Từ điều 215 đến điều 228 (C228-C241)
215 阳明病,谵语有潮热,反不能食者,胃中必有燥屎五六枚也。若能食者,但硬耳,宜大承气汤下之。C228
215 Dương minh bệnh, chiêm ngữ hữu triều nhiệt, phản bất năng thực giả, vị trung tất hữu táo thỉ ngũ lục mai dã. Nhược năng thực giả, đãn ngạnh nhĩ, nghi đại thừa khí thang hạ chi. C228
Đây là phép đảo trang thời cổ đại, “nhược năng thực giả, đãn ngạnh nhĩ” (若能食者,但硬耳) là nếu ăn được, nhưng phân cứng, nên dùng thang Tiểu thừa khí để trị bệnh. Thang Đại thừa khí trị chứng phân khô, thang Tiểu thừa khí trị chứng phân cứng, có các mức độ khác nhau, phải dựa vào đâu để phân biệt? Điều này dựa theo “Bất năng thực” (不能食) không thể ăn, “phản bất năng thực” (反不能食) lại không thể ăn để phân biệt. “Phản bất năng thực”, cho thấy Dương minh bệnh đã có phân khô, “vị trung tất hữu ngũ lục mai dã” (trong ruột tất có 5,6 cục), đây là con số đại khái, có 6,7 khối phân khô chưa bài tiết. Trước đây đã giới thiệu qua vấn đề hàn nhiệt của Dương minh bệnh, bên trong nhiệt thì có thể ăn; Nếu bên trong hàn thì sẽ không thể ăn, với việc có thể ăn hay không thể ăn dùng để kiểm chứng hàn hay nhiệt của vị (dạ dày).
Dương minh bệnh không đại tiện, nói sàm, còn triều nhiệt, “phản bất năng thực giả” (反不能食者)
①
Hoàng long thang: Đại hoàng 9g, Mang tiêu 12g, Chỉ thực 6g, Hậu phác 3g, Đương quy 9g, Nhân sâm 6g, Cam thảo 3g
Phương giải: Chứng của phương thang này là do tà nhiệt và phân khô kết ở trong, phủ khí không thông nên đại tiện bí kết, ức bụng trướng đầy, đau không thích ấn nắn, thân thể nóng, khát nước, rêu lưỡi vàng khô hoặc khô đen, hoặc tiểu tiện thuận lợi nước tiểu trong hoặc xanh. Tố chất cơ thể không đầy đủ hoặc chứng thực nhiệt do điều trị sai lầm mà tổn thương khí huyết, nên tinh thần mỏi mệt thiểu khí, mạch hư; Tà nhiệt mạnh mẽ, nhiệt ảnh hưởng tâm thần, chính khí dục thoát, nên xuất hiện các hội chứng nguy hiểm như tinh thần hôn ám nói mê sảng, lạnh tay chân, lần áo, tay như bắt chuồn chuồn. Chứng này thuộc loại hình tà thực chính hư, tà thực nên công phạt, chính khí hư nên phải bồi bổ, nên tả nhiệt thông tiện, bổ khí dưỡng huyết là trị pháp thích hợp.
Trong phương có Đại hoàng, Mang tiêu, Chỉ thực, Hậu phác (tức là thang Đại thừa khí) công hạ nhiệt kết, rửa sạch thực nhiệt tích trệ ở vị tràng, nhanh chóng tả hạ để bảo tồn chính khí. Nhân sâm, Đương quy ích khí bổ huyết, phù trì chính khí để thuận lợi khứ bệnh tà, khiến cho công hạ hiệu quả mà không tổn thương chính khí. Phế và đại tràng có tương quan biểu lý, muốn thông tràng vị, trước tiên phải khai tuyên phế khí, vì thế nên phối với vị Cát cánh khai phế khí để lợi đại tràng, để hỗ trợ tác dụng thông phủ của vị Đại hoàng, trên tuyên dưới thông, với hạ giáng là chủ yếu. Khương, Táo, Thảo là những vị thuốc bổ ích tỳ vị, hỗ trợ tác dụng bổ hư của Sâm, Quy, Cam thảo lại có tác dụng điều hoà các vị thuốc (chư dược).
Phương này dụng dược rất tinh diệu, phối ngẫu thoả đáng, công và bổ cùng thi thố, đã công hạ nhiệt kết lại bổ ích khí huyết, khiến cho khứ tà mà không tổn thương chính khí, phù trợ chính khí mà không gây trở ngại việc khứ tà, là phương thuốc tốt để điều trị kết hợp cả bệnh tà và chính khí.
Dụng pháp : Dùng 2 cốc nước, ba lát gừng , hai quả táo, sau khi nấu, gia thêm vị Cát cánh vào đun sôi 1 lần, nóng vừa uống.
Dụng pháp hiện đại: Các vị thuốc trên gia Cát cánh 3g, sinh khương 3 lát, Táo 2 quả nấu với nước, hoà tan Mang tiêu rồi uống, thường dùng trị các chứng như thương hàn, phó thương hàn, viêm màng não có tính lưu hành (dịch), tắc ruột ở người lớn tuổi thuộc Dương minh phủ thực, kèm theo khí huyết không đầy đủ.
Thông thường nếu có nhiệt thì bệnh nhân có thể ăn uống, hiện nay là bệnh nhân không thể ăn uống, vì bệnh nhân đã có phân khô trong ruột, tràng thực và vị đầy, phủ khí không thông sướng, nên không thể ăn uống. Vị tràng đều là đi xuống, vị khí hạ xuống thì đại tràng thông sướng, cặn bã được bài tiết, vì thế có bài tiết được là có thể ăn uống, hiện tại trong ruột có phân khô, phân khô nghẹt tắc không xuống được, ảnh hưởng trạng thái sinh lý thay cũ đổi mới hư thực thay thế nhau của vị tràng, tràng thực vị đầy, vì thế nên không thể ăn. Không hư không hàn, lại nói mê sảng, có triều nhiệt, lại không thể ăn, vị tràng không thể thông thuận, đương nhiên bên trong có phân khô, vì thế nói rằng “Vị trung tất hữu táo thỉ” (胃中必有燥屎).
