảng đến thiên Thiếu âm, đại tiện còn tiết tả ra nước, có màu xanh đơn thuần, người này còn tiêu chảy, tiêu chảy ra gì? Đi tiêu ra nước trong, vẫn được dùng thang Đại thừa khí, so sánh trường hợp sau này còn tệ hơn, trường hợp trước đại tiện có lúc khó lúc dễ, không đi tả, Thiếu âm bệnh có 3 cấp hạ, nơi đó là Đại thừa khí thang chứng có chứng trạng đi tả ra nước thuần màu xanh, cũng chính là nhiệt kết ở dòng chảy bên cạnh. Chứng nhiệt kết ở dòng chảy bên cạnh cũng được dùng phép tả hạ, chính là phép thông nhân thông dụng. Chúng ta cần nắm vững bệnh cơ, mà không nên chỉ xét theo hiện tượng.
Đây là vài điều nói về các chứng có thể tả hạ của bệnh ở kinh Dương minh, Đại thừa khí thang chứng của Dương minh bệnh, chứng táo thỉ (phân khô) của Dương minh bệnh. Thang Đại thừa khí là để trị chứng phân khô, những chứng này đều có phân khô, vì vậy sẽ không đề cập đến vấn đề phân cứng, không dùng thang Tiểu thừa khí, không dùng thang Điều vị thừa khí, hãy dùng thang Đại thừa khí. Thang Đại thừa khí trị chứng phân khô, thang Tiểu thừa khí trị chứng phân cứng, thang Điều vị thừa khí có tác dụng hoà vị thông tràng, tác dụng của 3 thang nêu trên là khác nhau.
243 食谷欲呕者,属阳明也,吴茱萸汤主之。得汤反剧者,属上焦也。C255
243 Thực cốc dục ẩu giả, thuộc Dương minh dã, Ngô thù du thang chủ chi, đắc thang phản kịch giả, thuộc thượng tiêu dã. C255
Phương Ngô thù du thang
Nhất thăng Thù du tam lạng sâm
Sinh khương lục lạng cứu hàn xâm
Táo đầu thập nhị trung cung chủ
Thổ lợi đầu đông phiền táo tầm
Ngô thù 1 thăng, rửa Nhân sâm 3 lạng Sinh khương 6 lạng, thái Táo 12 quả, bổ ra
4 vị thuốc trên dùng 7 thăng nước, nấu cạn còn 2 thăng, bỏ bã, chia 3 lần uống trong ngày.
Đoạn văn này thảo luận về một hội chứng có hai biện pháp trị liệu. Vị khí hư hàn, ăn uống buồn nôn, phân biệt với chứng buồn nôn do thượng tiêu bị nóng. Điều này trên thực tế là nói về tạp bệnh. Đây chính là chứng vị hư hàn, “thực cốc dục ẩu” (食谷欲呕), ăn thực vật ngũ cốc, ẩm thực thì buồn nôn, đây là thuộc kinh Dương minh. Dương minh là vị (dạ dày), vị là trung tiêu, cái này thuộc Dương minh vị trung tiêu hư hàn. Hư là vị khí hư, hàn chính là hàn tà, như vậy hư thì không thể làm ngấu thực phẩm, hàn thì nghịch lên, vì thế người vị hư yếu. sau khi ăn thì không thể tiêu hoá, mà hàn tà lại nghịch lên, vì thế người bệnh “dục ẩu”(buồn nôn). Không chỉ buồn nôn, có lúc người bệnh còn có thể nôn ra. Trong {Kim quỹ yếu lược * Ẩu thổ uế hạ lợi} giảng về ẩu, thổ, oẹ, thang Ngô thù du cũng dùng để trị chứng ẩu thổ. Điều văn này thuộc trung tiêu hư hàn, vị khí hư hàn, thang Ngô thù du chủ trị các bệnh này, và đây là phương thang rất hiệu quả.
Tuy đã nói hết ý này, nhưng Trương tiên sinh cho rằng đây là một chứng có hai biện luận, nên có một câu hỏi khác được đặt ra cho vấn đề này. Là câu hỏi gì? Nói về chứng ẩu thổ của thượng tiêu. Bệnh ở thượng tiêu, không phải tại trung tiêu hư hàn, mà là thượng tiêu bị nóng. “Đắc thang phản kịch giả, thuộc thượng tiêu dã.” (得汤反剧者,属上焦也。) Nếu như uống thang Ngô thù du, chứng ẩu thổ không những không giảm, ngược lại lại ẩu thổ kịch liệt, ẩu thổ nặng hơn, thì đây là bệnh ở thượng tiêu, chính là thượng tiêu bị nóng, không phải là trung tiêu hư hàn, nên dựa vào các đặc điểm của thượng tiêu để tiến hành trị liệu, không cần uống lại thang Ngô thù du để trị bệnh ở trung tiêu. Đây là nhất chứng lưỡng biện trị pháp (một chứng mà có hai biện chứng trị pháp). Trung tiêu hư hàn cũng có thể gây ẩu thổ. Thượng tiêu bị nóng cũng có thể gây chứng ẩu thổ. Đây là sự khác nhau, tính hàn nhiệt khác biệt, vì thế phương thức trị liệu cũng không giống nhau. Thang Ngô thù du trị chứng ẩu thổ, trị chứng hư hàn, chứng đau ở vị quản, trị chứng ẩu thổ đàm rãi, chứng hạ lợi, tóm lại là trị chứng hàn lãnh ở trung tiêu, đây là phương thang rất tốt, có hiệu quả lâm sàng mãn ý. Trong phương này, vị Ngô thù là chủ dược, là vị thuốc cay nóng, có vị cay kèm theo vị đắng, vừa cay vừa đắng. vị cay có khả năng tán hàn, cay lại có thể làm khoẻ mạnh dạ dày, vị đắng có khả năng giáng xuống, nên Ngô thù là vị thuốc trị chứng vị hàn ẩu thổ (ẩu thổ do dạ dày lạnh) lý tưởng nhất. Vì thế, thang Ngô thù du được dùng để điều trị chủ yếu chứng nghịch lên do trung tiêu hư hàn của Dương minh bệnh.
