Từ điều 229 đến 236 (C242-C248)
229 阳明病,发潮热,大便溏,小便自可,胸胁满不去者,小柴胡汤主之。C242
229 Dương minh bệnh, phát triều nhiệt, đại tiện đường, tiểu tiện tự khả, hung hiếp mãn bất khứ giả, Tiểu sài hồ thang chủ chi. C242
Từ điều này đến điều C244 là giảng về phép hoà giải của kinh Dương minh, thảo luận về hợp bệnh của hai kinh Dương minh và Thiếu dương mà trị liệu ở kinh Thiếu dương, và sự khác biệt với việc điều trị ở kinh Dương minh đối với hợp bệnh ở ba kinh dương.
Làm sao biết được điều này là Dương minh bệnh? Vì có chứng trạng triều nhiệt. Triều nhiệt là nhiệt hình thuộc kinh Dương minh, chính là vị nhiệt. Nếu như là Vị gia thực, sẽ có đại tiện phân cứng, phân khô, đây là chứng trạng điển hình của Dương minh lý thực chứng. Hiện tại là đại tiện phân nát, tiểu tiện thoải mái.
Đại tiện phân hơi nát, không thành khuôn, tiểu tiện còn thoải mái, lượng nước tiểu không nhiều cũng không ít. So sánh phân tích với triều nhiệt, sẽ thấy rằng độ táo nhiệt trong ruột vẫn chưa thành thực chứng, vì thế phân của bn nát, không phải tiểu tiện ít, không phải tiểu tiện nhiều mà chính là tiểu tiện thoải mái. Nếu như đại tiện phân khô, tiểu tiện nhiều, thì trong ruột có phân khô, hiện tại bn phân nát, tiểu tiện thoải mái, điều này cho thấy vị chưa thể thành thực chứng. Nếu chỉ dựa vào một chứng trạng triều nhiệt để xem xét thì có vẻ Dương minh bệnh đã thành thực chứng, phân tích theo chứng trạng phân nát, tiểu tiện thoải mái thì ruột chưa thể là thực chứng. Nhiệt chưa thành thực, nhiệt là nhiệt, thực là thực, nhất định phải rõ ràng, không thể lẫn lộn. Tình huống này có thể dùng thang Thừa khí không? Không thể dùng.. Trường hợp này là đại tiện phân nát không phải là chứng táo kết hay nhiệt kết. Đồng thời, “hung hiếp mãn bất khứ” (胸胁满不去) là then chốt của biện chứng, phép nêu vấn đề này có ý hàm chứa chứng khó chịu ở ngực và cạnh sườn ở phần trên. Ở đây có hai ý, một ý nói về chứng khó chịu ở ngực và sườn, là chứng khó chịu ở ngực sườn của Thiếu dương. Bất khứ là bệnh tà còn ở kinh Thiếu dương, bệnh tà của Thiếu dương không hoàn toàn tiến nhập vào kinh Dương minh, Dương minh bị nhiệt nhưng không thành thực (chứng).
Đây là bệnh gì? Là triều nhiệt và ngực sườn phiền muộn, đại tiện phân hơi lỏng và tiểu tiện còn thoải mái. Ở đây cần trị liệu kinh Thiếu dương, dùng thang Tiểu sài hồ. Vì có chủ chứng của kinh Thiếu dương, dùng thang Tiểu sài hồ giải quyết bệnh tà Thiếu dương bán biểu bán lý, triều nhiệt đã tốt, Dương minh đã hoà, Thiếu dương đã thuận lợi, bệnh đã biến chuyển tốt. Trong {Tô Thẩm Lương Phương} đời nhà Tống đề xuất vấn đề giải nhiệt của Sài hồ. Thang Tiểu sài hồ chính là tán độc giải nhiệt, có thể trị 5 loại phát sốt, bao gồm phát sốt, vãng lai hàn nhiệt, triều nhiệt, sái hậu nhiệt (sốt sau khi khỏi bệnh), hữu thời phát nhiệt Năm loại nóng sốt bao gồm triều nhiệt (sốt vào khoảng từ 15h đến 17h, thang Tiểu sài hồ trị chứng nóng lạnh qua lại (vãng lai hàn nhiệt), trị chứng phát sốt là điều dễ hiểu, thuốc điều trị chứng triều nhiệt như thế nào?, điều này có căn cứ, đã được nêu rõ trong bài. Bài thuốc cũng có thể trị được chứng sốt sau khi khỏi bệnh, là bệnh thương hàn sau khi bình phục lại phát sốt cũng có thể dùng bài thuốc này để điều trị.
Có người sẽ hỏi, thang Tiểu sài trị chứng triều nhiệt như thế nào? Triều nhiệt chính là thuộc Dương minh, thang Tiểu sài hồ có thể trị chứng ngực sườn trướng đầy, hiện tại được dùng để điều trị chứng triều nhiệt có được không?
Điều này không nên nghi ngờ. Vì chứng triều nhiệt của Dương minh bệnh có nặng có nhẹ. Trước đây chúng ta đã đề cập Dương minh bệnh phát chứng triều nhiệt vào nhật bô (15h~17h), khi phát thì không thiết uống, lần áo sờ giường, bế tắc không nạp được, rất tệ hại, vì thế không đại tiện 5,6 ngày thậm chí hơn 10 ngày. Trường hợp này là đại tiện phân nát, tiểu tiện bình thường, tuy có phát sốt sau buổi trưa, nhưng không ảnh hưởng đến thân thể hay tinh thần, vì thế tuy sốt là do kinh Dương minh nhưng không quá nặng, nhẹ hơn so với nhiệt chứng táo nhiệt của Dương minh. Vì thế dùng thang Tiểu sài hồ để hoà giải Thiếu dương, cũng có thể hoà giải Dương minh. Vì Thiếu dương chủ xu (chủ đầu mối), bên trong không có táo thực, vấn đề có thể giải quyết, không nên nghi ngờ. Do đó có thể thấy, phàm triều nhiệt của loại hình ngoại cảm, chỉ cần đại tiện không khô cứng là có thể dùng thang Tiểu sài hồ để trị liệu.
230 阳明病,胁下硬满,不大便而呕,舌上白苔者,可与小柴胡汤。上焦得通,津液得下,胃气因和,身濈然而汗出解也。C243
230 Dương minh bệnh, hiếp hạ ngạnh mãn, bất đại tiện nhi ẩu, thiệt thượng bạch đài giả, khả dữ Tiểu sài hồ thang. Thượng tiêu đắc thông, tân dịch đắc hạ, vị khí nhân hoà, thân trấp nhiên nhi hãn xuất giải dã. C243
Điều này giải thích bệnh ở kinh Dương minh không đại tiện được cũng có thể dùng phép hoà giải.
Bệnh tà ở kinh Thiếu dương chưa trừ khứ hết, sẽ có chứng trạng hạ sườn đầy cứng và ẩu thổ. Bệnh ở kinh Thiếu dương nhưng chỉ cần một chứng trạng là được, không nhất thiết phải đầy đủ các chứng trạng. Chứng đầy cứng ở hạ sườn là chứng trạng chủ yếu của Thiếu dương, là khí của Thiếu dương bất hoà. Ẩu thổ là vị khí thượng nghịch (trào ngược), bệnh ở kinh Thiếu dương sẽ gây ẩu thổ. Vì sao lại không đại tiện? Hãy cùng xem, chúng ta có vấn để của kinh Thiếu dương là hạ sườn trướng đầy và ẩu thổ, chứng không đại tiện là thuộc về kinh Dương minh, đây chính là kinh Thiếu dương và kinh Dương minh cùng bị bệnh (tính bệnh = bệnh trước và sau) hoặc bệnh cùng lúc (hợp bệnh). Như vậy là dùng thang Đại sài hồ. Thang Đại sài hồ tả hạ Dương minh và hoà giải Thiếu dương, điều này đã học ở thiên Thái dương, tâm hạ cấp, uất uất vi phiền, Đại sài hồ thang chủ chi. Nhưng chính là không đại tiện của hội chứng thang Đại sài hồ, có tâm hạ cấp, uất uất vi phiền, ẩu thổ không ngừng và rêu lưỡi phải vàng. Vì là Dương minh nhiệt nên rêu lưỡi vàng. Hiện tại “thiệt thượng bạch đài giả” (舌上白苔者) là rêu lưỡi màu trắng, chính tại thời khắc quyết định này, Trương Trọng Cảnh nói lời quan trọng là rêu lưỡi không vàng và mà là rêu lưỡi có màu trắng.