“Nghi đại thừa khí thang hạ chi” (宜大承气汤下之), nên dùng thang Đại thừa khí, vì thang Đại thừa kí dùng để tả hạ chứng phân khô. “Nhược năng thực giả” (若能食者) là nếu còn có thể ăn, tức là bệnh nhân phát triều nhiệt, nói sàm, bệnh nhân này còn có thể ăn uống được, cho thấy phân trong ruột bệnh nhân đã cứng và chưa đến mức độ khô, vị khí còn có thể hạ giáng, phân khô ngưng kết trong ruột không nghiêm trọng. “Đãn ngạnh nhĩ” (但硬耳) nhưng phân cứng thôi, là phân kết cứng lại mà không bài tiết được, chưa đạt đến mức độ phân khô, khí của vị tràng còn có thể quay về nên bệnh nhân còn có thể ăn được, như vậy không cần phải dùng thang Đại thừa khí, có thể dùng thang Tiểu thừa khí, thang Tiểu thừa là phương thang điều trị chứng phân cứng. Thang Đại thừa khí có vị Mang tiêu, thang Tiểu thừa khí không có vị này, mang tiêu có tác dụng làm mềm khô cứng, trường hợp phân cứng thì không cần vị Mang tiêu, dùng vị Đại hoàng là đủ.
216 阳明病,下血谵语者,此为热入血室;但头汗出者,刺期门,随其实而泻之,濈然汗出则愈。C229
216 Dương minh bệnh, hạ huyết chiêm ngữ giả, thử vi nhiệt nhập huyết thất; Đãn đầu hãn xuất giả, thích kỳ môn, tuỳ kỳ thực nhi tả chi, trấp nhiên hãn xuất tắc dũ. C229
Điều này thảo luận về nhiệt nhập huyết thất của bệnh ở kinh Dương minh. Nhiệt nhập huyết thất, chúng ta đã được giới thiệu ở thiên Thái dương bệnh, giảng về ba bệnh của phụ nữ, kinh nguyệt vừa đến, kinh nguyệt vừa dứt, châm huyệt Kỳ môn, uống thang Tiểu sài hồ, hoặc không điều trị. Những bệnh như nhiệt uất và nhiệt sẽ được trừ khứ theo kinh huyết, không trị liệu mà bệnh tự khỏi. Hiện tại là giới thiệu chứng nhiệt nhập huyết thất của kinh Dương minh, các nhà chú thích của các thời đại có tranh luận, tiêu điểm của tranh luận là nhiệt nhập huyết thất của kinh Thái dương và kinh Dương minh có giống nhau không. Nếu giống nhau thì đều là bệnh phụ nữ; Nếu như không giống nhau, thì không phải là bệnh phụ nữ mà là bệnh của người nam. Ở thiên Thái dương có đề cập đến phụ nữ, nên thuộc bệnh phụ khoa; Dương minh bệnh chưa đề cập đến phụ nữ, và là bệnh của nam giới, đây là một loại quan điểm.
Cũng có người cho rằng bệnh này nam nữ đều có thể mắc phải, Dương minh bệnh hạ ứ huyết đó là nhiệt nhập huyết thất, người nam có thể mắc bệnh, người nữ cũng có thể mắc bệnh này, đây là nghĩa rộng. Trên thực tế, điều này(điều 216) còn thiên về nam giới nhiều hơn, vì trước đó là giảng về nữ nhân, chưa nói về người nam, đến điều này là giảng về cả hai phái, trên thực tế là thiên về nam nhân. Dụ Gia Ngôn cho rằng chỉ đơn độc là bệnh của nam giới, Hà Vận Bá, Phương Hữu Chấp cho rằng nam nữ đều có bệnh này, quan niệm trong {Y Tông Kim Giám} tương đồng quan điểm với Dụ Gia Ngôn.
Nhưng cũng có những nhà chú thích cho rằng đây là bệnh của riêng phái nữ, nam nhân không có bệnh này. Vì chứng nhiệt nhập huyết thất là bệnh chỉ có ở phụ nữ. Đã có hai quan điểm trái chiều, vậy cái nào đúng, cái nào sai? Người viết đã kiểm tra ở {Mạch kinh} và {Kim Quỹ yếu Lược}, đều liệt kê bệnh này trong thiên phụ nhân, vì thế người viết cho rằng bệnh này chính là bệnh của phụ nữ.
“Dương minh bệnh, hạ huyết chiêm ngữ giả” (阳明病,下血谵语者), bệnh ở kinh Dương minh có kinh chứng, có phủ chứng, kinh là chứng của kinh biểu, chính là khi phụ nữ hành kinh, ra huyết là kinh nguyệt đến, bệnh tà ở kinh (biểu) nhân dịp kinh nguyệt đến (hành kinh) nên nhiệt nhập vào huyết thất (Huyết thất gồm Mạch Xung, Tử cung, tạng Can). Nhiệt nhập huyết thất cũng có khả năng phát sinh chứng chiêm ngữ (nói nhảm), chứng nói nhảm (chiêm ngữ) này khác với chứng nói nhảm ở bệnh táo bón phân cứng của kinh Dương minh, nói nhảm của nhiệt ứ huyết trệ là do nhiệt trong máu ảnh hưởng đến tạng tâm, khác với với chứng nói nhảm là biến hoá bệnh lý của chứng táo kết trong đại tràng. Chứng xuất hãn của Dương minh bệnh là xuất hãn toàn thân, chứng xuất hãn của nhiệt nhập huyết thất là chỉ xuất hãn ở trên đầu, tại sao như vậy? Vì có nhiệt trong máu, không có nhiệt ở khí phận, nhiệt khí nung nấu lên trên, trên đầu xuất hãn, trên thân thể không xuất hãn. So sánh với bệnh ở kinh Dương minh, một bên là bệnh ở khí phận, một bên là bệnh ở huyết phận. Đồng thời bệnh nhân là phụ nữ lúc hành kinh, vì thế điều trị nên châm huyệt Kỳ môn, theo thực chứng mà dùng tả pháp, giải trừ nhiệt ứ trệ trong huyết, khi Can Đảm sơ tiết thuận lợi, âm dương doanh vệ điều hoà, mồ hôi xuất ra, sẽ khỏi bệnh. Điều này có giá trị chẩn đoán phân biệt với Dương minh bệnh. Bệnh này thuộc về bệnh của phụ nữ.
217 汗出谵语者,以有燥屎在胃中,此为风也,须下之,过经乃可下之。下之若早,语言必乱,以表虚里实故也。下之则愈,宜大承气汤。C230
217 Hãn xuất chiêm ngữ giả, dĩ hữu táo thỉ tại vị trung, thử vi phong dã, tu hạ chi, quá kinh nãi khả hạ chi. Hạ chi nhược tảo, ngữ ngôn tất loạn, dĩ biểu hư lý thực cố dã. Hạ chi tất dũ, nghi Đại thừa khí thang.C230
Điều này thảo luận về nguyên tắc phép trị liệu khi kinh và phủ của Dương minh cùng bị bệnh.