Đây là phương trong thiên Thiếu âm, thiên Quyết âm cũng có phương này, vì Ngô thù du không những nhập vào vị, mà còn nhập vào túc Quyết âm can kinh. Trong phương này dùng một lượng rất lớn Sinh khương, đến 6 lạng. Tại sao lại sử dụng một lượng Sinh khương nhiều như vậy? Vị Sinh khương phối với vị Ngô thù, Sinh khương có tác dụng kiện vị trị ẩu thổ, tán hàn lý khí, hỗ trợ Ngô thù du tán hàn. Nhân sâm, Đại táo dưỡng tân dịch, dưỡng vị khí, bổ trung ích khí. Vì đây là chứng hư hàn, cần dùng thêm một ít thuốc bổ cam ôn. Trong thang này có một đặc điểm là không dùng vị Cam thảo. Vì chứng ẩu thổ sẽ không dùng vị Cam thảo. Thang Ngô thù du cũng trị chứng ẩu thổ kèm theo hạ lợi, tức là thổ và tả đồng thời xuất hiện, nhưng chứng ẩu thổ nặng hơn, cũng rất hiệu quả; Cũng trị chứng ẩu thổ, như nôn khan (không thổ ra vật gì), thổ ra nước, thổ ra nước bọt, đàm rãi v.v.. dùng phương này đều thu được hiệu quả rất tốt.
Vì thế Dương minh bệnh dùng thang Ngô thù du có tác dụng ôn trung giáng nghịch, tán hàn trị ẩu thổ. Thang Ngô thù du vẫn có ý nghĩa trị liệu ở thiên Thiếu âm và thiên Quyết âm. Ở thiên Dương minh, thang Ngô thù du có tác dụng ôn kinh, tán hàn, giáng nghịch, trị ẩu thổ. “Thăng hứa Ngô du tam lạng sâm, Sinh khương lục lạng cứu hàn xâm. Táo đầu thập nhị trung cung chủ, thổ lợi đầu thống phiền táo tầm.” (升许吴萸三两参,生姜六两救寒侵。枣投十二中官主,吐利头痛烦躁寻。) Đến thiên Thiếu âm thang Ngô thù du còn có thể trị chứng bực bội khó chịu.
Các bạn chú ý, đã chỉ ra điểm mấu chốt của kinh Dương minh, chứng trung tiêu hư hàn dùng nhiều thuốc mà mạnh mẽ, thang Ngô thù du rất nóng, đây là đã trải qua lần thứ hai dùng nhiệt dược. Lần thứ nhất dùng thang Tứ nghịch trị chứng biểu nhiệt lý hàn, giả ngoại chứng của Dương minh bệnh, thân nhiệt hãn tự xuất, lý hàn thực (bên trong là hàn), cách dương ra ngoài tạo thành chứng giả nhiệt, dùng thang Tứ nghịch để điều trị. Thang Ngô thù du này thuộc về Dương minh, cũng chính là Dương minh vị. Ý này đã rõ ràng, tư tưởng cũng đã được khai thông, thiên Dương minh đều có biểu lý, hàn nhiệt, hư thực. Chính là đã nói về thực thì phải nói về hư, giảng về hàn thì sẽ nói về nhiệt, đó chính là lưỡng điểm luận của Trung y.
244 太阳病,寸缓、关浮、尺弱,其人发热汗
出,复恶寒,不呕,但心下痞者,此以医下之也。如其不下者,病人不恶寒而渴者,此转属阳明也。小便数者,大便必硬,不更衣十日,无所苦也。渴欲饮水,少少与之,但以法救之。渴者,宜五苓散。C256
244 Thái dương bệnh, thốn hoãn, quan phù, xích nhược, kỳ nhân phát nhiệt hãn xuất, phục ố hàn, bất ẩu, đãn tâm hạ bĩ giả, thử dĩ y hạ chi dã. Như kỳ bất hạ giả, bệnh nhân bất ố hàn nhi khát giả, thử chuyển thuộc Dương minh ã. Tiểu tiện sác giả, đại tiện tất ngạnh, bất canh y thập nhật, vô sở khổ dã. Khát dục ẩm thuỷ, thiểu thiểu dữ chi, đãn dĩ pháp cứu chi. Khát giả, nghi Ngũ linh tán. C256
Điều văn này tổng cộng có 4 hội chứng, một là chứng bĩ, hai là Dương minh bệnh, ba là chứng Tỳ ước, bốn là chứng súc thuỷ. “Thái dương bệnh, thốn hoãn quan phù xích nhược, kỳ nhân phát nhiệt hãn xuất, phục ố hàn, bất ẩu, đãn tâm hạ bĩ giả, thử dĩ y hạ chi dã.” (‚太阳病,寸缓关浮尺弱,其人发热汗出,复恶寒,不呕,但心下痞者,此以医下之也。)Bệnh ở kinh Thái dương, mạch thốn hoãn, mạch quan phù, mạch xích nhược, người bệnh phát sốt xuất mồ hôi, lại ghét lạnh, không nôn, nhưng tâm hạ(dạ dày) bế tắc, là thày thuốc đã dùng phép công hạ. Đây là bĩ ở tâm hạ (dạ dày). “Như kỳ bất hạ giả, bệnh nhân bất ố hàn nhi khát giả, thử chuyển thuộc Dương minh dã.” (如其不下者,病人不恶寒而渴者,此转属阳明也。)Nếu không công hạ, bệnh nhân không ghét lạnh mà lại khát, là biểu hiện bệnh đã chuyển thuộc kinh Dương minh. “Tiểu tiện sác giả, đại tiện tất ngạnh, bất canh y thập nhật, vô sở khổ dã.” (小便数者,大便必硬,不更衣十日,无所苦也。) Tiểu tiện nhiều lần, phân sẽ cứng, không đại tiện 10 ngày, cũng không khổ sở. Đây là chứng tỳ ước (táo bón do tỳ âm bị hạn chế). “Khát dục ẩm thuỷ, thiểu thiểu dữ chi, đãn dĩ pháp cứu chi. Khát giả, nghi Ngũ linh tán.” (渴欲饮水,少少与之,但以法救之。渴者,宜五苓散。) khát muốn uống nước, uống từng chút một, nhưng phương pháp cứu trị là khát thì dùng Ngũ linh tán. Đây là chứng tích ứ nước ở bàng quang.