Rêu lưỡi màu trắng nói lên điều gì? Rêu lưỡi trắng là rêu lưỡi của kinh Thiếu dương mà không phải là rêu lưỡi của kinh Dương minh, cho biết bệnh tà còn ở kinh Thiếu dương và chưa vào kinh Dương minh. Tà chưa vào kinh Dương minh cũng chính là không thuộc về Dương minh táo nhiệt, vẫn còn là bệnh tà ở Thiếu dương bán biểu bán lý, vì thế rêu lưỡi có màu trắng. Thiếu dương bệnh có nhiệt ở Đan điền, trong ngực có hàn, chính là biểu hàn lý nhiệt, còn có một chút hàn ở bán biểu, chưa hoàn toàn hoá nhiệt, do đó rêu lưỡi có màu trắng. không đại tiện mà thấy rêu lưỡi trắng, không thể tả hạ, có thể dùng thang Tiểu sài hồ. Tả Dương minh là sai lầm, cũng không thể dùng thang Đại sài hồ. Vậy có thể hỏi, đã không đại tiện một số ngày, thang Tiểu sài hồ không gây đại tiện, thang Đại sài hồ có thể tạo thuận lợi cho việc đại tiện, vì sao có thể dùng thang Tiểu sài hồ để thông đại tiện?
Trương Trọng Cảnh cho rằng thang Tiểu sài hồ cũng có thể thông đại tiện. Thang Tiểu sài hồ có tác dụng hoà giải biểu lý, sơ tiết can đảm, có thể sơ thông tam tiêu. Túc Thiếu dương đảm, thủ Thiếu dương tam tiêu đều là Thiếu dương, kinh Thiếu dương chủ sơ tiết, chủ quản khí, thuỷ, “Tam tiêu giả, thuỷ cốc chi đạo lộ, khí chi chung thuỷ dã” (三焦者,水谷之道路,气之终始也) tam tiêu là đường lối của thuỷ cốc, là nơi bắt đầu và cuối cùng của khí, Thiếu dương có thể thông đạt khí và thuỷ. Thang Tiểu sài hồ có thể điều chỉnh, hoà giải, điều chỉnh khí của tam tiêu; Khí của thượng tiêu thông thì khí đạt mà không uất, tân dịch vì thế cũng đi xuống dưới. Tình trạng không đại tiện ở đây không phải do Dương minh táo nhiệt, mà do khí của can đảm bị uất kết, thượng tiêu không thông gây ra. Uống thang Tiểu sài hồ, thượng tiêu được thông sướng, khí được thuận lợi, tân dịch được hạ xuống, đại tiện sẽ tự nhiên trở lại bình thường, cũng chính là lục phủ đã thông lợi. Vì vị khí đã hoà, khí ở thượng tiêu thuận lợi, tân dịch xuống đến hạ tiêu, vị khí của hạ tiêu hoà hoãn nên chứng trạng ẩu thổ cũng hết.
231 阳明中风,脉弦浮大而短气,腹都满,胁下及心痛,久按之气不通,鼻干不得汗,嗜卧,一身及面目悉黄,小便难,有潮热,时时哕,耳前后肿,刺之小差。外不解,病过十日,脉续浮者,与小柴胡汤。C244
231 Dương minh trúng phong, mạch huyền phù đại nhi đoản khí, phúc đô mãn, hiếp hạ cập tâm thống, cửu án chi khí bất thông, tỵ can bất đắc hãn, thị ngoạ, nhất thân cập diện mục tất hoàng, tiểu tiện nan, hữu triều nhiệt, thời thời uế, nhĩ tiền hậu thũng, thích chi tiểu sai. Ngoại bất giải, bệnh quá thập nhật, mạch tục phù giả, dữ Tiểu sài hồ thang. C244
232 脉但浮,无余证者,与麻黄汤;若不尿,腹满加哕者,不治。C244
232 Mạch đãn phù, vô dư chứng giả, dữ Ma hoàng thang; Nhược bất niệu, phúc mãn gia uế giả, bất trị.C244
Điều này có liên hệ với hai điều bên trên, đều là Dương minh bệnh hợp tính (hợp bệnh, tính bệnh) với Thiếu dương bệnh, điều này là “Dương minh trúng phong” (阳明中风), Thiếu dương có thấp nhiệt, đây là sự khác biệt, vì thế xuất hiện hoàng đản (chứng vàng da). Tuy đều là bệnh ở hai kinh Dương minh và Thiếu dương, hai điều trước giảng về nhiệt chứng ở Thiếu dương, điều này giảng về thấp nhiệt ở Thiếu dương với chứng trạng và trị liệu chứng vàng da. “Dương minh trúng phong” đây là nói về nguồn gốc của bệnh, kinh Dương minh bị phong tà gây bệnh.
“Mạch huyền” là mạch của kinh Thiếu dương, đặt mạch huyền lên vị trí thứ nhất. Phù đại là mạch của kinh Dương minh, xét theo mạch, có bệnh tà ở Thiếu dương, lại có nhiệt tà ở Dương minh. “Đoản khí, phúc bộ mãn …… tỵ can bất đắc hãn” (短
气,腹都满……鼻干不得汗)là thở ngắn, đầy bụng….khô mũi không có mồ hôi, là những phản ảnh kinh tà của Dương minh và phù nhiệt của nó. Vì sao gọi là đầy bụng? Thời cổ đại dùng chữ “đô” (都) có ý nghĩa như chữ “toàn,”(全), cho rằng toàn vùng bụng bị đầy trướng, không giới hạn ở một nơi nào của bụng. Mãn là trướng đầy, bụng trướng đầy là bệnh của Dương minh.
Mũi bị khô và không xuất mồ hôi, có hàm ý là bệnh có chứng trạng phát sốt, vì sao mà biết như vậy? Vì phần trên đã mô tả, “Ngoại bất giải giả, bệnh quá thập nhật” (外不解者,病过十日) bệnh bên ngoài chưa giải trừ, bệnh quá 10 ngày, lời mở đầu còn viết “Dương minh trúng phong”. Dương minh trúng phong còn có ngoại tà chưa giải trừ, như vậy để biết bệnh này có phát sốt, mũi khô phát nhiệt, không xuất hãn, cho thấy là có bệnh tà trong kinh Dương minh, toàn bộ vùng bụng trướng đầy là biểu hiện của phủ khí không thuận lợi, những chứng trạng này cho thấy kinh, phủ của Dương minh có bệnh tà. Vưu Tại Kính nói Dương minh bị uất nhiệt, nếu như hoàn toàn là lý chứng ở kinh Dương minh thì sẽ không xuất hiện mạch phù đại mà sẽ là mạch trầm thực, trầm khẩn và nhiều mồ hôi. Hiện tại bệnh nhân không xuất hãn, bn phát sốt, khô mũi, đầy bụng, cho thấy kinh phủ của Dương minh đều thụ bệnh, nhưng không đề cập đến đại tiện táo kết, đại tiện khó khăn, cũng không nói đến chứng triều nhiệt, bụng đau trướng đầy cự án (không muốn ấn nắn). Vì thế ở thời điểm này bệnh thuộc Dương minh thấp nhiệt, không phải là chứng Dương minh táo kết, đồng thời bệnh tà ở kinh biểu vẫn chưa hoàn toàn nhập lý.