“Hãn xuất chiêm ngữ giả, dĩ hữu táo thỉ tại vị trung, thử vi phong dã.” (汗出谵语者,以有燥屎在胃中,此为风也。) Cho thấy kinh và phủ của Dương minh đồng thời bị bệnh, phủ có phân khô, nên nói nhảm; Kinh biểu có phong tà, nên xuất hãn. Chứng xuất hãn là biểu hiện của phong tà ở kinh Dương minh có phong tà, chứng nói nhảm cho thấy có phân khô trong phủ tràng, là phủ thực. Không chỉ cho thấy bệnh nhân có phân khô, mà còn cho thấy có biểu tà, vì thế không nên dùng phép tả hạ quá sớm, cần phải đợi đến sau khi biểu tà thông qua kinh vào đến lý (bên trong) mới có thể dùng phép tả hạ.
Nếu dùng phép hạ quá sớm, sẽ dẫn đến biểu tà nhập lý, xuất hiện nói năng rối loạn, nói nhảm, đó là một cách giải thích. Cũng có những nhà chú thích không đồng ý với cách lý giải này, họ thay thế chữ “PHONG” bằng chữ “THỰC”. Khi tả hạ cần chú ý xem bệnh tà ở kinh biểu đã được giải hay chưa, nếu đã được giải thì có thể dùng phép hạ, nếu như tà ở kinh biểu chưa được giải trừ, thì không được dùng phép tả hạ. Họ cho rằng bệnh này thuộc chứng lý thực, nên dùng thang Đại thừa khí, nhưng cần phải chú ý xem biểu tà đã được giải hay chưa.
Hai loại giải thích của điều này đều nhất trí là Dương minh bệnh táo thực nên lập tức tả hạ, nhưng nếu biểu chứng chưa giải trừ thì không thể hạ quá sớm, điểm khác biệt của hai loại giải thích này là, một bên cho là biểu lý đều bị bệnh, do đó viết “thử vi phong dã”( 此为风也) cho đó là phong; Còn một bên cho rằng đây là chứng lý thực nên viết “thử vi thực dã” (此为实也). Trong Dương minh bệnh có biểu chứng chưa giải trừ, trước tiên nên giải biểu, sau khi giải biểu có thể dùng phép tả hạ mà không dẫn tà nhập lý. “hãn bất yếm tảo, hạ bất yếm trì”( 汗不厌早,下不厌迟)hãn pháp không ngại sớm, hạ pháp không ngại chậm, khi tả hạ phải lưu ý đến biểu chứng của kinh Thái dương và biểu chứng của kinh Dương minh chưa được giải trừ, biểu chứng chưa giải mà hạ quá sớm sẽ xuất hiện chứng nói năng rối loạn, bất kể giải thích theo cách nào thì điều quan trọng nhất vẫn là hiểu đúnh tinh thần của đoạn văn này (điều 217)
218 伤寒四五日,脉沉而喘满。沉为在里,而反发其汗,津液越出,大便为难,表虚里实,久则谵语。C231
218 Thương hàn tứ ngũ nhật, mạch trầm nhi suyễn mãn. Trầm vi tại lý, nhi phản phát kỳ hãn, tân dịch việt xuất, đại tiện vi nan, biểu hư lý thực, cửu tắc chiêm ngữ. C231
Đoạn văn này chứng minh, nếu như lý chứng đã là thực chứng, mà lại phát hãn là làm cho tân dịch tổn hại thêm, tăng thêm tình trạng khô khan trong vị tràng. Điều này có ý nghĩa tương phản với điều trên (C230), chứng minh rằng dùng phép tả hạ quá sớm là sai lầm, nhưng nếu đã thành chứng lý thực mà dùng phép phát hãn cũng chính là sai lầm.
“Thương hàn tứ ngũ nhật” (伤寒四五日), là nói về sự phát triển của bệnh, tà khí đã từ biểu nhập lý, quá trình bệnh khá dài, mạch trầm chủ lý, mạch phù chủ biểu, tức là khiến bệnh nhân phát sốt, cũng chính là lý nhiệt (nóng ở trong) mà không phải nóng ở ngoài (phi biểu nhiệt), không nên phát hãn. Nếu như phát hãn sẽ khiến tân dịch thoát ra, vị tràng khô khan, “đại tiện vi nan”. “Nan” (难) có nghĩa là muốn mà không được thì gọi là nan, do tân dịch vượt thoát ra ngoài làm cho vị tràng khô khan, vì thế phân táo kết thành chứng lý thực, bệnh nhân sẽ đại tiện phân cứng, nói nhảm, cấu thành Dương minh bệnh. Bệnh sơ khởi không quá tệ, tà khí nhập lý, mạch trầm mà đầy, còn chưa đến trung tiêu, bệnh còn ở thượng tiêu, nhưng do phát hãn sai lầm, gây tổn thương tân dịch, tạo thành chứng Dương minh lý thực ở trung tiêu. Ở đây cho thấy, hạ quá sớm là không đúng, hạ quá sớm thì biểu hư lý thực, sẽ xuất hiện chứng nói năng rối loạn. Nhưng nếu không nên phát hãn mà lại phát hãn thì cũng không đúng, sẽ tạo thành chứng lý thực, cả hai đều là những cách điều trị sai lầm. Đây là những sai lầm dễ mắc phải trên lâm sàng. Trương Trọng Cảnh nhắc nhở chúng ta nên chú ý những vấn đề này.
219 三阳合病,腹满身重,难以转侧,口不仁而面垢,谵语遗尿。发汗则谵语甚,下之则额上生汗,手足逆冷。若自汗出者,白虎汤主之。C232
219 Tam dương hợp bệnh, phúc mãn thân trọng, nan dĩ chuyển trắc, khẩu bất nhân nhi diện cấu, chiêm ngữ di niệu. Phát hãn tắc chiêm ngữ thậm, hạ chi tắc ngạnh thượng sinh hãn, thủ túc nghịch lãnh. Nhược tự hãn xuất giả, Bạch hổ thang chủ chi. C232
Điều này chủ yếu thảo luận về bệnh ở ba kinh dương với chủ yếu là nhiệt ở kinh Dương minh, trị bệnh ở kinh Dương minh chủ yếu sử dụng thang Bạch hổ để thanh nhiệt. Đây là phép thanh, không phải là phép hạ.