Mở đầu là từ Thái dương trúng phong. “Thái dương bệnh, thốn hoãn, quan phù, xích nhược” (太阳病,寸缓关浮尺弱) Bệnh ở kinh Thái dương, mạch thốn hoãn, mạch quan phù, mạch xích nhược, trên thực tế có ý nghĩa là mạch phù mà hoãn, chính là dương phù mà âm nhược, là mạch của chứng Thái dương trúng phong. “Phát nhiệt hãn xuất, phục ố hàn”, chính là chứng trúng phong. Phát sốt xuất hãn, ghét lạnh, ghét gió, mạch phù hoãn, là biểu hiện của chứng biểu hư của Thái dương trúng phong.
“Bất ẩu”(không nôn) là bệnh không truyền đến kinh Thiếu dương. Nhưng chứng tâm hạ bĩ xảy ra như thế nào? “Thử dĩ y hạ chi dã” (此以医下之也), nguyên nhân do thày thuốc tả hạ gây tổn thương vị khí. Biểu tà do ngộ hạ, liền tạo thành chứng tâm hạ bĩ. Vì thế sau khi ngộ hạ biểu tà có thể tạo thành chứng tâm hạ bĩ. Đây chính là một loại tình huống. Cũng có khi “Như kỳ bất hạ giả, bệnh nhân bất ố hàn nhi khát” (如其不下者,病人不恶寒而渴), trước đó bn ghét lạnh, hiện tại thì không, không những không ghét lạnh mà lại còn khát nước, “Thử chuyển thuộc Dương minh dã”. Chuyển về Dương minh liền hoá nhiệt và tân dịch bị tổn hại, biến thành táo (khô), vì thế nên khát nước. Hai tình huống này, một là do ngộ hạ (hạ nhầm), một là do bệnh chuyển về Dương minh.
Sau khi chuyển nhập Dương minh, “Tiểu tiện sác giả, đại tiện tất ngạnh”(小便数者,大便必硬), tiểu tiện liên tục, phân tất nhiên sẽ cứng, cũng là tân dịch thấm sang bên cạnh, vì sao tân dịch thấm sang bên cạnh? Vì trong vị táo nhiệt (nóng khô), tân dịch không trở lại, âm dương không điều hoà, vì thế tiểu tiện thiên về thấm đi nhiều hơn, tương ứng là “Đại tiện tất ngạnh”, phân cứng nên không bài tiết được, vì thế mà không thay áo, (không thể đại tiện). “Bất canh y thập nhật, vô sở khổ.” 10 ngày không thay y phục, không khổ sở. Bụng cũng không trướng, không đầy, không đau, có thể đã hơn 10 ngày không đại tiện, tại Thái dương Dương minh, chính dương Dương minh, Thiếu dương Dương minh trong 3 cái Dương minh bệnh, thuộc về chứng Tỳ ước (chứng táo bón vì dịch trong ruột khô kiệt gây ra) Nguyên nhân chứng tỳ ước là như vậy, tuy không đại tiện nhưng không khó chịu. Đây là do tân dịch bị tổn thương, tràng vị khô, tỳ âm bị hạn chế, mà không phải do chính dương Dương minh tạo nhiệt thành thực chứng, khí của phủ bị bĩ tắc, bụng trướng đầy và đau. Có trường hợp biến thành Dương minh bệnh khát nước, có trường hợp thành chứng tỳ ước, cũng khát nước, muốn uống nước, “thiểu thiểu dữ chi, dĩ pháp cứu chi” là uống nước chậm rãi, là biện pháp tốt. Trước đây giảng về thiên Thái dương, mạch phù phát nhiệt, vi nhiệt tiêu khát, tiểu tiện bất lợi, phía trước có một bút pháp so sánh “phát hãn hậu, đại hãn xuất, vị trung can táo, dục đắc ẩm thuỷ giả, thiểu thiểu dữ ẩm giả, linh vị khí hoà tắc dũ. Nhược mạch phù, tiểu tiện bất lợi, vi nhiệt tiêu khát giả, Ngũ linh tán chủ chi.” (发汗后,大汗出,胃中干燥,欲得饮水者,少少与饮者,令胃气和则愈。若脉浮,小便不利,微热消渴者,五苓散主之。) Hai ý này (ý này và ý ở trên) là giống nhau. Đã khát nước là trong vị bị khô táo, vì thế việc uống nước chậm rãi có tác dụng giúp vị bớt khô táo và có thể tự lành. Nếu như tiểu tiện bất lợi, người bệnh khát nước này tiểu tiện không thuận lợi, nếu như tiểu tiện không thuận lợi mà khát nước, thì không thể cho người này uống nước, vì người này tiểu tiện bất lợi, bàng quang bị tích ứ nước, vì thế sẽ dùng Ngũ linh tán.
Ý của đoạn văn này là theo tiền đề của Thái dương trúng phong, bên dưới có các kết cục khác nhau, có thể có bệnh tâm hạ bĩ (dạ dày bĩ tắc), có thể có bệnh truyền vào kinh Dương minh, có thể không đại tiện hơn 10 ngày (bất canh y), không khó chịu, cũng có nhiệt uất bàng quang tích ứ nước là chứng trạng của Ngũ linh tán. Vậy đoạn văn này có ý nghĩa như thế nào? Có nhà chú giải cho rằng ý nghĩa của nó không nhiều, nên đã xoá bỏ. Phía dưới câu “Khát dục ẩm thuỷ, thiểu thiểu dữ chi, đãn dĩ pháp cứu chi”, không có chú giải hoặc đã xoá bỏ, đây là sai lầm đơn giản của Vương Thúc Hoà. Trước đây có một số nhà chú thích {Thương hàn luận} chỉ cần gặp những câu văn không thông suốt, trúc trắc khó hiểu, họ liền đổ lỗi cho Vương Thúc Hoà và ông ta đã chịu nhiều bất công không đáng có.