Tại sao bn hơi thở ngắn? Vì khí biểu lý của Dương minh đều đã bị bế uất, vì thế hơi thở bn bị ngắn. “Hiếp hạ cập tâm thống, cửu án chi khí bất thông, tỵ can bất đắc hãn, thị ngoạ, nhất thân cập mục tất hoàng, tiểu tiện nan” (胁下及心痛,久按之气不通,鼻干不得汗,嗜卧,一身及目悉黄,小便难) là đau ở hạ sườn và tim, xoa nhẹ khí không thông, mũi khô không có mồ hôi, thích nằm, thân thể và mắt đều vàng, tiểu tiện khó khăn , ở đây còn có chứng trạng triều nhiệt, triều nhiệt là biểu hiện thuộc Dương minh. Ở đây cũng có Thiếu dương chứng, như “Hiếp hạ cập tâm thống”(胁下及下心痛) đau dưới sườn và dạ dày, điều thứ nhất giảng “Hung hiếp muộn bất khứ giả”(胸胁闷不去者)là ngực sườn phiền muộn không hết, điều thứ hai giảng về “Hiếp hạ ngạnh muộn”(胁下硬闷)cứng và phiền muộn ở hạ sườn, như thế điều thứ ba giảng “Hiếp hạ cập tâm thống”, bắt đầu từ hạ sườn, đây là chứng trạng chủ yếu của kinh Thiếu dương, hạ sườn và đau ở tâm hạ còn thêm bụng trướng đầy, vì thế người bệnh rất khó chịu. “Cửu án chi” (久按之) án chi là xoa nhẹ, dùng tay xoa nhẹ. “Khí bất thông” nên trướng đầy khó chịu do khí không thông. Người này “thị ngoạ” là thích nằm không thích hoạt động.
“Nhất thân cập mục tất hoàng” (一身及目悉黄), toàn thân đều thấy sắc vàng, tiểu tiện khó khăn, đây là phản ảnh của thấp nhiệt ở kinh Thiếu dương.
Kết hợp với lâm sàng để nhân thức về bệnh này, hiện tại chẳng phải là viêm gan vàng da cấp tính?
Vì ở đây có “Nhược bất niệu, phúc mãn gia uế giả, bất trị.” (若不尿,腹满加哕者,不治。) Trong quá khứ nội khoa Trung y có các chứng như Ôn hoàng, Dịch hoàng, Hoàng đản, trướng bụng có nước, bí tiểu, những bệnh này đều khó điều trị tốt. Vì thế trọng điểm là chứng Hoàng đản, vì những chứng trạng miêu tả của nó là bệnh hoàng đản (vàng da), thích nằm, vì sao thích nằm? Vì thân thể không có sức lực. Thân thể và mắt bị vàng, tiểu tiện khó khăn, tiểu tiện khó khăn bao gồm tiểu ít, tiểu khó, màu nước tiểu vàng đỏ. {Y Tông Kim Giám*Tạp bệnh tâm pháp yếu quyết}căn cứ theo ý từ {Nội Kinh}viết: “Diện mục thân hoàng dục an ngoạ, tiểu tiện hỗn hoàng đản bệnh thành” (面目身黄欲安卧,小便浑黄疸病成)mắt và thân thể phát vàng, nước tiểu vàng đục là bệnh hoàng đản. Đây là bệnh vàng da, là bệnh của gan mật, vì thế {Thương hàn luận} cho rằng nó là nhiệt chứng, nhiệt tượng, là thuộc về đảm (mật). thực tại Thiếu dương, hư tại quyết âm. Bệnh này có một vấn đề rất chủ yếu, đó chính là vàng da vàng mắt là chủ yếu.
Tiểu tiện khó là do thấp, đồng thời còn có nhiệt, thấp nhiệt tương chưng (ảnh hưởng với nhau), sẽ xuất hiện thân thể và mắt đều có sắc vàng. Người bệnh còn triều nhiệt, sốt sau trưa (giờ ngọ). Tình huống nêu trên rất rõ rệt, một phương diện có hội chứng của nhiệt tà bế uất của Dương minh kinh phủ, trên phương diện khác có hội chứng của Thiếu dương thấp nhiệt phát hoàng. Vì Dương minh và Thiếu dương cùng bị bệnh tà xâm phạm, vì thế bệnh này rất nghiêm trọng, nhiệt cũng nghiêm trọng. Mức độ nghiêm trọng như thế nào? “Thời thời uế, nhĩ tiền hậu thũng” (时时哕,
耳前后肿) thời thời là rất nhiều lần, uế là nấc cụt. bệnh này thuộc về Vị, cũng thuộc về Can Đảm, Vị trào ngược, khí Can Đảm nghịch lên, người bệnh bị nấc. “Nhĩ tiền hậu thũng” trước và sau tai đều bị sưng, mạch Dương minh, túc mạch Thiếu dương đảm kinh từ trước tai đi ra phía sau tai, vì thế khi hai kinh bị nhiệt, nhiệt độc thuận theo kinh lạc phát triển ra đầu ngoài nên phía trước và phía sau tai đều bị sưng, rất giống dịch độc hiện tại. Đây là hội chứng chung của cả hai kinh. Tuy là như vậy, nhưng vì một ở cạnh và một ở bên, hai bên cạnh của đầu, vì thế còn nghiêng nặng về Thiếu dương. Thời đó thày thuốc dùng phép châm thích, “thích chi tiểu sai” (刺之小差)châm thích với ý là dùng phép tả, dùng phép châm để tả nhiệt trong kinh, để hoãn giải chứng sưng ở trước và sau tai. Châm thích ở điểm nào thì không thấy đề cập, có phải là sưng ở đâu thì châm ở đó, điều này chưa chắc đã đúng, nó có kinh mạch, có huyệt, chẳng qua là không thấy nói đến. Theo ý của người viết trong trường hợp này thường dùng huyệt Chi câu, Khúc trì. Tóm lại, tả nhiệt ở hai kinh Dương minh và Thiếu dương. bệnh này sẽ có những chuyển biến tốt hơn, tình trạng sưng cũng giảm nhẹ, tuy không giải quyết được vấn đề lớn, vì thế gọi là “Tiểu sai”.
Bệnh này đã trải qua thời gian 10 ngày, “ngoại bất giải” là chỉ về việc gì?, đó là một từ khái quát, dùng “ngoại”, có phát nhiệt, còn có chứng trạng của Dương minh như mũi khô, không xuất hãn, phát nhiệt không có mồ hôi, đây chính là bên ngoài, không phải bên trong. Ngoại tà còn chưa giải, bệnh lại kéo dài quá 10 ngày, “mạch tục phù giả”, tiếp tục, là nói đến dương minh trúng phong mạch huyền phù đại, mạch còn tiếp tục xuất hiện phù huyền nhi đại. tiếp tục phù, một chữ “phù” để khái quát là mạch còn phù huyền, không phát sinh biến hoá. “Dữ Tiểu sài hồ thang”, làm thế nào để điều trị bệnh? Trị Dương minh? Hay trị Thiếu dương? dùng phép thanh hay phép hạ? hay dùng phép hoà giải? Dùng thang dược gì? Theo Trương Trọng Cảnh là dùng thang Tiểu sài hồ, vì bệnh này đã đến kinh Thiếu dương. Thiếu dương với Dương minh hợp bệnh cũng được, cùng bị bệnh cũng được, chỉ cần là Thiếu dương bệnh. Thì đều có thể điều trị Thiếu dương là chủ yếu. Ba kinh dương hợp bệnh điều trị tại kinh Dương minh, chính là dùng phép thanh, ly khai phép thanh, các phép khác đều không thích hợp, cần làm trái với những cấm kỵ của Thiếu dương, những cấm kỵ của Thiếu dương là các phép hãn, thổ và hạ. Hội chứng này hoàn toàn là chứng trạng điển hình của Thiếu dương, mà còn là chứng hoàng đản (vàng da), vì thế không thể dùng thanh pháp của Bạch hổ thang gia Nhân sâm. Tam dương hợp bệnh Bạch hổ thang gia Nhân sâm chính là để trị chứng xuất mồ hôi, dùng Bạch hổ thang khi bệnh nhân phiền khát xuất hãn. Ở đây không xuất hãn, vì thế nên cho bệnh nhân uống thang Tiểu sài hồ.