Cơ chế bệnh của điều này là tam dương hợp bệnh, tà nhiệt khá mạnh. Bệnh chứng của Thái dương, Dương minh, Thiếu dương không phân trước sau, gọi là tam dương hợp bệnh. Đầy bụng, thân thể nặng nề, miệng tê dại, đầy bụng thuộc chứng nhiệt ở kinh Dương minh, thân thể nặng nề là nhiệt ở Thái dương, khó xoay người là biểu hiện có nhiệt ở kinh Thiếu dương. Ba kinh dương có nhiều tà nhiệt, khí của ba kinh dương không thuận lợi, người này sẽ xuất hiện bụng trướng đầy, thân thể nặng nề, trở mình khó khăn, tức là “Phúc mãn thân trọng” (腹满身重). “Khẩu bất nhân nhi diện cấu”(口不仁而面垢) là miệng không phân biệt được mùi vị, mặt tựa như có bụi bẩn, kinh Dương minh có nhiệt, dạ dày nóng sẽ xuất hiện “Khẩu bất nhân”, tức là miệng không phân biệt được ngũ vị. {Linh khi kinh} viết: “Vị hoà tắc tri ngũ vị dã” (胃和则知五味也) vị khí hoà thì nhận biết mùi vị, cũng có nhà chú thích cá biệt cho rằng, khẩu bất nhân chính là không thể nói năng, cách lý giải này khá là gượng ép.
“Diện cấu” chỉ về trên mặt tựa như có lớp bụi bẩn, đây chính là mạch của kinh dương minh ở trên mặt bị ảnh hương của nhiệt xuất hiện hiện tượng như dầu mỡ trên mặt.
Trong dạ dày có nhiệt, bệnh nhân xuất hiện nói nhảm, tinh thần không tỉnh táo, nhiệt tà bức bách bàng quang, bệnh nhân thần trí tối tăm, không khống chế được tiểu tiện, sẽ xuất hiện di niệu (tè dầm). Các chứng trạng như đầy bụng, thân thể nặng nề, khẩu bất nhân, mặt bẩn, nói nhảm, di niệu là phản ảnh tà nhiệt của bệnh nhân rất mạnh, chủ yếu là nhiệt trong dạ dày, nếu bệnh nhân tự hãn, sẽ dùng thang bạch hổ. Đây chính là do ba kinh dương hợp bệnh, nhưng nhiệt ở kinh dương minh là mạnh nhất. Nếu như không hiểu rõ đạo lý này, cho rằng bệnh nhân còn chứng trạng của kinh Thái dương mà dùng phép phát hãn thì bệnh nhân sẽ phát sinh nói nhảm, chứng trạng nói nhảm này nặng hơn so với chứng nói nhảm từng được đề cập ở những phần trên, vì đã tổn thương đến tân dịch. Nếu như dùng phép tả hạ thì không những tổn thương vị âm mà còn tổn thương cả vị dương, bệnh nhân sẽ xuất mồ hôi từ trán lên đầu, chân tay nghịch lãnh (lạnh ngược lên), đây là điều trị sai lầm. Phát hãn sai, công hạ cũng là điều trị sai lầm, chỉ dùng thang Bạch hổ có tác dụng thanh nhiệt sinh tân dịch là phương cách điều trị chính xác.
Tổng kết lại, có ba phương pháp trị liệu bệnh ở kinh Dương minh, thứ nhất là điều trị bệnh tà ở kinh biểu, còn cần phát hãn, gọi là hãn pháp; Thứ hai là bệnh đã vào bụng , đã là vị gia thực, cần dùng hạ pháp; Thứ ba là nhiệt chứng ở kinh Dương minh, cũng ở phủ mà cũng ở kinh, chỉ là nhiệt, chưa thành thực chứng, cần dùng thanh pháp, không thể phát hãn cũng không thể tả hạ.
Điều này rất nghiêm ngặt, học tập {Thương hàn luận}cần nắm vững tiêu chuẩn của nó, nắm vững tính nghiêm ngặt của lý, pháp, phương, dược, bệnh ở mỗi giai đoạn sẽ sử dụng một phép trị liệu nhất định nào đó, điều quan trọng là sự thích hợp.
220 二阳并病,太阳证罢,但发潮热,手足漐漐汗出,大便难而谵语者,下之则愈,宜大承气汤。C233
220 Nhị dương tính bệnh, Thái dương chứng bãi, đãn phát triều nhiệt, thủ túc thuỷ thuỷ hãn xuất, đại tiện nan nhi chiêm ngữ giả, hạ chi tắc dũ, nghi Đại thừa khí thang. C233
Đây là điều giảng về đã không thể phát hãn cũng không thể tả hạ. Từ điều này đến điều C237 thảo luận hợp bệnh “合病” (là hai hoặc 3 kinh đồng thời thụ tà, phát bệnh là đồng thời xuất hiện các kinh chứng, gọi là hợp bệnh), tính bệnh “并病”(chỉ về một kinh chứng chưa được giải trừ, mà đã thấy hội chứng của một kinh khác) chính là thảo luận xoay quanh phép thanh nhiệt của dương minh bệnh, dương minh bệnh nhiệt chứng rất dễ phát sinh vấn đề phát hãn sai lầm và tả hạ sai lầm, nhất là dễ phát sinh ngộ hạ.
Hà Vận Bá cho rằng ba phương pháp mở đầu của Dương minh bệnh đều rõ ràng, là một quá trình từ nhiệt chứng chuyển thành chứng táo thực, nhiệt chứng của Dương minh tuyệt đối không thể điều trị như táo chứng của Dương minh. Nếu không tuân thủ phép tắc này, nếu tả hạ sẽ phát sinh chứng xuất hãn trên đầu, chân tay mát lạnh, trên trán xuất mồ hôi như những hạt châu, ở trên trán mà không chảy xuống, chứng dương hư xuất hãn là loại mồ hôi này. Chứng dương hư xuất hãn tuyệt đối không được điều trị như chứng táo của kinh dương minh, thày thuốc không thể làm trái nguyên tắc này. Tam dương hợp bệnh, nhiệt chứng chưa thành thực chứng, tức là xuất hiện đầy bụng, thân thể nặng nề, tiểu són, nói sàm, nhưng chưa xuất hiện các chứng trạng táo thực như đau bụng, đau quặn ở rốn, phát trung tiện, triều nhiệt, nhiệt tà tản mạn và mạnh ở dương minh, điều trị dùng thang Bạch hổ. Ba kinh dương hợp bệnh, chỉ cần giữ lấy kinh Dương minh, giải được nhiệt ở Dương minh là giải được nhiệt ở ba kinh dương.