Người viết có điểm thú vị trong đoạn văn này, vì ở đây có liên quan đến chứng khát nước của Bạch hổ thang chứng, các chứng Tỳ ước như không thay áo, không đại tiện 10 ngày, không khó chịu. Cái này còn liên quan với Dương minh, một là Tỳ ước (Tỳ âm bị hạn chế), không phải do đại tiện có phân khô, vì thế mà không khó chịu, không có phúc chứng (chứng trạng ở bụng). Khát nước là nhiệt chứng của Dương minh, chúng ta thấy chứng táo bón tệ hại của Thừa khí thang chứng không nói đến chứng khát nước, chỉ có nhiệt chứng của kinh Dương minh mới nói đến hội chứng khát nước. Ngũ linh tán chứng phía dưới cũng có chứng trạng khát nước, nhưng chứng khát nước này là tiểu tiện bất lợi, có ý phân biệt hỗ tương với chứng khát nước của Dương minh vị táo chứng. Một là chuyển về Dương minh, hai là thành chứng tích ứ nước ở Thái dương bàng quang, Hai điều này khác nhau.
245 脉阳微而汗出少者,为自和也;汗出多者,
为太过。C257
245 阳脉实,因发其汗出多者,亦为太过。太
过为阳绝于里,亡津液,大便因硬也。C258
246 脉浮而芤,浮为阳,芤为阴,浮芤相搏,
胃气生热,其阳则绝。C259
247 趺阳脉浮而涩,浮则胃气强,涩则小便数,
浮涩相搏,大便则难,其脾为约,麻子仁丸主之。
C260
245 Mạch dương vi nhi hãn xuất thiểu giả, vi tự hoà dã; Hãn xuất đa giả, vi thái quá. C257
245 Dương mạch thực, nhân phát kỳ hãn xuất đa giả, diệc vi thái quá. Thái quá vi dương tuyệt vu lý, vong tân dịch, đại tiện nhân ngạnh dã. C258
246 Mạch phù nhi khâu, phù vi dương, khâu vi âm, phù khâu tương bác, vị khí sinh nhiệt, kỳ dương tắc tuyệt. C259
247 Phu dương mạch phù nhi sáp, phù tắc vị khí cường, sáp tắc tiểu tiện sác, phù sáp tương bác, đại tiện tắc nan, kỳ tỳ vi ước, Ma tử nhân hoàn chủ chi. C260
Phương Ma tử nhân hoàn
Nhất thăng Hạnh tử nhị thăng Ma
Chỉ Thược bán cân hiệu khả khoa
Đại hoàng nhất cân Phác nhất xích
Hoãn thông tỳ ước thị chuyên gia
Ma tử nhân 2 thăng Thược dược nửa cân Chỉ thực bán cân, cứu Đại hoàng 1 cân, bỏ vỏ Hậu phác 1 xích, nướng, bỏ vỏ Hạnh nhân 1 thăng, bỏ vỏ và đầu nhọn, sao khô, tán thành bột luyện với mật làm thành hoàn , như hạt ngô đồng, mỗi lần uống 10 hoàn, ngày uống 3 lần. tăng dần, đến khi đại tiện là biết hạn độ.
Từ đoạn C256 đến đoạn C260 chủ yếu giảng về tân dịch bị tổn thương. {Thương hàn luận} nhấn mạnh “Bảo vị khí, tồn tân dịch” (保胃气,存津液) bảo vệ vị khí, bảo tồn tân dịch . Không bảo vệ được vị khí, dễ tạo thành tam âm chứng; Tân dịch không giữ gìn, thì dễ tạo thành chứng táo thực ở kinh Dương minh. Ở thiên Thái dương đã giảng về sau khi phát hãn đã xuất hiện các vấn đề tổn thương dương khí như Can khương Phụ tử thang chứng, Chân võ thang chứng. Khi tân dịch bị tổn thương sẽ dễ tạo thành chứng táo nhiệt (khô nóng) ở kinh Dương minh, âm dương bất hoà của bản thân Dương minh, “Mạch dương vi nhi hãn xuất thiểu giả, vi tự hoà dã, hãn xuất đa giả, vi thái quá.” (脉阳微而汗出少者,为自和也,汗出多者,为太过。)Dương mạch vi mà xuất ít mồ hôi, là tự hoà, xuất nhiều mồ hôi là thái quá.
“ Dương mạch thực, nhân phát kỳ hãn, xuất đa giả, diệc vi thái quá. Thái quá giả, vi dương tuyệt vu lý, vong tân dịch, đại tiện nhân ngạnh dã.” (阳脉实,因发其汗,出多者,亦为太过。太过者,为阳绝于里,亡津液,大便因硬也。) Dương mạch thực, vì xuất mồ hôi, nếu xuất nhiều mồ hôi, cũng là thái quá, thái quá là âm tuyệt bên trong, mất tân dịch, là nguyên nhân của phân cứng.
“Mạch phù nhi khâu, phù vi dương, khâu vi âm, phù khâu tương bác, vị khí sinh nhiệt, kỳ dương tắc tuyệt. Phu dương mạch phù nhi sáp, phù tắc vị khí cường, sáp tắc tiểu tiện sáp, phù sáp tương bác, đại tiện tắc nan, kỳ tỳ vi ước, Ma tử nhân hoàn chủ chi.” (脉浮而芤,浮
为阳,芤为阴,浮芤相搏,胃气生热,其阳则绝。趺阳脉浮而涩,浮则胃气强,涩则小便数,浮涩相搏,大便则难,其脾为约,麻子仁丸主之。)Mạch phù nhi khâu, mạch phù là dương, mạch khâu là âm, phù khâu tương bác (tương tranh), vị khí sinh nhiệt, dương bị cô tuyệt (xem ở dưới), mạch phu dương phù mà sáp, mạch phù vị khí mạnh mẽ, mạch sáp là tiểu tiện nhiều lần, phù sáp tương tranh, đại tiện sẽ khó khăn, là tạng tỳ bị chế ước, Ma tử nhân hoàn chủ trị bệnh này.
