Từ điều 192 đến 201 (C204-C213)
192 阳明病,欲食,小便不利,大便自调,其人骨节疼,翕翕然如有热状,奄然发狂,濈然汗出而解者,此水不胜谷气,与汗共并,脉紧则愈。C204
192 Dương minh bệnh, dục thực, tiểu tiện bất lợi, đại tiện tự điều, kỳ nhân cốt tiết đông, hấp hấp nhiên như hữu nhiệt trạng, yểm nhiên phát cuồng, trấp nhiên hãn xuất nhi giải giả, thử thuỷ bất thắng cốc khí, dữ hãn cộng tịnh, mạch khẩn tắc dũ.
C204
Điều này thảo luận về Dương minh bệnh trúng hàn không thể ăn, “Dương minh bệnh dục thực” (阳明病欲食) Dương minh bệnh muốn ăn, không thể ăn là dương hư, có thể ăn là vị dương (dương của dạ dày) không bị hư tổn. Có thể ăn và sẵn sàng ăn, điều này cho thấy vị khí tốt, khi vị khí tốt khí sẽ không bị ngưng tụ nên đại tiện sẽ không sơ ngạnh hậu đường (trước cứng sau lỏng). Đại tiện tự điều hoà. Đại tiện tự điều nên phân không trước cứng sau lỏng, Dương minh bệnh muốn ăn khác với không muốn ăn ở điều C203, cần so sánh hai điều này.
“Tiểu tiện bất lợi” (小便不利), cho thấy còn có thuỷ thấp, “kỳ nhân cốt tiết đông, hấp hấp như hữu nhiệt trạng” (其人骨节疼,翕翕如有热状) Người này bị đau khớp và như bị nóng trong người, không những bên trong có chứng thấp, mà bên ngoài cũng có một ít hàn thấp, đau xương khớp chính là có bệnh tà ở biểu, hàn thấp gây đau. “hấp hấp như hữu nhiệt trạng” (翕翕如有热状), là phát nhiệt không quá mạnh mẽ, hàm ý là không phải ngoại cảm phong hàn, đây là thuỷ thấp bị bế uất lại. Tuy một phần dương khí bị uất kết, nhưng nóng nhiệt ở mức độ ôn hoà, không quá tệ hại.Vị khí của Dương minh tốt, còn có thể ăn uống, đại tiện còn tự điều hoà. Như vậy, tuy có bệnh tà thuỷ thấp nhưng không quá nhiều, vị khí của dương minh còn khá mạnh, chính còn chiếm ưu thế, tà khí cũng không quá mạnh, vì thế bệnh có cơ hội tự giải.
“Yểm nhiên phát cuồng, trấp trấp hãn xuất nhi giải giả”(奄然发狂,濈然汗出而解者), “Yểm nhiên” (奄然) là bệnh nhân đột nhiên phát cuồng, tinh thần bực bội bất an. Cuồng là phát động dương khí, tiến hành chiến đấu với thuỷ thấp, phản ảnh cuộc đấu tranh giữa chính khí và tà khí, là biểu hiện khí của vị dương khu trừ bệnh tà ra ngoài. Đến khí chính khí đưa tà khí ra bên ngoài, cơ thể xuất hãn để giải bệnh, toàn thân xuất hãn là tà khí đã giải, phát nhiệt hấp hấp (phát nhiệt không cao) là chứng uất bế của thuỷ thấp cũng đã được giải.
“Thử thuỷ bất thắng cốc khí” (此水不胜谷气) là bệnh tà thuỷ thấp không chống được khí của vị dương, “dữ hãn cộng tịnh” (与汗共并) là bệnh tà đi theo mồ hôi ra ngoài. Thời điểm này, “mạch khẩn tắc dũ” (脉紧则愈) 脉紧则愈khẩn thì khỏi bện h. Có tranh luận ở điểm này, nói rằng mạch khẩn là khỏi bệnh chính là mạch đập có lực mạnh mẽ, chính khí đã hồi phục, tà khí đã được trừ khứ, vì thế xuất hiện mạch khẩn. Mạch khẩn là mạch đập có lực. Cũng có thuyết nói rằng mạch không còn khẩn nữa là khỏi bệnh, vì bệnh này có các bệnh tà là thuỷ hàn và thuỷ thấp, vì thế có thể có mạch khẩn, sau khi xuất hãn, mạch không còn khẩn nữa, mạch không khẩn nên bệnh sẽ tốt. Tóm lại, liên quan đến mạch khẩn có hai quan điểm, một cho là mạch khẩn là phản ảnh của chính khí đã hồi phục, hai là mạch khẩn là phản ảnh của tà khí đã bị trừ khứ. Người viết cho rằng, nên kết hợp cả hai quan điểm này, vì chính khí hồi phục thì dương nhiên tà khí đã hư; Tà khí đã được trừ khứ thì đương nhiên chính khí liền hồi phục.