Phát hãn tổn thương âm, tả hạ tổn thương dương, đều không nên. Ở thiên Thái dương đã giảng về Bạch hổ gia Nhân sâm thang chứng, cũng đã giảng về dương minh nhiệt chứng, chứng trạng chủ yếu của Bạch hổ gia Nhân sâm thang là phiền khát, muốn uống rất nhiều nước, lưng hơi sợ lạnh, cho thấy dễ nắm được vấn đề nhiệt của kinh dương minh, tam dương hợp bệnh ở thiên dương minh, nhiệt ở dương minh không dễ phân biệt nên dễ ngộ hãn, ngộ hạ, vì thế nên chú ý cẩn thận. Nếu chúng ta chưa học qua điều này mà gặp các chứng trạng như đầy bụng, thân thể nặng nề, tiểu són thì có thể sẽ dùng thang Thừa khí, chính là sai lầm ngộ hạ.
Điều C233 là điều để so sánh với tam dương hợp bệnh, tam dương hợp bệnh không được dùng thang Thừa khí, điều này lại yêu cầu dùng thang Thừa khí. “Nhị dương tính bệnh” (二阳并病) là hai kinh dương gồm Thái dương và Dương minh cùng bị bệnh, trước tiên xuất hiện Thái dương bệnh sau đó lại xuất hiện Dương minh bệnh, trong quá trình phát bệnh đã không tồn tại Thái dương bệnh, “đãn phát triều nhiệt” (但发潮热) nhưng phát triều nhiệt, chứng trạng triều nhiệt cho thấy bệnh đã tập trung vào kinh Dương minh, “thủ túc thuỷ thuỷ hãn xuất” (手足漐漐汗出) là chân tay chảy mồ hôi như nước, tà khí tắc nghẽn trong vị, nóng trong vị bức bách tân dịch thấm ra ngoài, tỳ vị chủ ở tay chân, nên thủ túc xuất hãn. Tân dịch trong vị bị khô, vì thế đại tiện khó khăn, nói nhảm.
Đã đầy đủ Đại thừa khí thang chứng, tả hạ, phân khô nóng được bài xuất ra ngoài, bệnh sẽ có biến chuyển tốt. Điều trên chưa đề cập đến đại tiện khó khăn, chỉ nói đến chứng nói nhảm mà không nói đến triều nhiệt, đồng thời còn là tâm dương hợp bệnh, nhiệt này có tính tản mạn, không hoàn toàn tụ tập ở bên trong, vì thế không thể dùng phép tả hạ. Vì thế điều này là chứng có thể dùng phép tả hạ, điều bên trên là điều không thể dùng phép tả hạ.
221 阳明病,脉浮而紧,咽燥口苦,腹满而喘,发热汗出,不恶寒,反恶热,身重。若发汗则躁,心愦愦,反谵语。若加烧针,必怵惕烦躁,不得眠;若下之,则胃中空虚,客气动膈,心中懊憹,舌上苔者,栀子豉汤主之。C234
221 Dương minh bệnh, mạch phù nhi khẩn, yết táo khẩu khổ, phúc mãn nhi suyễn, phát nhiệt hãn xuất, bất ố hàn, phản ố nhiệt, thân trọng. Nhược phát hãn tắc táo, tâm hối hối, phản chiêm ngữ. Nhược gia thiêu châm, tất truật thích phiền táo, bất đắc miên; Nhược hạ chi, tắc vị trung không hư, khách khí động cách, tâm trung ảo não, thiệt thượng đài giả, Chi tử thị thang chủ chi. C234
Thông qua việc học tập điều này, chúng ta cần nắm vững hai phương diện tri thức, một phương điện đây là nhiệt chứng nhưng không phải là thực chứng, vì thế không thể dùng phép điều trị thực chứng; Một phương diện khác bệnh này trên lâm sàng rất dễ ngộ trị, ngộ phát hãn, ngộ hạ, dùng nhầm ôn châm hoặc thiêu châm, nhất là rất dễ phát sinh ngộ hạ.
27 chữ đầu tiên của điều này nói về kinh Dương minh có nhiệt, và điều C201, Dương minh trúng phong, miệng đắng họng khô, đầy bụng bị suyễn nhẹ, phát sốt sợ lạnh, mạch phù mà khẩn. Nếu dùng phép tả hạ thì “tắc phúc mãn, tiểu tiện nan dã” (则腹满、小便难也)thì đầy bụng, khó tiểu tiện là những hội chứng cơ bản giống nhau, điểm bất đồng ở điều C201 là phát sốt sợ lạnh, mà ở điều C234 là không sợ lạnh, lại sợ nóng. Rất nhiều nhà chú thích không nhận rõ được sự liên hệ của hai điều này. Điều C201 cho thấy có nhiệt ở kinh phủ, biểu lý chưa giải, vì thế bên ngoài có phát sốt sợ lạnh, mạch phù mà khẩn, bên trong có chứng trạng đắng miệng, khô họng, đầy bụng và suyễn nhẹ, chính là biểu hiện có bệnh cả ở kinh và phủ, bệnh tà ở kinh biểu chưa giải, nên không thể thể dùng phép tả hạ, nếu ngộ hạ sẽ đầy bụng, tiểu tiện khó khăn. Chứng trạng của điều C234 với điều C201 cơ bản giống nhau, điểm khác biệt là bệnh tà ở kinh biểu đã nhập vào trong, “Mạch phù nhi khẩn, yết táo khẩu khổ, phúc mãn nhi suyễn, phát nhiệt hãn xuất, bất ố hàn, phản ố nhiệt, thân trọng” (脉浮而紧,咽燥口苦,腹满而喘,发热汗出,不恶寒,反恶热,身重) chủ yếu phản ảnh nhiệt chứng của kinh Dương minh, trị liệu nên dùng Bạch hổ thang thanh nhiệt dưỡng tân dịch. Nếu như ngộ nhận là chứng của kinh phủ mà dùng phép phát hãn dẫn đến vị khô khan nghiêm trọng, bệnh nhân sẽ phiền táo, tâm lý phiền loạn, nói nhảm. Nếu ngộ dụng ôn châm, bệnh nhân sẽ sợ hãi bất an, mất ngủ, phiền táo, vì thiêu châm hỗ trợ nhiệt lại có thể gây tổn thương tâm thần. Cũng không thể dùng phép tả hạ, vì bệnh nhân mạch phù mà khẩn, là biểu hiện của tà nhiệt tán mạn, chưa ngưng tụ trong tràng vị, không phải là chứng phủ thực, vì thế sau khi tả hạ, trong vị (dạ dày) của bệnh nhân trống rỗng, tà khí sẽ nhân cơ hội xâm nhập mà ảnh hưởng hoành cách mô, tim uất phiền không giải, trên lưỡi xuất hiện rêu màu vàng, vị trí bệnh ở thượng quản (ức), dùng thang Chi tử thị để trị bệnh này.