Đây đều là biểu hiện của âm bị tổn thương, âm đã không đầy đủ thì dương khí liền có dư, đại tiện sẽ gặp khó khăn. Trị Thái dương sợ làm tổn thương dương, trị Dương minh sợ gây tổn thương âm, tổn thương tân dịch, ý nghĩa là như vậy. “Mạch dương vi nhi hãn xuất thiểu giả, vi tự hoà dã” (脉阳微而汗出少者,为自和也) . Mạch dương vi mà xuất ít mồ hôi là tự hoà. Dương là phù sác, mạch phù mà vi, là tà khí không nhiều; Xuất ít mồ hôi, chính là biểu hiện của doanh vệ tự điều hoà, biểu lý cũng có biểu hiện tự hoà. Xuất mồ hôi rất ít, là biểu hiện của tự hoà. Đây chính là đã tự điều hoà với nhau rồi, có biểu hiện khuynh hướng được giải trừ của bệnh. Vì, “mạch dương vi” là tà khí không quá nhiều, mà “hãn xuất thiểu” (xuất ít mồ hôi), là âm khí không bị tổn thương nhiều, vì thế bệnh tà rất yếu, chính khí cũng không bị tổn thất nhiều, như vậy, doanh vệ, biểu lý đã điều hoà, và bệnh sẽ biến chuyển tốt, đây là hiện tượng tốt. Mạch chính là phù mà vi, mồ hôi xuất ra tương đối ít, “vi tự hoà dã” (为自和也) là đã tự hoà. Ý nghĩa của tự hoà, là bệnh có biến chuyển tốt. Nếu như “Hãn xuất đa giả” (汗出多者), xuất hãn quá nhiều, biểu hiện của nhiệt, nhiệt gây tổn thương chính khí, tân dịch, là “vi thái quá” (为太过). “Vi thái quá” là không thể “vi tự hoà” (为自和). “Vi thái quá” và “Vi tự hoà” là tương phản nhau, “vi tự hoà” là thích hợp, mạch phù và khá nhỏ, xuất hãn ít là bệnh tà cũng nhỏ yếu, chính khí không bị tổn thất, mọi chuyện đều tốt, nên bệnh có những biến chuyển tốt. Nếu hãn xuất quá nhiều, thì mạch có biểu hiện vi (nhỏ) không? Mạch không là mạch vi (nhỏ) nữa, ở điều dưới thảo luận về chứng xuất hãn quá nhiều sẽ gây tổn thương chính khí, cũng gọi là “Thái quá”. “Thái quá” không phải là hình tượng của ôn hoà, âm phận và tân dịch đều thụ thương, có khả năng cấu thành Dương minh bệnh, cấu thành vấn đề vị táo (dạ dày khô táo), tràng táo vì tân dịch bị tổn thương.
Có một số bản kinh ghép hai điều C257 và C258 thành một điều. “Dương mạch thực, nhân phát kỳ hãn, hãn xuất đa giả, diệc vi thái quá.” (阳脉实,因发其汗,汗出多者,亦为太过。) Dương mạch thực, vì xuất mồ hôi, xuất nhiều mồ hôi, cũng là thái quá. Dương minh mạch thực hướng lên trên “Hãn xuất đa giả” cần phải liên hệ xem xét, “mạch dương vi nhi hãn xuất thiểu giả, vi tự hoà.” . “Nhược dương mạch thực, ” là xuất hãn nhiều, vì toàn thân phát nhiệt, có biểu nhiệt thì phát hãn là tốt, giống như điều trên “Hãn xuất đa giả” cũng tốt, tóm lại, xuất hãn nhiều là thái quá. Thái quá cái gì? Quá nhiều mồ hôi gây tổn thương tân dịch, như vậy là “Dương tuyệt vu lý, vong tân dịch, đại tiện nhân ngạnh dã” (阳绝于里,亡津液,大便因硬也) Dương tuyệt bên trong, mất tân dịch, là nguyên nhân gây phân cứng. Có thể phát sinh chứng âm hư, bên trong âm phận cũng bị hư tổn. tân dịch đã hư, vị dương cũng (cô) tuyệt. Đây là “tuyệt” ở đây không có nghĩa là đoạn tuyệt, mà là cô tuyệt (hết do đơn độc). Âm dương từ ban đầu là cùng nhau, là điều hoà hỗ tương, hiện tại do xuất hãn quá nhiều nên âm đã hư tổn, xuất hãn thái quá nên dẫn đến âm dịch đã hư, dương khí bên trong lại mạnh. Dương khí mạnh một mình nên dương và âm cô tuyệt bất thông, như vậy chính là âm dương không thể điều hoà. Tân dịch không thể điều tiết chứng vị táo, “vong tân dịch, đại tiện nhân ngạnh”, như vậy phân sẽ bị cứng. Không nên nghĩ rằng hãn xuất ở thể biểu, mà không thể làm cho dương tuyệt ở trong lý. Hãn xuất ở biểu thái quá, có thể phát sinh dương tuyệt ở trong giống như vấn đề phân cứng. Vì sao? Xuất hãn quá nhiều, tổn thương tân dịch thuỷ cốc của vị, tân dịch ít đi, vị khí liền nhiều lên, dương khí của vị khí không điều tiết, nó liền cô tuyệt (hết do đơn độc). Dương khí thịnh cô tuyệt, thiên thịnh thiên suy (lệch về mạnh lệch về yếu) nên âm dương không thể điều hoà, vì thế phân bị cứng. Khi chúng ta thảo luận thiên Thái dương, phàm bệnh cần phát hãn, cần thổ, cần hạ, cần mất máu, mất tân dịch để âm dương tự hoà và khỏi bệnh. Hiện tại đã thể hiện điều này, nếu tân dịch bị tổn thương thì âm dương không thể tự hoà, thành tình trạng thiên thịnh thiên suy. Nếu như tân dịch qúa suy, dương khí quá thịnh, với vị gia mà luận, sẽ xuất hiện vấn đề dương tuyệt ở trong. Cô tuyệt rồi là hai phương diện không điều hoà, không thể chế ước nhau, không thể hiệp điều, không thể đối kháng. Như vậy, mất tân dịch là nguyên nhân phân bị cứng.