Tiểu sài hồ hoà giải Thiếu dương, hỗ trợ xu cơ, có thể thanh nhiệt ở biểu và lý cũng có thể điều trị chứng vàng da. Vì vị Sài hồ, Hoàng cầm trong thang Tiểu sài hồ cũng có tác dụng trị chứng vàng da. Trong {Kim Quỹ Yếu Lược} có thiên Hoàng đản, “chư hoàng, phúc mãn nhi ẩu giả, nghi Sài hồ thang.” (诸黄,腹满而呕者,宜柴胡汤。) Điều này có chứng đầy bụng, nhưng không ẩu thổ, đau cạnh sườn và tim, vì thế cũng có thể dùng thang Tiểu sài hồ. Dương minh tuy kinh và phủ đều uất, nhưng chưa đến mức độ đại tiện táo kết, còn có thể dùng thang Tiểu sài hồ để thanh thấu Thiếu dương và tà nhiệt ở Dương minh, điều trị chứng hoàng đản. Căn cứ theo quan sát hiện nay, Trương Trọng Cảnh viết “Dữ Tiểu sài hồ thang” (与小柴胡汤), chứ không viết “Nghi Tiểu sài hồ thang” (宜小柴胡汤), cũng không phải là “Tiểu Sài hồ thang chủ chi” (小柴胡汤主之). “Dữ” là cho, giao cho, có ý là thày thuốc nên kết hợp với tình huống cụ thể để tiến hành gia giảm thang Tiểu sài hồ cho phù hợp với bệnh nhân. Bản thân thang Tiểu sài hồ cũng có những phép gia giảm của nó, đến như chứng tiểu tiện khó khăn, thân thể và mắt đều có màu vàng, đau vùng hạ sườn và dạ dày, ấn lâu hơi thở không thông, dùng thang Tiểu sài hồ còn có thể dùng đại táo không? Thang Tiểu sài dùng đến 12 quả táo, đã chẳng đau hơn? “Hiếp hạ bĩ ngạnh đại táo trừ” (hạ sườn bế tắc và cứng không được dùng đại táo), khi bỏ đại táo, gia một chút Mẫu lệ.
Tiêu tiện khó khăn, mặt và mắt đều vàng, có thấp nhiệt, nên gia thêm vị Nhân trần, Ngũ linh tán, cũng nên gia thêm vị Phục linh. Khát nước gia Qua lâu căn, khứ Bán hạ.
Trong ngực phiền muộn khứ Bán hạ gia Qua lâu thực. Có thể gia thêm một ít vị thuốc thanh lợi thấp nhiệt và thuốc thanh nhiệt giải độc, sưng thũng trước và sau tai gia Liên kiều, có thể gia thêm Đại bối. Vì thế việc dùng thuốc cần linh hoạt không nên cứng nhắc. Phép dùng thuốc của cổ nhân là sống động, linh hoạt.
Nếu như bệnh này không có chứng trạng thấp nhiệt vàng da của Thiếu dương, cũng không có lý chứng của Dương minh, mạch phù mà không huyền đại, “vô dư chứng giả” (无余证者) không có chứng trạng khác, chỉ là kinh chứng của Dương minh, “dữ Ma hoàng thang”. Thời điểm này có thể dùng thang Ma hoàng giải trừ bệnh tà ở kinh biểu của Dương minh. Vì mạch không huyền, không có chứng trạng của Thiếu dương, cũng không có chứng trạng đầy bụng của Dương minh, vì thế có thể dùng thang Ma hoàng. Không có chứng trạng nào khác nữa, nhưng mạch phù, là giới hạn đã được vẽ ra. Đây là bệnh có vấn đề tiên lượng xấu. “Nhược bất niệu, phúc mãn” (若不尿,腹满), bụng trướng đầy do không tiểu tiện được, “gia uế” (加哕) là oẹ tăng nặng. Bệnh nhân đã bị oẹ liên tục từ trước, hiện tại chứng trạng nôn oẹ tăng nặng, còn bị vàng da, “bất trị”. Trương Trọng Cảnh viết: “Giá cá bệnh ngã trị bất liễu liễu” (这个病我治
不了了。) Trương Trọng Cảnh không trị được bệnh này, Ông ta không có biện pháp điều trị. Vì sao bệnh này lại bất trị? Không đi tiểu bụng bị trướng gọi là đóng, đóng là đóng cửa, oẹ lên gọi là nấc. {Nan kinh} viết, Xuất hiện chứng quan cách (ngăn cách), chính là khí âm dương không thông, thăng giáng không thuận lợi, lực thăng giáng đã hết, vì thế đây là bệnh khó, thậm chí là bệnh bất trị. Chúng ta kết hợp với lâm sàng hiện nay để xem xét bệnh này có điều trị được hay không. Bệnh hoàng đản, toàn cơ thể có màu vàng, khó tiểu tiện và triều nhiệt, cộng thêm bụng trướng đầy, không tiểu tiện. Hoàng đản viêm gan, tiểu tiện không xuống, bụng trướng đầy, trong bụng có nước, nấc liên tục, gọi là chứng nấc vàng da, nấc bệnh truyền nhiễm. Dù là bệnh cấp tính hay là bệnh mạn tính, chứng vàng da không tiêu, bụng trướng, bên dưới không tiểu tiện được, bên trên không phải ợ hơi mà là nấc, hiện nay cho rằng đây là biểu hiện co thắt của hoành cách mô nên nấc không ngừng, và đây là bệnh nguy hiểm.
233 阳明病,自汗出,若发汗,小便自利者,此为津液内竭,虽硬不可攻之,当须自欲大便,宜蜜煎导而通之。若土瓜根及与大猪胆汁,皆可为导。C245
233 Dương minh bệnh, tự hãn xuất, nhược phát hãn, tiểu tiện tự lợi giả, thử vi tân dịch nội kiệt, tuy ngạnh bất khả công chi, đương tu tự dục đại tiện, nghi mật tiễn đạo nhi thông chi. Nhược Thổ qua căn cập dữ đai trư đảm trấp, giai khả vi đạo. C245
Tiễn đạo mật phương
Dùng mật ong 7 hợp, cho vào nồi đồng nấu với lửa nhỏ, đến khi tựa như mạch nha, khuấy đều đừng để khô, có thể làm thành viên, vê dài thành như ngón tay, dài khoảng 2 thốn, phải làm thật nhanh, khi nguội sẽ cứng lại khó làm. Cho vào hậu môn, khi muốn đại tiện thì lấy ra.
Trư đảm trấp phương
Một cái mật lợn, lấy nước mật ra hoà với giấm, cho vào hậu môn, bằng khoảng thời gian ăn một bữa thì đại tiện ra.
Điều này giới thiệu về các phương pháp ngoại dẫn (gây đại tiện từ bên ngoài) của Dương minh bệnh.
Dương minh chưa thành chứng táo thực (tức là phân chưa bị khô), thì có thể dùng phép dẫn đạo từ bên ngoài để bệnh nhân đại tiện, không thể dùng phép công hạ bên trong.