Chi tử thị thang xem ở thiên Dương minh, cũng thấy ở thiên Thái dương. Trong thiên Thái dương biểu tà uất kết ở ngực nhưng chưa kết với đàm thuỷ , dùng thang Chi tử thị để điều trị. Thang Chi tử Hậu phác là thang Chi tử thị khứ Đậu thị gia Hậu phác, Chỉ thực, có thể thanh nhiệt ở thượng quản (phần trên của dạ dày)của kinh Dương minh. Nhiệt tà xâm nhập vị, có sự khác biệt về vị trí gồm ở trên, ở giữa và ở dưới, vì thế chứng khác cũng khác biệt, thượng quản ở giữa biểu và lý, vì thế Hà Vận Bá cho rằng Chi tử thị thang trị liệu chứng bán biểu bán lý của kinh dương minh. Thí dụ, biểu chứng của Thái dương bệnh là ở da, lý chứng của thái dương bệnh dùng Ngũ linh tán để lợi tiểu tiện. biểu chứng của Dương minh bệnh chính là Chi tử thị thang chứng, lý chứng của Dương minh bệnh là Thừa khí thang chứng. Hà Vận bá nói về ba phép trị liệu của Dương minh bệnh, chính là thanh thượng, thanh trung và thanh hạ là không làm khô tân dịch, không gây tụ thuỷ ở dạ dày. {Thương hàn luận} Do các nhà chú giải qua các thời kỳ có các nhận định khác nhau mà đã có sự phát triển.
Nhiệt ở thượng tiêu, trong lòng ảo não, có rêu lưỡi, dùng Chi tử thị thang trị liệu.
Chi tử thị thang trị chứng hoả nhiệt ở thượng quản của vị, có ý nghĩa làm làm trong trẻo, lại có ý là lan toả.
222 若渴欲饮水,口干舌燥者,白虎加人参汤主之。C235
222 Nhược khát dục ẩm thuỷ, khẩu can thiệt táo giả, bạch hổ gia nhân sâm thang chủ chi. C235
Điều này nối tiếp điều trên, thảo luận về chứng trạng và trị liệu nhiệt tà ở thượng tiêu hung cách xâm nhập vào trung tiêu.
Nếu tà nhiệt nhập vào trung tiêu, gây tổn thương vị âm, miệng lưỡi bị khô, khát nước, uống nước mà không hết khát, dùng Bạch hổ thang thanh nhiệt, Nhân sâm sinh tân dịch trị chứng khát.
223 若脉浮发热,渴欲饮水,小便不利者,猪苓汤主之。C236
223 Nhược mạch phù phát nhiệt, khát dục ẩm thuỷ, tiểu tiện bất lợi giả, Trư linh thang chủ chi. C236
Trư linh thang
Trư Phục Giao Trạch Hoạt nhất lạng
Khái ẩu tâm phiền khát bất miên
Chử hảo khứ tể Giao hậu nhập
Dục âm lợi thuỷ pháp không toàn
Trư linh bỏ vỏ Phục linh Trạch tả A giao Hoạt thạch giã nát , đều 1 lạng
Năm vị thuốc trên, dùng 4 thăng nước, đầu tiên nấu 4 vị, nấu còn 2 thăng, bỏ bã, cho A giao vào để hoà tan, uống thuốc lúc còn ấm 7 hợp, ngày uống 3 lần.
Liên quan đến điều này có hai loại giải thích. Một loại giải thích cho rằng, nếu nhiệt của Dương minh ảnh hưởng đến hạ tiêu, nhiệt và thuỷ kết lại với nhau, dẫn đến tiểu tiện bất lợi mà tích trữ nước. Nguyên nhân gây ra tiểu tiện bất lợi gồm có dương hư có hàn và âm hư có nhiệt. Dương hư có hàn cần dùng thuốc ấm để ôn thông như Ngũ linh tán; Âm hư có nhiệt cần dùng Trư linh thang, mạch phù phát nhiệt cho thấy bệnh nhân có nhiệt. Một loại giải thích khác cho rằng, điều này thuộc Bạch hổ thang chứng, do uống nước quá nhiều mà tiểu tiện bất lợi, cần dùng Trư linh thang thanh nhiệt, dục (nuôi) âm, lợi thuỷ. Dương minh hoả uất ở thượng tiêu dùng Chi tử thị thang, thuỷ uất ở hạ tiêu dùng Trư linh thang, trung tiêu có nhiệt dùng Bạch hổ gia Nhân sâm thang.
Phương Trư linh thang gồm Phục linh, Trư linh, A giao, Hoạt thạch, Trạch tả. Phục linh, Trư linh là 3 vị thuốc lợi thuỷ, tác dụng trong giống nhau có sự khác biệt. Phục linh và Trư linh vị nhạt thấm lợi thuỷ, vị Trạch tả cũng có tác dụng lợi thuỷ, đó là tính chung. Nhưng vị Phục linh, Trư linh khi có tác dụng lợi thuỷ có thể giao thông giữa tạng tâm và tạng thận, Phục linh có tác dụng an tâm, Trư linh nhập vào tạng thận, làm cho tâm thận tương giao; Vị Trạch tả lợi thuỷ và có tác dụng dưỡng âm, khiến âm thuỷ đi lên. Hoạt thạch lợi thuỷ đồng thời khiến dương khí hạ xuống, cũng có tác dụng điều hoà âm dương, vị A giao là dược phẩm của huyết nhục, có tác dụng tư dưỡng âm. Ngũ linh tán dùng Phục linh, Trư linh, Trạch tả lợi thuỷ, Quế chi thông dương, Bạch truật kiện tỳ. Trần Tu Viên tổng kết Trư linh thang có tác dụng nuôi âm lợi thuỷ thanh nhiệt, Chân võ thang có tác dụng phù dương lợi thuỷ khứ hàn. Thiếu âm bệnh âm hư hữu thuỷ dùng Trư linh thang, chứng dương hư hữu hàn hữu thuỷ dùng Chân võ thang. Tạng thận có khả năng chủ thuỷ ở âm dương của nó, Thiếu âm là căn của âm dương, là bản của thuỷ hoả, đã có tình huống dương hư thuỷ bị đình trệ, thì cũng có tình huống âm hư thuỷ bị đình trệ.