Đây là một nhân tố bệnh lý tạo thành Dương minh bệnh không thể xem nhẹ. Vì sao Trương tiên sinh dùng thang Quế chi để phát hãn, là vì cẩn thận, vì sao dặn dò nhiều lần như vậy? Vì sợ mất tân dịch. Cái đó gọi là “bảo vị khí, tồn tân dịch” (保胃气,存津液) bảo vệ vị khí, giữ gìn tân dịch. Đây không phải là câu nói suông, nó thể hiện trong đoạn văn, có người hỏi, “bảo vị khí, tồn tân dịch”, trong đoạn văn trên có câu này không? Chính trong đoạn tổng kết của Trần Tu Viên, vị Trần là một y gia rất ngưỡng mộ Trương Trọng Cảnh, ông ta dành rất nhiều thời gian để nghiên cứu sách {Thương Hàn Luận} sau đó viết cuốn {Thương hàn luận thiển chú} và {Trường Sa phương ca quát}, cuối cùng ông đề xuất , nói rằng { Thương Hàn Luận } là một bộ y thư để “Bảo vị khí, tồn tân dịch”, với chính khí là chủ yếu, đây là câu tổng kết của ông. Vậy Trần Tu Viên dựa vào đâu để tổng kết như vậy, cũng giống như đoạn văn này, hai đoạn văn đều có ý nghĩa về giữ gìn tân dịch, không thể thái quá, một bên thái quá là sẽ xuất hiện bệnh tật.
“Mạch phù nhi khâu, phù vi dương, khâu vi âm, phù khâu tương bác, vị khí sinh nhiệt, kỳ âm tắc tuyệt.” (脉浮而芤,浮为阳,芤为阴,浮芤相搏,胃气生热,其阴则绝。) mạch phù mà khâu, mạch phù là dương, mạch khâu là âm, phù khâu tương bác (tương tranh), vị khí sinh nhiệt, thì âm của nó tuyệt (hết). Các mạch đại, phù , sác, động, hoạt là các mạch thuộc dương, mạch khâu thuộc âm khí không đủ, “Khâu hình phù đại nhuyễn như thông, án chi bàng hữu trung ương không”( 芤形浮大软如葱,按之旁有中央空) hình dạng mạch khâu nổi và lớn mềm như cọng hành, ấn tay vào mạch thấy có mạch ở bên cạnh, còn chính giữa thì không thấy mạch, là mạch chỉ về hiện tượng khí huyết không đầy đủ. Mạch phù và khâu, phù là dương khí có thừa, khâu là âm khí không đủ, vì thế nói rằng, “phù vi dương, khâu vi âm” (浮为阳,芤为阴) mạch phù là dương khí có thừa , mạch khâu là âm khí không đủ, như vậy là dương khí có thừa đưa vào với âm dịch không đủ, cả hai cạnh tranh, bức bách nhau và như vậy dạ dày không thể không sinh nhiệt. Vì sao vậy? Vì dương khí có thừa mà âm khí không đủ, tân dịch cũng không đủ. Như vậy vị khí sinh nhiệt là dương tà mạnh. Vị khí sinh nhiệt, vị khí còn sinh nhiệt là dương khí còn thịnh, dương tà độc thịnh ở trong mà không thể điều hoà với âm, đại tiện phân cứng “kỳ dương tắc tuyệt” (其阳则绝) dương của nó sẽ hết, dương và âm liền cô tuyệt, sẽ không thể điều tiết cùng âm, nên âm dương không điều hoà, hình thành tình trạng thiên thịnh thiên suy là một cục diện bệnh lý “Kỳ dương tắc tuyệt”. “Tuyệt” này cũng chính là cô tuyệt. Hai điều trên dựa theo phép trị liệu để phân tích (phát hãn thái quá, hãn xuất thái đa), điều này thì phân tích dựa theo mạch.
Phần dưới còn từ mạch đến bệnh lý, từ bệnh lý đến chứng trạng, từ chứng trạng đến trị liệu, để giải quyết vấn đề âm không đủ. “Phu dương mạch phù nhi sáp”( 趺阳脉浮而涩). Thời cổ đại thiết mạch ở cả tay và chân, án bộ thốn đến bộ xích. Xem mạch ở tay và chân, ở chân có mạch Phu dương, là mạch vị của hậu thiên, là mạch chủ về phủ, cũng có mạch Thái khê là mạch của Thiếu âm. Thiếu âm là căn bản của tiên thiên, Phu dương là căn bản của hậu thiên. Thời cổ đại khán mạch có ba bộ chín hậu, hiện tại không còn sử dụng, mạch Phu dương này có ý nói về mạch của dạ dày, ở trên bàn chân gọi là Phu dương, với Thốn Quan Xích của chúng ta, ở thốn khẩu chính là mạch của tỳ vị, cũng có thể nói như vậy, phù và sáp, mạch phù là chỉ về dương thịnh, sáp chủ về âm hư. Phù, vị khí mạnh, mạnh là gì? Vì dương thuộc vị, dương mạnh nên dương của vị mạnh nên vị khí thịnh. Âm chủ ở tạng Tỳ, âm đã là không đủ, như thế tân dịch của tạng tỳ bị tắc nghẽn không thông, tân dịch của tạng tỳ không vận hành. Như vậy “Phù sáp tương bác” tương bác là kết nhưng không hợp , một là dương, một là vị âm, sáp, là phản ảnh đến âm, tỳ âm. Dương của tỳ vị thêm vào tỳ âm bất túc, như vậy là bức bách nhau, “đại tiện tắc nan”, đại tiện bị khó khăn, vì thế bệnh này còn gọi là bệnh tỳ ước. Tỳ ước chính là tạng tỳ không thể làm cho vị vận hành tân dịch, lúc này gọi là “ước” , “ước” là tân dịch không đủ.