Dương minh bệnh tự hãn, chính là quy luật, nếu như phát hãn, tân dịch sẽ thụ thương. Tân dịch thụ thương, mà “Tiểu tiện tự lợi giả” (小便自利者), chính là tiểu tiện cũng không thể điều tiết. Sau khi phát hãn lẽ ra sẽ tiểu tiện ít. Nếu lượng nước tiểu ít là tân dịch còn có thể điều chỉnh tình trang khô khan của vị tràng. Hiện tại tân dịch không thể điều tiết, “Thử vi tân dịch nội kiệt” (此为津液内竭) là tân dịch bên trong suy kiệt, tiểu tiện lại thuận lợi, lại thêm xuất hãn, vì thế tân dịch của tràng vị thiếu hụt nghiêm trọng, phân sẽ bị khô cứng, “tuy ngạnh bất khả công chi”(虽硬不可攻之) tuy phân cứng nhưng không thể dùng phép công hạ, vì phân khô cứng là do thiếu hụt tân dịch, mà không do chứng táo nhiệt gây ra, khác với chứng nội kết do táo nhiệt ở Dương minh bệnh, vì thế không thể dùng thang Thừa khí để công hạ.
Phân cứng do tân dịch bên trong suy kiệt mà không có các chứng trạng như bụng dầy trướng và đau, không thích ấn nắn, cũng không có chứng trạng triều nhiệt , nói sàm, không đồng dạng với chứng trạng của thang Thừa khí. Chứng trạng của thang Thừa khí phát trung khí, phân không xuống, không có tiện ý (mót đi đại tiện). Ở đây là có ý muốn đại tiện ,“đương tu tự dục đại tiện” (当须自欲大便) đang khi muốn đại tiện, khi có ý muốn đại tiện mà trong ruột có phân cứng, tân dịch bên trong khô kiệt đại tiện khó khăn thì dùng đạo pháp (phương pháp ngoại dẫn).
Dùng vào thời điểm nào? Bao gồm hai phương diện, một là khi đang muốn đại tiện “Đương tu tự dục đại tiện”, mức độ táo kết của phân không quá tệ hại, còn có yêu cầu bài tiện; Một phương diện khác là không thể đại tiện. Thày thuốc dùng đạo pháp đây cũng là thời điểm phù hợp. Vì sao vậy? Chính là nhân thế lợi đạo (theo đà thuận lợi), bn cần đại tiện mà không thể, dùng đạo pháp để hỗ trợ bn, dùng phương pháp dẫn đạo từ bên ngoài để bệnh nhân có thể đại tiện.
“Nghi mật tiễn đạo nhi thông chi” (宜蜜煎导而通之). Nấu mật lên để bôi trơn dẫn đường, là có tác dụng nhuận tràng (trị chứng đại tràng khô khan). “Nhược Thổ qua căn”, hoặc dùng vị Thổ qua căn, là một phương pháp tuyên khí thông táo dẫn đường từ bên ngoài. “Dữ đại trư đảm trấp” cần dùng một cái mật lợn to. Phép dẫn đường của mật lợn gọi là phương pháp dẫn đường (đặt thuốc ở hậu môn trị chứng táo bón) thanh nhiệt nhuận táo. “giai khả vi đạo” đều có thể dùng làm phương pháp hỗ trợ đại tiện. Vị trí bệnh ở điều văn này là trực tràng, phía trên hậu môn. Vùng này bị khô khan, bn muốn đại tiện nhưng không thể, vì thiếu tân dịch trong ruột khô khan gây ra chứng táo bón, không nên dùng thang Thừa khí, cần dùng phương pháp dẫn đạo từ bên ngoài (đặt thuốc ở hậu môn trị chứng táo bón). Vì chỉ là một khối ở trực tràng, xung quanh không có nhiều táo nhiệt, không nên xem thường phương pháp dẫn tiện, nó cũng là một cách giải quyết bệnh ở kinh Dương minh.
Trung y ở thời hậu Hán có phương pháp dẫn tiện (đặt thuốc nhuận tràng ở trực tràng), chính là một điểm đột phá của Trung y học. Căn cứ Trung ngoại y học để nghiệm chứng, khảo sát, chính là phép dẫn tiện của Trung quốc có trước các quốc gia khác trên thế giới khoảng 500 năm. Mà còn có phương pháp sử dụng phong phú đa dạng. “Nghi mật tiễn đạo nhi thông chi, nhược Thổ qua căn cập trư đảm trấp.” (宜蜜煎导而通之,若土瓜根及大猪胆汁。)như dùng mật, dùng vị Thổ qua căn và mật lợn)Yêu cầu chúng ta phải chọn lựa cho phù hợp. Nếu trong ruột khô khan sẽ sử dụng mật ong để dẫn tiện, vì mật vừa nhuận lại hoạt lợi (trơn, thuận lợi). Nếu trong ruột khô lại bị nóng thì dùng mật lợn làm thuốc dẫn tiện. Dùng mật lợn bơm vào ruột, mật lợn có khả năng nhuận táo lại có thể thanh nhiệt. Có y gia đề xuất mùa đông dùng mật để dẫn tiện, mùa hè dùng mật lợn để dẫn tiện. Nếu khí của lục phủ không thuận lợi, đại tràng khô khan, phủ khí còn bất lợi. khí huyết bất lợi, bụng dưới đầy trướng nhẹ, như vậy có thể dùng Thổ qua căn. Thổ qua căn có tác dụng tuyên khí nhuận táo. Hiện tại cần nói về phương pháp dẫn tiện. Hiện nay đã có thuốc xổ, và nhiều thứ khác, nhưng cũng nên nói về phương pháp dẫn tiện bặng mật ong, vì phương pháp này đã có từ rất lâu. Nấu mật ong để mật ong bay bớt hơi nước và tăng độ dính (niêm độ), cuối cùng ta có mật ong khá đặc. Khi để nguội mật này sẽ cứng lại. Cho một ít dầu vào hai tay xoa mật ong thành dải dài có đầu nhọn và hơi dày sau và có một chỗ lõm để dễ ấn vào hậu môn. Làm tổng cộng 3 cây mật ong, cho vào hậu môn 1 cây, một cây chưa hiệu quả, sau đó cho vào cây thứ hai, và cây thứ ba, sau khi cho 3 cây mật ong vào rồi, hộ lý hoặc bệnh nhân quấn băng vải sạch vào tay, sau đó dùng ngón tay cái bịt vào hậu môn, sau khi dùng ngón cái bịt hậu môn phải nhẫn nại một lát. Không bịt bằng ngón tay vào hậu môn thì không có tác dụng, mật gặp lạnh thì cứng lại, hơi nóng trong hậu môn làm cho mật tan chảy. Phân cứng là do thiếu tân dịch, mật tan chảy làm cho ruột nhuận hoạt phân sẽ dễ dàng đi xuống. Lúc này không nên bỏ tay ra khỏi hậu môn, vẫn cần giữ ngón tay trong hậu môn. Trong sách ghi lại là có dòng chảy ở bên hông, lúc này đột ngột rút ngón tay ra khỏi hậu môn và phân cũng theo ra. Không nên bỏ tay ra quá sớm, nếu không mật sẽ ra hết mà ảnh hưởng đến hiệu quả dẫn tiện.
Dùng mật lợn để dẫn tiện như thế nào? Dùng mật lợn lớn còn mới, rạch một miệng trên túi mật, sau đó dùng một ống trúc cho vào miệng túi mật, sau khi cắm ống trúc vào túi mật, dùng dầu thoa vào đầu ống trúc (bây giờ thì dùng Vaselin). Sau đó nhét đầu ống trúc vào hậu môn, hơi sâu một chút, đầu phía ngoài trông như một cục phân to. Dùng tay nắn bóp túi mật từng chút một. Đến khi mật lợn vào hết trong ruột, một lát sau phân sẽ thải ra ngoài, đây là phép thứ hai.
Thổ qua căn là phương thuốc bị thiếu, căn cứ theo Cát Hồng trong {Trửu hậu phương} thì đây là phương pháp không phổ biến, ba phương pháp dẫn tiện. Nước mật lợn không dễ tìm, việc sử dụng mật ong là thuận tiện nhất. Dương minh bệnh có phép tả hạ, trong phép tả hạ có đạo pháp (phép dẫn tiện), sau này sẽ thảo luận về Tỳ ước hoàn, Tỳ ước hoàn là một loại thuốc hoàn dùng trị chứng táo bón do thói quen.