Nói theo bệnh cơ (phát sinh, phát triển, biến hoá và kết cục của bệnh) chúng phải thống nhất, như “mạch khẩn tất dũ” “mạch khẩn” ở đây tồn tại trước hay sau khi khỏi bệnh? Điều này người viết không dám nói, sau khi khỏi bệnh mạch vẫn khẩn, chỉ cần hiểu như vậy là đủ. Có phải mạch thực sự vẫn khẩn, hay mạch trước đây là khẩn còn hiện tại mạch không còn khẩn, sự việc này không có cách nào để kết luận. Thành Vô Kỷ nói, “âm dương khí bình, lưỡng vô thiên thịnh tắc dũ” (阴阳气平,两无偏盛则愈。)là khí âm dương bình hoà, không thiên lệch về bên nào thì khỏi bệnh). Vì thế điều này là để so sánh với điều ở trên, điều ở trên là “Vị trung lãnh, thuỷ cốc bất biệt cố dã.” (胃中冷,水谷不别故也。) là dạ dày lạnh, nước và ngũ cốc không tách biệt. Điều ở dưới là “Thử thuỷ bất thắng cốc khí, dữ hãn cộng tịnh, mạch khẩn tắc dũ.” (此水不胜谷气,与汗共并,脉紧则愈。) là Thuỷ thấp không thắng được cốc khí, theo mồ hôi ra ngoài, mạch khẩn thì khỏi bệnh. 193 阳明病,欲解时,从申至戌上。C205
193 Dương minh bệnh, dục giải thời, tòng thân chí tuất thượng. C205
Thời gian giải Dương minh bệnh là thời gian khí của Dương minh vượng thịnh. Thời điểm khí của Dương minh vượng thịnh có liên hệ với tự nhiên giới. Cơ thể con người và tự nhiên giới là một thể hoàn chỉnh, cổ nhân thấy từ giờ thân đến giờ tuất chính là thời gian khí Dương minh vượng. Giừ thân, dậu thuộc kim, kim khí vượng, dương minh với táo khí làm chủ, vì táo là khí của kim; Tuất thuộc thổ, phàm thời gian giải bệnh của lục kinh đều cần có liên đới với thổ, vì thổ đại biểu cho vị khí, vì thế từ giờ thân đến trước giờ tuất, thời gian này là thời gian khí dương minh vượng thịnh. Kim khí trong tự nhiên vượng thịnh, táo khí vượng, mà trên cơ thể khí dương minh cũng vượng, đây chính là những điều kiện có lợi để hỗ trợ chính khí khu trừ bệnh tà, đối với việc giải trừ bệnh ở Dương minh, tà khí suy thoái chính là sự hỗ trợ.
Đọc câu này không nên cứng nhắc, không cần kết luận ngay như vậy, Dương minh bệnh từ giờ thân đến giờ tuất là đã tốt, sẽ không cần trị liệu nữa thì tại sao lại uống thang Đại thừa khí, thang Điều vị thừa khí làm gì? Thật ra không phải là ý nghĩa này. Là khi Dương minh bệnh muốn giải, nó gia thêm chữ “dục”(muốn), là có ý cân nhắc. Dương minh bệnh có đầy đủ điều kiện để giải trừ bệnh, thiên về thời gian giải bệnh, từ giờ thân đến giờ tuất để giải trừ bệnh. Tại thời điểm này có các phản ứng như **“Nhật bô sở triều nhiệt” (日晡所潮热), là Dương minh bệnh triều nhiệt, là từ giờ thân đến giờ dậu. Vì sao đây là thời gian triều nhiệt? Vì thời gian này khí dương minh vượng thịnh, có khả năng đấu tranh với tà khí, nó hưng phấn, vì thế cơn sốt nổi lên như cao triều, rất chuẩn xác, đến lúc đó, là sau giờ trưa cao triều sẽ lên.
Bệnh ở lục kinh đều có thời gian thuận lợi để giải trừ bệnh, điều này nhờ vào mối quan hệ giữa cơ thể con người và thiên nhiên, với sự trợ giúp của thiên nhiên và khí hậu để điều tiết sự thịnh suy của các cơ quan tạng phủ trong cơ thể con người.