{Nội Kinh} viết: “Ẩm nhập vu vị, du dật tinh khí, thượng thâu vu tỳ, tỳ khí tán tinh, thượng quy vu phế, thông điều thuỷ đạo, hạ thâu bàng quang. Thuỷ tinh tứ bố, ngũ kinh tính hành.” (饮入于胃,游溢精气,上输于脾,脾气散精,上归于肺,通调水道,下输膀胱。水精四布,五经并行。) Thuỷ nhập vào vị, tinh khí dư dật, chuyển đến tạng tỳ, tỳ khí phân tán tinh khí, đưa lên phế, thông điều thuỷ đạo, đưa xuống bàng quang. Tinh của phân bố tứ bề, năm kinh đều vận hành. “Tỳ thị vi vị vận hành kỳ tân dịch giả dã” (脾是‚为胃行其津液者也) tạng tỳ làm cho vị vận hành tân dịch, vì tân dịch có nguồn gốc từ thuỷ cốc, nhờ công năng vận hoá của tạng tỳ, chính là như vậy. Vấn đề hiện tại là, tỳ dương thịnh và tân dịch không đủ, vì mạch phù mà sáp, mạch phù là biểu hiện của vị khí cường, vị dương nhiệt mạnh, như thế, mạch sáp là biểu hiện của tỳ âm không đủ, tân dịch không đầy đủ, lúc này tân dịch không còn nhiều ở trong vị. Tạng tỳ giúp vị vận hành tân dịch có hai phương diện, một phương diện là tân dịch trong vị phân tiết hoá thành vật chất tinh vi, cung cấp cho phế và các tạng khí khác; Trên phương diện khác, tạng tỳ cũng có thể đưa một số tân dịch còn ở trong vị để điều tiết tình trạng khô táo của vị. Vì thế tạng tỳ giúp vị vận hành tân dịch chính là có hai phương diện xuất và nhập. Vấn đề hiện tại là tạng tỳ chịu sự uy hiếp của vị nhiệt, tạng tỳ không thể nắm giữ tân dịch còn ở trong vị. Tại sao? Một là do dương mạnh, hai là do âm yếu. Cả hai đối địch nhau, vì thế nên không điều tiết, không thể tự hoà, âm dương sẽ không thể tự hoà. Tân dịch của tỳ không thể đầy đủ trong vị, lúc này người bệnh tiểu tiện nhiều, “Sáp tắc tiểu tiện sác” (涩则小便数) Mạch sáp thì tiểu tiện nhiều. Tiểu tiện càng nhiều mạch càng sáp, vì tiểu tiện nhiều gây tổn thương tân dịch.
Tại sao tiểu tiện lại nhiều? Trọng Cảnh gọi đây là “Tân dịch thiên thấm” (津液偏渗), táo nhiệt bức bách, đây là “tương bác” (相搏), bác là loại trừ, trên thực tế ý nghĩa của chữ “bác” (搏) ở đây là bức bách, dương mạnh của vị bức bách âm dịch, vì thế tiểu tiện nhiều lần. Nếu tiểu tiện ít mà tân dịch còn trong vị, sẽ có thể điều tiết được chứng vị táo. Hiện tại là vị mạnh tỳ yếu, tân dịch không về đến bên trong tràng vị, ngược lại lại bị vị dương uy hiếp, chịu sự bó buộc mà bị bức bách thấm xuống dưới, nên lại tiểu tiện nhiều. Tiểu tiện càng nhiều thì tân dịch càng bị tổn thương và vị khí càng khô. Vì thế căn bản do điều tiết sinh lý hỗ tương của tỳ âm và vị dương, hiện tại chẳng những biến thành hỗ tương cách ly, mà còn hỗ tương bức bách là vị dương bức bách tỳ âm, như vậy đã thành chứng tỳ ước. Tỳ ước có hai ý nghĩa, một là âm của tạng tỳ không đủ, tân dịch của tạng tỳ cũng không đầy đủ, ước có nghĩa là thiếu hụt; Ngoài ra còn một lý do là Tỳ âm bị Vị dương lớn mạnh trói buộc, không thể đưa tân dịch vào trong vị, hình thành tình trạng bị thấm (ngấm). , tiểu tiện lại tăng lên. Đây là bệnh gì?, Gọi là bệnh Tỳ ước, là tam dương minh trong tổng luận ở thiên Dương minh, Thái dương dương minh cũng là chứng tỳ ước. Tỳ ước là dạng bệnh cụ thể nào? Là chứng phân kiên cố (chắc), phân rất cứng, cục phân rất nhỏ, phân rất cứng và cục phân lại rất nhỏ nhưng rất không dễ bài xuất ra ngoài. Việc bài tiết đại tiên vô cùng khó khăn và thường xuyên như vậy. Bệnh táo bón có tính tập quán, phải nỗ lực rất lớn để có thể bài tiết một cục phân rất nhỏ (chỉ như một con tính trên bàn tính) cũng không dễ dàng.