Trư linh thang có công dụng rộng rãi trên lâm sàng, như chứng viêm bể thận xuất hiện tiểu ra máu, nếu xuất hiện mạch huyền mà tế, tâm phiền mất ngủ, lưỡi hồng ít rêu, tiểu tiện ra máu, đau lưng, dùng phương này hiệu quả cực tốt. Có thể gia thêm hai vị thuốc: Hạn liên thảo 20~30g, Tam thất phấn 1g hoà nước uống (xung phục), sau khi uống có tác dụng rõ rệt. Phương dược này còn có thể trị chứng lao phổi, viêm nhiễm hệ thống tiết niệu ở phụ nữ như tiểu tiện nhiều lần, tiểu gấp, đau khi tiểu tiện, tiểu tiện nóng rát.
224 阳明病,汗出多而渴者,不可与猪苓汤,以汗多胃中燥,猪苓汤复利其小便故也。C237
224 Dương minh bệnh, hãn xuất đa nhi khát giả, bất khả dữ Trư linh thang, dĩ hãn đa vị trung táo, Trư linh thang phục lợi kỳ tiểu tiện cố dã. C237
Điều này thảo luận về các chứng cấm kỵ của Trư linh thang, và phân biệt với Bạch hổ gia Nhân sâm thang chứng.
Xuất hãn nhiều và khát, tiểu tiện lợi là những chứng trạng thuộc Bạch hổ thang, không thể dùng với Trư linh thang. Bạch hổ thang chứng và Trư linh thang chứng khác nhau ở chỗ Bạch hổ thang chứng chính là tân dich bị tổn thương, Trư linh thang chứng là tân dịch bị đình lưu. Xuất hãn nhiều mà khát, tiểu tiện thuận lợi sử dụng Trư linh thang là sai lầm, chứng trạng khát ở đây là do vị bị khô khan gây ra, mà không do thuỷ nhiệt hỗ kết gây ra, dùng Trư linh thang trong trường hợp này chính là hư kỳ hư mà thực kỳ thực (bỏ bớt chỗ thiếu, thêm vào chỗ thừa). Nhiệt ở trung tiêu dùng Bạch hổ gia Nhân sâm thang, thuỷ uất ở hạ tiêu dùng Trư linh thang.
225 脉浮而迟,表热里寒,下利清谷者,四逆汤主之。C238
225 Mạch phù nhi trì, biểu nhiệt lý hàn, hạ lợi thanh cốc giả, Tứ nghịch thang chủ chi. C238
Điều này thảo luận trị liệu chứng trạng cách dương của biểu nhiệt lý hàn.
Biểu nhiệt là tiêu (ngọn), Thiếu âm dương hư hữu hàn, bức dương ở ngoài, vì thế phát sốt, xuất hãn, chính là bên trong lạnh tạo thành bên ngoài nóng. Dương khí nổi ở ngoài nên mạch phù; Bên trong âm hàn nặng nên mạch trì. Âm hàn sinh ra ở trong, dương khí không thể làm chín thuỷ cốc nên đi tả ra thực phẩm chưa tiêu hoá. Dùng Tứ nghịch thang bổ dương cứu lý, dương khí liễm vào trong không bị bức bách ra ngoài nên hạ nhiệt; Dương khí đầy đủ, âm tà bị trừ khứ, chứng đi tả ra thực phẩm chưa tiêu hoá sẽ được cải thiện. Chứng này tuy có mạch phù nhưng không thể phát hãn, vì bệnh nhân đi tả ra thực phẩm chưa tiêu hoá là biểu hiện của lý hàn.
226 若胃中虚冷,不能食者,饮水则哕。C239
226 Nhược vị trung hư lãnh, bất năng thực giả, ẩm thực tắc uế. C239
Điều này nối tiếp điều trên, thảo luận về chứng vị hư hàn. Vì công năng tiêu hoá sinh động hoạt bát là nhờ ở dương khí, cổ động vị khí, hiện tại vị đã hư hàn, đương nhiên là không thể ăn. Không những không thể ăn mà uống nước cũng trở thành vấn đề. Uống nước thì oẹ ra, vì sao uống chút nước cũng bị oẹ, tại sao lại oẹ? Vỗn dĩ trong vị đã hư lãnh (yếu lạnh), lại uống nước, nước lại thuộc âm, vì thế chẳng những không sinh hoá, mà nước cũng không tiêu được, vì thế gây oẹ. Thương hàn và tạp bệnh không thể tách rời, đây là điều nói về tạp bệnh.
227 脉浮发热,口干鼻燥,能食者则衄。C240
227 Mạch phù phát nhiệt, khẩu can tỵ táo, năng thực giả tắc nục. C240
Điều này cần so sánh với điều C239, điều C239 giảng về chứng hư lãnh trong vị, uống nước thì oẹ ra, mà điều này thảo luận về chứng nhiệt trong kinh Dương minh, có thể ăn thì nục huyết (chảy máu mũi).
“Mạch phù phát nhiệt, khẩu can tỵ táo”, chính là nhiệt tại kinh của Dương minh. Nhiệt tại kinh và nhiệt tại phủ thì khác nhau, một là nông, một là sâu. Người bệnh này còn có thể ăn, Thành Vô Kỷ viết:
“Năng thực giả, lý hoà dã.” (能食者,里和也。), cũng chính là nói vị khí còn vượng thịnh, vị khí còn hoà. Hoà ở đây khác với vị hư lãnh bất năng thực ở phần trước, ở đó là không thể ăn, ở đây là có thể ăn, kinh biểu có nhiệt, phủ khí sung thịnh, chính khí đề kháng bệnh tà, bệnh tà ở kinh biểu truyền vào trong sẽ tạo khó khăn. Bệnh tà trong kinh chỉ giải trừ ở ngoài, nhiệt ở kinh bức bách huyết vọng hành, huyết theo mũi xuất ra ngoài là chứng tỵ nục (chảy máu mũi). Nếu bệnh không truyền vào trong, chính khí chống cự ngoại tà ra bên ngoài giải theo tỵ nục. Thái dương bệnh không xuất hãn, mũi xuất huyết mà giải bệnh, Dương minh bệnh cũng giải theo chứng nục huyết, vì kinh Dương minh đi vào mũi. Khi thái dương kinh tác nục (chảy máu mũi) để giải bệnh bn sẽ có cảm giác khó chịu, nhắm mắt, “kịch giả tất nục, nục nãi giải. sở dĩ nhiên giả, dương khí trọng cố dã.” (剧者必衄,衄乃解。所以然者,阳气重故也。) Khí bệnh đã đến kinh Dương minh, bn có thể ăn, lúc này bn miệng khô mũi khô có thể giải bệnh. Kinh Dương minh và kinh Thái dương tuy đều là kinh biểu (kinh ở ngoài), Dương minh sâu hơn (so với Thái dương) , vì thế khi giải bệnh chính là có tình huống như vậy, cả hai có sự phân biệt.