234 阳明病脉迟,汗出多,微恶寒者,表未解也,可发汗,宜桂枝汤。C246
234 Dương minh bệnh mạch trì, hãn xuất đa, vi ố hàn giả, biểu vị giải dã, khả phát hãn, nghi Quế chi thang. C246
235 阳明病脉浮,无汗而喘者,发汗则愈,宜麻黄汤。C247
235 Dương minh bệnh mạch phù, vô hãn nhi suyễn giả, phát hãn tắc dũ, nghi Ma hoàng thang. C247
Hai điều này thảo luận về phương pháp trị liệu và hội chứng ở kinh biểu của Dương minh.
Đây là bệnh phát nhiệt và nhiều mồ hôi. Phát nhiệt và nhiều mồ hôi có phải là ngoại chứng của bệnh ở kinh dương minh? Không phải, vì còn có chứng trạng sợ lạnh nhẹ. Như vậy, đây có phải là biểu chứng của kinh Thái dương? Cũng không phải. Vì biểu chứng của Thái dương và Thái dương trúng phong đều không có nhiều mồ hôi. Có nhiều mồ hôi, sợ lạnh, sợ gió tương đối nhẹ nhàng, không có chứng trạng đầu gáy cứng đau là biểu hiện của bệnh tà ở kinh Dương minh. Vì kinh Dương minh ở sâu hơn so với kinh Thái dương, vì thế khi bị bệnh thì nhiều mồ hôi hơn, chứng trạng sợ lạnh ít hơn và không có chứng trạng đầu gáy cứng đau, mạch từ phù hoãn biến thành mạch trì. Trị liệu chính là dùng thang Quế chi. Thang Quế chi có tác dụng phát hãn giải cơ, vì có chứng trạng hơi sợ phong hàn là bệnh tà ở biểu chưa được giải trừ. Đây chính là chứng trạng ở kinh biểu của Dương minh, không phải là ngoại chứng do nội nhiệt ở Dương minh chưng phát ra ngoài, nên chú ý phân biệt.
Dương minh bệnh với chủ yếu là Vị gia thực, đề cương là “Dương minh chi vi bệnh, vị gia thực dã.” (阳明之为病,胃家实也。)Nhưng cũng không giới hạn ở một hội chứng vị gia thực, cũng có chứng trạng của kinh biểu của Dương minh. Vị phủ là ở trong (lý), bệnh của ba kinh dương đều chính là phản ảnh của bệnh biến của lục phủ, chúng là lý chứng. Kinh mạch của phủ đi ra ngoài, vì thế, chúng ta thấy rằng biểu chứng của Dương minh bệnh gọi là chứng của kinh biểu. Biểu thị vị trí xác định, kinh là kinh lạc thụ tà. Do đó có thể thấy, dương minh bệnh lý cũng có biểu lý, hàn nhiệt, hư thực.
Hội chứng kinh biểu của kinh dương minh và hội chứng kinh biểu của Thái dương bệnh có phép trị liệu tương đồng. Có mồ hôi thì dùng thang Quế chi, không có mồ hôi thì dùng thang Ma hoàng. Nhưng dựa trên mức độ của biểu chứng, phản ảnh của tình trạng bệnh, cả hai có sự khác biệt. Thí dụ như, biểu chứng của Thái dương bệnh đều rất sợ lạnh, ít mồ hôi; Quế chi thang chứng của Dương minh bệnh thì hoàn toàn tương phản, vì xuất nhiều mồ hôi, sợ gió, sợ lạnh ở mức độ nhẹ. Nguyên nhân vì Thái dương chủ biểu, Dương minh chủ về cơ nhục, biểu của Dương minh ở sâu hơn so với biểu của Thái dương. Tà khí đã hướng vào trong, nên sợ lạnh ít, xuất nhiều mồ hôi. “Dương minh bệnh ngoại chứng vân hà? Thân nhiệt, hãn tự xuất, bất ố hàn, phản ố nhiệt dã.” (阳明病外证云何?
身热,汗自出,不恶寒,反恶也。) Chứng trạng bên ngoài của Dương minh bệnh là gì? Thân nóng, tự xuất hồ hôi, không ghét lạnh, lại ghét nóng. Trương Trọng Cảnh trong tổng cương ở phần trước đã chỉ ra một loạt các điểm phân biệt, nếu như phát nhiệt xuất hãn của lý chứng thì không sợ lạnh; Chứng của kinh biểu sẽ khiến cho bn hơi sợ gió lạnh, nên không được luận là lý chứng. Như vậy còn có thể cho bệnh nhân phát hãn nhẹ, vì thế còn được dùng thang Quế chi.
Ở phần trên ý tứ của điều này đã được trình bày rõ ràng, ở phần dưới điều này là loại suy (suy ra để biết).
Dương minh bệnh kinh biểu thụ tà, thụ hàn tà, sẽ không có mồ hôi mà suyễn, ngoại biểu bị bế tắc do phong hàn nên phế khí bất lợi, phế khí không tuyên, làm cho không có mồ hôi mà suyễn. Ở đây không đề cập đến Dương minh bệnh đầu gáy cứng đau, bởi vì kinh mạch này không ở Thái dương mà là ở Dương minh. Đương nhiên việc không đề cập đến đầu gáy cứng đau của Thái dương, nó là chứng của kinh biểu ở Dương minh, vì thế có nhiều nhà chú thích cho rằng, hàm ý là nên có các đặc điểm như đau mắt, khô mũi đau vùng đầu trán. Các chứng trạng như đau mắt, khô mũi, đau vùng trán, mặt đỏ là những phản ảnh của chứng trạng của kinh Dương minh. Đã gọi mạch phù là của Dương minh, mạch trì của Dương minh bệnh, vì phía trước có tên là Dương minh kinh nên có đặc điểm của kinh Dương minh.
236 阳明病,发热汗出,此为热越,不能发黄也。但头汗出,身无汗,剂颈而还,小便不利,渴引水浆者,此为瘀热在里,身必发黄,茵陈蒿汤主之。C248
236 Dương minh bệnh, phát nhiệt hãn xuất, thử vi nhiệt việt, bất năng phát hoàng dã. Đãn đầu hãn xuất, thân vô hãn, tễ cảnh nhi hoàn, tiểu tiện bất lợi, khát dẫn thuỷ tương giả, thử vi ứ nhiệt tại lý, thân tất phát hoàng, Nhân trần hao thang chủ chi. C248
Nhân trần hao thang phương
Nhị lạng đại hoàng thập tứ chi
Nhân trần lục lạng tiên tiễn nghi
Thân hoàng niệu đoản phúc vi mãn
Giải tự tiền âm pháp tối ky
Nhân trần hao 6 lạng Chi tử 14 quả, bổ
Đại hoàng 2 lạng, bỏ vỏ
Ba vị thuốc trên, dùng 1 đấu nước, nấu vị Nhân trần trước cạn còn 6 thăng, cho 2 vị còn lại vào, nấu còn lại 3 thăng, bỏ bã, chia làm ba lần uống thuốc còn ấm, tiểu tiện thuận lợi, màu nước tiểu như màu nước tạo giác, màu đỏ, sau một đêm bụng giảm, màu vàng theo tiểu tiện ra ngoài.
Điều này thảo luận chứng trạng và trị liệu bệnh vàng da loại hình nhiệt nhiều hơn thấp, Dương minh bệnh không hoá táo mà hoá thấp.