Điều trị như thế nào? Dùng Ma tử nhân hoàn. Không cần dùng thuốc thang, vì bệnh này không như bệnh ở kinh Dương minh có thể trong một sớm một chiều, dùng thang Thừa khí tả hạ là có thể giải quyết bệnh. Bệnh có tính thường xuyên, có tính tập quán, thời gian bệnh khá dài, vì thế không nên dùng thuốc thang, nên dùng thuốc viên, thuốc hoàn có tác dụng điều trị chậm, từ từ điều chỉnh âm dương bất hoà của tỳ vị, nhuận tràng trị chứng chứng khô táo, có nhiều khả năng giải quyết vấn đề. Vì thế thuốc hoàn này là một phương pháp nhuận tràng và hoãn hạ (tả hạ chậm). Tác dụng chủ yếu của thuốc hoàn Ma tử nhân là thông tràng nhuận táo, tả vị và trị tỳ. Phương này chính là thang Tiểu thừa khí gia Thược dược, Ma nhân, Hạnh nhân. Dùng thang Tiểu thừa khí để tả bớt vị cường (giảm bớt sức mạnh của vị), vị cường tỳ nhược, dùng Hậu phác, Chỉ thực, Đại hoàng tả vị thực, tỳ nhược là tỳ âm nhược, vì thế gia thêm vị Bạch thược để dưỡng tỳ âm, gia thêm Ma nhân, Hạnh nhân là những vị thuốc có dầu, có tác dụng nhuận táo, nhuận phế, nhuận tràng và nhuận vị, đồng thời có thể khiến vị khí hạ giáng, có tác dụng nhuận tràng thông u (môn vị), nhuận đại tiện và trị tỳ. Vì thế cả hai phương diện, thang Tiểu thừa khí trị vị cường, tả dương khí có thừa, tả vị nhiệt hữu dư; Thược dược, Ma nhân, Hạnh nhân trị chứng tỳ ước (tỳ âm bất túc, tân dịch bất túc). Các vị thuốc nhuận hoạt này, có nhiều chất dầu, uống vào còn cảm thấy vị ngọt, đối với chứng phân cứng khó đại tiện, có hiệu quả rất tốt.
Nên uống tăng dần, không nên uống nhiều thuốc trong một lần. “Thượng lục vị vi mạt, luyện mật vi hoàn, như ngô đồng tử đại, ẩm phục thập hoàn” (上六味为末,炼蜜为丸,如梧桐子大,饮服十丸) Tán 6 vị thành bột, dùng mật luyện thành hoàn, như hạt ngô đồng, uống mỗi lần 10 hoàn. Khi bắt đầu mỗi lần uống 10 hoàn, ngày uống 3 lần, tổng cộng là 30 hoàn. “Tiệm gia” tăng dần từ một lần 10 hoàn lên 12 hoàn, 13 hoàn, 14 hoàn, tăng đến đâu là giới hạn? là biết mức độ. Sau khi uống thuốc là đi đại tiện, lúc này việc đại tiện trơn tru dễ dàng, phân không khô, mọi việc đều thuận lợi. Hiệu quả của thuốc Ma nhân tư tỳ hoàn là rất tốt, được dùng để điều trị chứng táo bón tập quán (thói quen), đại tiện thường xuyên khó khăn, có khi phân quá khô cứng không bài tiết được gây chảy máu, với người có bệnh trĩ cũng bị ảnh hưởng khi dùng lực để đại tiện. Có người vì không đại tiện được mà buồn bực khó chịu, miệng bị hôi. Có người váng đầu hoa mắt, ảnh hưởng giấc ngủ. Vì thế, đây không chỉ đơn thuần là vấn đề tập quán táo bón, còn xuất hiện theo các vấn đề khác. Hôi miệng, bực bội, ngủ không yên giấc, đầu óc khó chịu suốt ngày, đi đại tiện thì ra máu, ảnh hưởng đến bệnh trĩ, tất cả đều do chứng đại tiện khó khăn gây ra. Uống thuốc này có thể khiến đại tiện không còn khó khăn, những vấn đề này cũng được giải quyết triệt để.
Ngày đó người viết đang ở đại Liên, có một bệnh nhân nư họ Lưu, bị táo bón không thể đại tiện, khoé miệng có một lớp da dày, Vì sao có lớp da này? Khi bị táo bón thì miệng và môi bị khô, người này thường dùng lưỡi để liếm tạo thành một lớp da mỏng, miệng môi lại khô và người bệnh tiếp tục liếm môi và lớp da ngày càng dày, sau đó lớp da bị nứt nẻ rỉ máu. Bệnh này sau khi điều trị không hiệu quả, người bệnh tìm đến người viết để nhờ khám bệnh, sau khi tìm hiểu biết bệnh nhân bị táo bón, nguyên nhân do tỳ vị bị nóng, tỳ âm hư, mà môi thuộc tỳ. Tỳ vị bị nóng, tỳ âm đã bị hư tổn thì môi miệng sẽ bị khô. Người viết cho bn uống Ma tử nhân hoàn để giải quyết vấn đề. Dùng Ma tử nhân để trị chứng táo bón tập quán, xác định được hiệu quả rất tốt.
Có một số phương thang phát hãn hiệu quả trong thiên Thái dương bệnh như thang Quế chi, thang Ma hoàng, thang Cát căn, thang Đại Tiểu thanh long, ba phép tiểu hãn thích hợp để giải quyết các biểu chứng khác nhau. Dương minh bệnh trị chứng lý thực với chủ yếu là phép tả hạ, các phép tả hạ cũng khác nhau, thang Đại thừa khí là phép tả hạ mãnh liệt, thang Điều vị thừa khí là phép tả hạ ôn hoà, thang Tiểu thừa khí có tác dụng tả hạ nhẹ nhàng chậm rãi, Ma tử nhân hoàn được gọi là phép nhuận tràng, Trư đảm pháp (mật lợn), Mật tiễn đạo (mật ong), Thổ qua căn đều là phép dẫn đạo. Những phương pháp tuy đều là để giải quyết vấn đề táo bón, nhưng bệnh có các mức độ nặng nhẹ khác nhau, vị trí táo kết khác biệt. Vì vậy nói rằng bản thân Dương minh cũng có sự khác nhau, trên phương diện tả hạ cũng có một số phương pháp khác biệt như vậy. Vì vậy, chúng ta học Dương minh bệnh với chủ yếu là phép tả hạ, giải quyết vấn đề Dương minh bệnh vị gia thực. chúng ta rất cần có một quan điểm tổng thể.
Trường Xuân