228 阳明病下之,其外有热,手足温,不结胸,心中懊憹,饥不能食,但头汗出者,栀子豉汤主之。C241
228 Dương minh bệnh hạ chi, kỳ ngoại hữu nhiệt, thủ túc ôn, bất kết hung, tâm trung ảo não, cơ bất năng thực, đãn đầu hãn xuất giả, Chi tử thị thang chủ chi. C241
Điều này thảo luận về hội chứng nhiệt và phép trị liệu ở dương minh thượng quản.
Dương minh bệnh chính là chỉ về các chứng trạng kinh biểu của Dương minh. Bên ngoài có nhiệt nên chân tay ấm áp, chính là có bệnh tà ở kinh biểu của Dương minh nên dương khí bị trở ngại. Ấm áp là có ý chỉ về nhiệt chứng, tay chân không mát mà lại nóng. Như vậy nên thanh nhiệt kinh biểu của Dương minh, lúc này nếu dùng phép tả hạ là sai lầm. Nếu thày thuốc dùng phép tả hạ, nhiệt của kinh biểu dương minh thừa lúc ngộ hạ mà hãm vào trong. Loại kinh nhiệt xâm nhập vào trong này hỗ tương ngưng tụ với thuỷ mà tạo thành chứng kết hung; Nếu không phát sinh chứng kết hung, chỉ là nhiệt uất tại thượng quản (phần trên của dạ dày), làm cho tâm ảo não phiền muộn, đói mà không thể ăn, bệnh tà ở kinh sẽ xâm nhập vào phủ, Bệnh tà ở kinh xâm nhập vào phủ có sự khác biệt ở trên, ở giữa và ở dưới, có hội chứng thang Bạch thổ gia Nhân sâm, có hội chứng thang Trư linh, cũng có hội chứng thang Chi tử thị.
Điều này cũng như vậy, sau khi bệnh tà ở kinh bị ngộ hạ, nhiệt uẩn chưa ở thượng quản, cũng có thể nói là bán biểu bán lý của kinh Dương minh, Vì sao như vậy? Cũng chính là chưa vào trong kinh Dương minh, còn chưa vào sâu bên trong của Dương minh vị tràng, chỉ mới ở thượng quản, xuất hiện trong lòng ảo não phiền muộn, điều này giống như khách khí tác động vào hoành cách mô. Vì thế người bệnh này sẽ phát sinh bực bội của chứng hoả uất, chứng uất kết, tâm lý bất ổn, bực bội. Vì phiền muộn trong lòng, trong dạ dày cũng khó chịu, vì thế bn cảm thấy đói mà không thể ăn. Là nóng không phải lạnh, vì thế bn cảm thấy đói; Nhiệt khí uất kết, nhiệt khí còn toả nóng lên trên, nên bn không thể ăn uống.
Thượng quản của dạ dày bị nóng, nhiệt khí bốc lên, vì thế bn không thể ăn, mà chỉ xuất hãn trên đầu, chữ “đãn” (但) là chỉ, câu này có ý xuất hãn cục bộ, chỉ xuất hãn ở đầu, chỗ khác không có mồ hôi, đây là nhiệt tà bốc lên, không thể thông đạt ra ngoài, khác với chứng trung tiêu táo nhiệt của kinh Dương minh vượt ra ngoài dẫn đến liên tục xuất hãn, tay chân xuất hãn. Dương minh bệnh với tiêu chuẩn là xuất hãn, giống như chỉ xuất hãn ở trên đầu, một là do nhiệt uất, nhiệt ở thượng tiêu, không ở trung tiêu, vì thế không xuất hãn toàn thân, chỉ xuất hãn giới hạn ở trên đầu. Nhiệt tà uẩn chứa tại vị quản, ảnh hưởng đến ngực và hoành cách, không thể ăn uống mà còn xuất hãn trên đầu, trong lòng ảo não bất lực.
Thang Chi tử thị có nhiều khả năng tuyên thấu (khai thông thẩm thấu) tà nhiệt ở thượng quản, có thể thanh (làm trong trẻo) lại có thể thẩm thấu. Vì có vị thuốc Đậu thị, căn cứ vào kiến giải của Hà Vận Bá, phàm đã có chứng trạng buồn bực ở thượng quản, sau khi uống thang Chi tử thị tất sẽ ẩu thổ. Chứng ẩu thổ này, là theo vị trí bệnh ở trên mà vượt ra, là khiến cho bệnh tà ở thượng quản (phần trên cùng của dạ dày) thổ xuất ra ngoài. Cũng chính là chứng hoả uất thì dùng phép phát tán để điều trị thì tà khí sẽ được giải trừ.Trong thanh pháp của Dương minh bệnh không chỉ có thang Bạch hổ mà còn thang Chi tử thị. Nhiệt của Thái dương cũng được, nhiệt trong kinh Dương minh cũng được, tà nhiệt của ba kinh dương cũng được. chỉ cần xuất hiện ở Dương minh, vừa tiếp cận dương minh vị phủ, còn ở phần trên của dạ dày (thượng quản), chưa xâm nhập xuống phần bụng, nếu không dùng thang Chi tử thị thì không giải quyết được bệnh.
Hội chứng thang Chi tử thị, một là buồn bực trong lòng, là xuất hãn, chỉ xuất hãn trên đầu, không xuất hãn toàn thân. Khác với chứng đại hãn, đại khát của nhiệt ở khí phận của Bạch hổ thang chứng của Dương minh bệnh. Vị trí bệnh của hội chứng thang Chi tử thị khá cao, tiếp cận với cách mô, chính là một vị trí ở phần trong của kinh Thái dương (lý của kinh Thái dương) và là biểu của kinh Dương minh, Hà Vận Bá gọi là bệnh tà ở bán biểu bán lý. Dùng thuốc ở thời điểm này chỉ có thể dùng Chi tử thị thang, thang Bạch hổ là bất lực. Vì thế ở phần trên là hoả uất, phần dưỡi là thuỷ uất, ở giữa là táo nhiệt (khô nóng). Đây là ba phép của Dương minh bệnh, gồm ba phép thượng, trung, hạ. Vì lúc này chưa cấu thành “Vị gia thực”, cũng có thể nói là giai đoạn “Vị gia thực” nhẹ. Nhất định phải nhận rõ mức độ này để có thể xử lý chính xác.
Trường Xuân