Dương minh bệnh trước tiên là có nhiệt, có nhiệt nên thành chứng táo (khô), chứng táo biến thành thực chứng, đây là chủ chứng của Dương minh vị gia thực (chứng trạng). Cũng có nhiệt chứng của Dương minh không hoá táo, nhiệt kết hợp với thấp thành hội chứng phát hoàng (vàng da) của thấp nhiệt. Vì thế bệnh của kinh Dương minh cũng phân thành hai loại. Hoá theo táo thì táo bón, tiểu tiện nhiều; Hoá theo thấp thì tiểu tiện ít, phân không khô. Vì sao lại đề cập đến thấp nhiệt trong thiên của kinh Dương minh? Nói đến thấp và táo (ẩm ướt và khô ráo), hàn và nhiệt (lạnh và nóng) đều là tương đối, và tương đối là vấn đề của biện chứng. Bệnh ở Dương minh có thể là bệnh táo, cũng có thể là bệnh thấp, chỉ nói đến táo mà không nói đến thấp, đó chính là tính phiến diện (một chiều). Vì thế khi nói về táo nhiệt cũng cần phải nói về thấp nhiệt. Khí của Dương minh là táo (Táo kim), khí của Thái âm là thấp, Dương minh và Thái âm lại có quan hệ biểu lý, vì vậy thấp nhiệt và táo nhiệt chính là có quan hệ với Dương minh.
“Dương minh bệnh phát nhiệt hãn xuất, thử vi nhiệt việt” (阳明病发热汗出,此为热越). Nếu bệnh ở Dương minh là chứng táo nhiệt, có phát nhiệt, xuất hãn, đây gọi là nhiệt vượt lên. Vượt là phát dương, có ý là vượt phát, là nhiệt ở bên trong có thể hướng ra ngoài phát vượt lên đầu. Như vậy vừa xuất hãn, nhiệt từ bên trong hướng ra ngoài và vượt lên trên, sẽ “Bất năng phát hoàng dã” (不能发黄也) không phát bệnh vàng da, Dương minh bệnh sẽ không phát hoàng (vàng da). Vì sao? Vì bệnh đã hoá theo táo, thân thể nóng, xuất hãn tân dịch thụ thương, vị tràng khô khan, đã nóng nhiệt lại thêm tân dịch khô khan, đại tiện táo kết tạo thành chứng táo thực của Dương minh bệnh.
Nếu như nhiệt không thể vượt lên, không có những tình huống tân dịch thụ thương, thì có thể “đãn đầu hãn xuất, thân vô hãn, tề cảnh nhi hoàn” (但头汗出,身无汗,剂颈而还) chỉ xuất mồ hôi ở đầu, thân thể không xuất mồ hôi, chỉ có mồ hôi từ cổ trở lên. Tề cảnh là ngang cổ, trên đầu xuất hãn chảy xuống cổ, phía dưỡi không xuất hãn. Từ cổ trở lên, giới hạn xuất hãn là đến cổ trở lên, chỗ khác không xuất hãn, phía dưới cũng không xuất hãn. Đây là nhiệt không vượt ra ngoài, tân dịch cũng không tổn thương nhiều, vì thế không phát sinh hiện tượng táo nhiệt. Vì sao nhiệt của nó không vượt lên được? Vì bên trong có thấp, nhiệt hợp với thấp, thấp tà cản trở nên nhiệt tà không bốc ra ngoài. Vì có thấp, thấp nhiệt kết hợp với nhau, thấp là vật hữu hình lại được bài tiết theo tiểu tiện. Tiểu tiện là đường của nước, việc bài tiết thuỷ thấp theo tiểu tiện xuất ra ngoài. Hiện tại vì có nhiệt, nhiệt và thấp ngưng tụ lại với nhau, thấp cũng không thoát ra được, vì thế nên tiểu tiện bất lợi. Đại tiện bất lợi là hoá theo táo (khô khan), tiểu tiện bất lợi là hoá theo thấp, đây là tiểu tiện bất lợi là bệnh hoá theo thấp. Đây chính là văn pháp đối tỉ (so sánh). Thế nào là táo? Thế nào là thấp? Một cái là tiểu tiện bất lợi, một cái là đại tiện bất lợi; Một cái là xuất hãn toàn thân, một cái là xuất hãn trên đầu. Ở đây rất có thứ tự, tầng lớp. Chúng ta nghiên cứu Thương hàn luận là chúng ta cũng học văn pháp. Thấp không được thải ra, nhiệt cũng không vượt lên được, thấp và nhiệt giao kết với nhau, liền có vấn đề về tỉ lệ, tóm lại thấp nhiều hay nhiệt nhiều? hay là thấp và nhiệt đều mạnh? “Khát ẩm thuỷ tương giả”, khát và muốn uống nước, muốn uống nước cơm (làm từ gạo), thời xưa gọi là tương thuỷ. “Khát ẩm thuỷ tương giả” (渴饮水浆者)khát uống nước cơm là biểu hiện của nhiệt nhiều hơn thấp, vì hội chứng nhiệt khá nổi trội, đó là uất nhiệt ở bên trong, tuy nhiên chính là thấp nhiệt bác kết (kết lại nhưng không hoà hợp) hỗ tương, nhưng nhiệt mạnh hơn thấp, gọi là ứ nhiệt tại lý. Nhiệt và thấp ứ kết ở trong, không thể loại bỏ ra ngoài cơ thể, thấp và nhiệt hun đốt, ảnh hưởng đến đảm dịch mà phát sinh chứng vàng da. Điều trị bệnh này dùng thang Nhân trần hao có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp. Thang Nhân trần hao gồm có 3 vị thuốc, gọi là Nhân Chi Hoàng, Nhân trần, Chi tử, Đại hoàng. Lượng Nhân trần sử dụng nhiều hơn hai vị còn lại, Nhân trần 6 lạng, Chi tử 14 quả, Đại hoàng 2 lạng. Ba vị thuốc trên, dùng 1 đấu nước, trước tiên nấu vị Nhân trần, chia làm ba lần uống thuốc còn ấm. Vì bệnh này vốn dĩ tiểu tiện không thuận lợi, sau khi uống thang Nhân trần hao tiểu tiện sẽ thuận lợi. Màu nước tiểu màu đỏ như màu nước gai bồ kết. Sau khi tiểu ra nước màu đỏ, qua một đêm bụng bệnh nhân giảm. Hàm ý là bụng bệnh nhân vẫn còn trướng nhưng đa giảm so với trước, đoạn văn dưới còn “Hoàng tòng tiểu tiện khứ dã” (黄从小便去也) Hoàng đản theo nước tiểu bài tiết ra ngoài, nên không vàng da.
Phương Nhân trần hao là một phương kinh điển, hiện nay vẫn còn được nhiều y gia sử dụng rộng rãi, hiện nay trong các y viện bệnh truyền nhiễm, kết hợp trung tây y đã điều chế thang Nhân trần hao thành dạng thuốc tiêm. Căn cứ theo những hiểu biết của bản thân, đại khái có 2 loại tình huống, một là dịch tiêm Đại hoàng, trị chứng hoàng đản rất tốt; Một loại khác là thuốc tiêm không giống thuốc sắc uống của Trung y. Mọi người có thể tiêm hoặc có thể truyền dịch thuốc như truyền nước biển, với sự kết hợp tốt của trung tây y, nên việc điều trị bệnh có hiệu quả nhanh hơn.
Nhân trần hao là thuốc hàn lương (mát lạnh), có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp, lợi gan mật, nên có nhiều khả năng trị chứng vàng da. Mỗi vị thuốc đều có tác dụng chủ đạo, có rất nhiều vị thuốc thanh lợi thấp nhiệt, nhưng để trị chứng hoàng đản thì không vị thuốc nào tốt bằng vị Nhân trần. Vì thế với việc dùng Nhân trần hao điều trị chứng hoàng đản, có điểm giống như thuốc đặc hiệu, không có Nhân trần là không thể.