Góp phần tạo nên những điều kiện thuận lợi trong thiên nhiên giúp chính khí của cơ thể đấu tranh chống lại bệnh tật và khôi phục sức khoẻ. Trong {Nội kinh} đã có nhiều thảo luận về vấn đề này. Bệnh ở một tạng, bệnh ở tạng can, bệnh ở tạng phế, thời điểm nào nặng? Thời điểm nào nhẹ? Bắt đầu ở thời điểm nào? Cổ nhân đều có phương pháp nhận thức.
Những điều này, chúng ta không nên khinh suất kết luận là phản hoa học, không có cơ sở khoa học, và không dễ để đưa ra kết luận ngay bây giờ. Chúng ta nên quan sát thật tốt và nghiên cứu thật tốt vấn đề.
194 阳明病,不能食,攻其热必哕,所以然者,胃中虚冷故也。以其人本虚,故攻其热必哕。C206
194 Dương minh bệnh, bất năng thực, công kỳ nhiệt tất uế, sở dĩ nhiên giả, vị trung hư lãnh cố dã. Dĩ kỳ nhân bản hư, cố công kỳ nhiệt tất uế. C206
Điều này nối tiếp điều C203, dạ dày hư hàn phản công kỳ nhiệt (dụng hàn dược) sẽ sản sinh hậu quả không tốt.
“Dương minh bệnh bất năng thực” (阳明病不能食) bệnh ở kinh dương minh và không thể ăn, như đã nói, tay chân xuất mồ hôi liên miên, đại tiện lúc đầu phân cứng, nếu ngộ nhận cho rằng đó là chứng thực nhiệt của kinh dương minh, mà dùng thuốc khổ hàn tả hạ để trị nhiệt chứng của Dương minh, vì dương minh không có nhiệt, không có nhiệt mà công nhiệt là sai lầm.
Kết quả tạo thành hai vấn đề, một là nói về vị dương, căn bản dương khí bị hư tổn, lại công phạt làm cho vị dương đã hư lại càng thêm hư. Và một vấn đề khác là, trong dạ dày vốn có hàn, hiện tại lại dùng thuốc khổ hàn (công kỳ nhiệt) là tăng thêm hàn cho dạ dày, hàn tà sẽ mạnh hơn, công phạt sai lầm làm cho vị dương đã hư càng thêm hư, vị hàn lại lạnh hơn, vị khí lại hư, vị hàn lại mạnh, hàn khí nghịch lên trên, vì thế tất nôn oẹ, nấc, co thắt cơ hoành. Vì sao xuất hiện nôn oẹ? “Vị trung hư lãnh cố dã” (胃中虚冷故也) là do trong dạ dày vừa yếu vừa lạnh, “dĩ kỳ nhân bản hư” (以其人本虚) Vốn là người hư yếu, tuy tay chân xuất hãn liên miên, tuy phân khô cứng lúc đầu, nhưng đây đều là hư chứng, vốn không thể ăn được gì, như thế trong bụng có lạnh không? Nhưng lại tấn công cái nóng là tấn công vô tội vạ (vì không nóng) Cho nên công kỳ nhiệt trong trường hợp này tất gây nôn oẹ.
195 阳明病,脉迟,食难用饱,饱则微烦,头眩,必小便难,此欲作谷疸,虽下之,腹满如故。所以然者,脉迟故也。C207
195 Dương minh bệnh, mạch trì, thực nan dụng bão, bão tắc vi phiền, đầu huyễn, tất tiểu tiện nan, thử dục tác cốc đản, tuy hạ chi, phúc mãn như cố. Sở dĩ nhiên giả, mạch trì cố dã. C207
Điều này thảo luận về mạch chứng và cấm kỵ trị liệu của chứng hàn thấp uất trệ gây vàng da.
Thấp tà gây vàng da có hai loại, một là thấp nhiệt, một là hàn thấp. “Dương minh bệnh mạch trì, thực nan dụng bão, bão tắc vi phiền, đầu huyễn” (阳明病,脉迟,食难用饱,饱则微烦,头眩), mạch trì là mạch của chứng hàn thấp, Dương minh bệnh là dương bệnh, phủ bệnh, mạch trì là mạch của Thái âm, dương bệnh mà thấy mạch Thái âm, giống như Thái dương bệnh lẽ ra mạch phù lại thấy mạch trầm là âm mạch, dương minh bệnh mạch trì chính là thấy hàn thấp, là mạch dương hư có thấp có hàn.