Chứng vàng da chia làm hai loại: Dương hoàng và âm hoàng, với chứng âm hoàng dùng Can khương, Phụ tử gia Nhân trần hao cũng có hiệu quả. Vì thế Nhạc Mỹ Trung Nhạc lão nói: “Trung y hữu một hữu đặc hiệu dược?” (中医有没有特效药?)Trung y có thuốc đặc hiệu không? Cũng có. Ông ta nói: “Na Nhân trần hao trị hoàng đản ngã khán tựu thị đặc hiệu dược.” (那茵陈蒿治黄疸我看就是特效药。)Theo ông thang Nhân trần hao trị chứng vàng da là thuốc đặc hiệu. Thang Nhân trần hao trị chứng vàng da với vị Nhân trần là chủ gọi là quân dược, vị thuốc này có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp, có nhiều khả năng thanh lợi bệnh tà ở gan mật, đây là vị thuốc không thể thiếu để điều trị chứng hoàng đản, nhất là chứng hoàng đản nóng ở trong (lý nhiệt).
Căn cứ theo kinh nghiệm lâm sàng điều trị chứng hoàng đản của một số thày thuốc cao tuổi, Nhân trần hao 6 lạng, hiện nay tương đương với 6 tiền, 3 nhân 6 là 18, không đến 20g, chũng ta nên dùng lượng thuốc nhiều hơn, có thể dùng đến 30g. trẻ em từ 6~8 tuổi cũng có thể uống đến 30g. Nhân trần hao không có tác dụng phụ, lượng sử dụng không nên quá ít. Đó là một điểm.
Điểm thứ hai, bệnh hoàng đản thuộc dương hoàng, toàn thân có màu vàng, màu vàng tươi như quả quất chín, tiểu tiện bất lợi, nước tiểu đỏ và ít, là thích hợp với bệnh chứng của thang Nhân trần hao. Ngoài việc dùng thang Nhân trần hao, cần nấu nước Nhân trần hao, dùng 60~90g Nhân trần hao nấu nước uống thay nước trà, khát là uống. Cần chú ý kết hợp Trung tây y, Tây y có hoá nghiệm, sau khi uống thang Nhân trần hao, chỉ số hoàng đản (chỉ số này hiện nay đã bãi bỏ) Có một sự kiểm tra khách quan để xem nó giảm bao nhiêu, đôi khi nó rất nhanh và đôi khi nó thực sự rất chậm. Thấy da hết vàng, đi kiểm tra vẫn chưa trở lại bình thường, có nhiều trường hợp như vậy. Do đó, chứng thấp nhiệt niêm nị, mặt như có dầu mỡ là rất nan giải, không thể chữa khỏi một cách dễ dàng.
Cá nhân tôi có một bài học về thực hành lâm sàng, khi đó, có một giáo viên tiểu học ở Thuỷ Định Môn, họ là Trương, qua một đêm bị bệnh vàng da. Vàng da dương tính, rêu lưỡi vàng, mắt vàng, sốt, nước tiểu vàng, đỏ, trong lòng khó chịu, tôi có kê đơn thuốc thang Nhân trần hao, sau khi uống khoảng 5 – 6 liều thì toàn thân không còn vàng, bệnh đã giảm.
Lúc đó là phòng khám chung, nghỉ ốm là phải nghỉ, nếu nói khỏe, là phải đi làm. Nhìn bệnh này thì dễ không có màu vàng là không thấy bệnh, nhưng sau một tuần rồi nó không tái lại và bây giờ nó lại có màu vàng. Sau đó tôi dùng thang Nhân trần hao . Sau khi uống thuốc bệnh lại giảm. Đại khái là điều này lập lại 2 lần nữa, lúc này người viết có cảm giác khó xử và không hiểu tại sao bệnh lại cứ tái đi tái lại?
Đó là do ngừng thuốc trước khi chữa khỏi triệt để, điều này là không đúng. Như thế nào gọi là triệt để, như thế nào gọi là không triệt để? Bây giờ có sự kết hợp của Trung y và Tây y, có thể xét nghiệm và có thể thấy được kết quả. Sau này người viết mới nghĩ ra một phương pháp, đó là trị Dương Hoàng thì phải hỏi hai vấn đề, nếu uống thang Nhân trần hao thì nên hỏi về tiểu tiện như thế nào? Nếu nước tiểu vẫn có màu đỏ, thậm chí trên da đã hết màu vàng nhưng nước tiểu chưa thay đổi thì bạn vẫn phải uống Nhân trần hao thang, và không được ngưng thuốc. Khi nào màu nước tiểu chuyển sang màu vàng nhạt, không còn màu sẫm, hoặc gần như vậy thì kê thêm vài thang thuốc nữa và uống Nhân trần như uống trà để củng cố. Phân không còn màu trắng. Nhìn chung, bệnh nhân vàng da đi ngoài ra phân trắng. Uống thang Nhân trần hao sẽ khiến phân chuyển từ trắng sang vàng. Nhớ là phân chuyển từ trắng sang vàng, đi nhiều lần phân sẽ chuyển sang màu vàng, không còn màu trắng, tiểu tiện từ màu vàng biến thành màu nhạt, lúc này thang Nhân trần hao thang đã sẵn sàng để củng cố hiệu quả.
Vì sao lại dùng vị Đại hoàng? Vì đây là bệnh do bệnh do thấp và nhiệt kết dính lại với nhau. Phàm những bệnh do kết lại, chúng ta đã nói nhiều như táo kết, thuỷ nhiệt hỗ kết, huyết nhiệt ngưng kết v.v… là những bệnh do kết trệ gây nên thì nhất định phải dùng vị Đại hoàng. Vì Đại hoàng có khả năng phá kết, tẩy rửa tràng vị, thay cũ đổi mới. Vì chứng trạng của thang Nhân trần hao là nhiệt thịnh, miệng khát uống nước, bụng trướng đầy, vì thế được dùng Đại hoàng để tẩy rửa vị tràng. Phá sự ngưng kết của thấp nhiệt.
Vì sao dùng vị Chi tử? Chi tử là vị thuốc đắng lạnh và nhẹ, lợi tam tiêu, lợi tiểu tiện, thanh thấp nhiệt, có thể phụ tá Nhân trần khiến cho thấp nhiệt theo tiểu tiện xuất ra ngoài. Vì thế thang Nhân trần hao và thang Đại thừa khí, Tiểu thừa khí không giống nhau, tác dụng lợi tiểu của phương thang này nhiều hơn, tác dụng tả hạ thì ít hơn, vì sao? Vì mục đích của nó khứ thấp, là lợi thấp nhiệt mà không phải là hạ táo nhiệt, vì thế Trương Trọng Cảnh nói nên lợi tiểu tiện, không nói nên lợi đại tiện.
Thang Nhân trần hao có trị được chứng hắc đản không? Hắc đản da không vàng, trên thân có màu rất đen, da thịt và mặt đều đen. Bệnh hoàng đản nặng, tiểu tiện đen sẽ biến thành bệnh hắc đản. Có một số bệnh hắc đản thuộc loại hình âm hàn, sau đó bị loại trừ, có loại thuộc nữ lao đản cũng bị loại trừ, chúng ta nói về chứng hắc đản còn thuộc loại hình thấp nhiệt, khi thấp nhiệt hoàng đản nghiêm trọng có thể da thịt bệnh nhân biến thành màu đen trong rất đáng sợ, nếu như rêu lưỡi vàng nhờn, mạch hoạt, tiểu tiện có màu vàng lượng ít, bất luận là thời gian dài, là viêm gan mạn, là gan hoại tử á cấp tính, không cần quan tâm, còn có thể dùng thang Nhân trần hao. Có phải khi bệnh đến thời kỳ cuối thì không thể dùng thang Nhân trần hao? Không phải như vậy. Người viết hiểu một cách sâu sắc là có thể dùng. Da thịt phát màu đen, chỉ cần nhận ra nhiệt chứng, thực chứng của thấp nhiệt là có thể dùng thang Nhân trần hao.
Trường Xuân