Vị hư có hàn thấp, cho nên, khó ăn no, no sẽ khó chịu “đầu huyễn” (头眩) hoa mắt vựng đầu. Không dám ăn no, “thực nan dụng bão” (食难用饱) là khó ăn no, không phải là không ăn được, người này có thể ăn, nhưng không dám ăn no, là khi ăn no, “bão tắc vi phiền, đầu huyễn” (饱则微烦,头眩) là khi bụng no thì bực bội, choáng váng. Khi ăn ít thì dễ chịu, vì sao khi ăn nhiều thì bực bội, choáng váng? Vì có hàn thấp, vị khí hư nhược, khi ăn no, vị khí bị cốc khí dồn lại, không thể làm chín (tiêu hoá) thuỷ cốc, thượng tiêu bị ảnh hưởng, vì thế “vi phiền, đầu huyễn”. “Vi phiền, đầu huyễn” (微烦,头眩) có quan hệ với công năng tiêu hoá của vị khí. Cốc khí không tiêu, ở trong dạ dày không đi xuống, nhưng vị khí còn phải tiêu hoá thuỷ cốc, và có tác dụng phân huỷ thuỷ cốc, nhưng lại không thể giải quyết triệt để vấn đề này, vì thế vị khí suy yếu, bị cản trở nên xuất hiện khó chịu, choáng váng là những chứng trạng khi khí thượng tiêu bị ảnh hưởng.
“Tất tiểu tiện nan”(必小便难)là tất nhiên sẽ khó tiểu tiện, vì mạch trì, có hàn có thấp, vì thế tiểu tiện khó khăn. “Tiểu tiện nan” ở dưới nên thêm hai chữ “phúc mãn” (腹满) là đầy bụng, vì sao bụng trướng đầy? Vì tỳ vị hư nhược vì có hàn thấp. “Thử dục tác cốc đản” (此欲作谷疸) bệnh này gây bệnh vàng da, vì vị khí không tiêu hoá được thuỷ cốc, thuỷ cốc không thể biến thành vật chất tinh vi mà thành tấp tà, vì thế tạo thành một loại bệnh vàng da có tính hàn thấp, gọi là cốc đản. Vị hư không thể tiêu hoá thuỷ cốc, vì thế gọi là chứng cốc đản. “Tuy hạ chi, phúc mãn như cố” (虽下之,腹满如故). Bụng trướng đầy, điều trị bằng thuốc tả hạ, bụng của bệnh nhân trướng đầy như cũ, như cũ là không tiêu, các chứng trạng như bụng trướng đầy, tiểu tiện khó khăn đã có từ trước, loại trướng đầy này chính là hàn thấp, không phải là táo nhiệt, vì thế khi dùng thuốc tả hạ, bụng vẫn trướng đầy như cũ. Vì sao? Vì phép tả hạ là để khứ trừ thực chứng, còn ở đây là chứng hư hàn, hàn thấp, vì thế nên càng tả hạ càng trướng đầy hơn. “Sở dĩ nhiên giả, mạch trì cố dã.” Vì sao bụng trướng đầy như cũ? Vì mạch của người bệnh là mạch trì. Mạch trì thuộc về chứng tỳ vị khí hư mà có hàn thấp, hàn thấp làm cho khí của tỳ vị không vận hoá, bụng trướng đầy, vì thế bệnh này không được dùng phép tả hạ, mà nên dùng phép ôn trung.
Trong một phần trước đã giảng một điều về thấp nhiệt hoàng đản, một điều về hàn thấp hoàng đản. Bệnh này tuy là Dương minh bệnh, mà thuộc Thái âm tỳ, thấy mạch trì là mạch của Thái âm, vì thế bụng trướng đầy, trướng đầy không thể tách rời Thái âm hàn thấp. Vì thế điều này lại dẫn đến một vấn đề, trúng hàn thường không thể ăn, không thể ăn gọi là trúng hàn, có thể ăn là trúng phong, cũng có loại tình huống như vậy, tuy nhiên là mạch trì, có hàn, nên anh ta còn có thể ăn, nhưng không thể ăn no, nếu ăn no thì bực bội choáng váng, đây là trên thực tế còn không thể ăn. Vị không thể làm chín thuỷ cốc, nếu ăn nhiều, sẽ không tiêu hoá hết được. Thuỷ cốc trong dạ dày không được tiêu hoá mà tích luỹ lại, ảnh hưởng đến thượng tiêu mà xuất hiện các chứng trạng bực bội, choáng váng. Đồng thời vì có thấp, vì thế tiểu tiện khó khăn. Thấp khiến cho Tỳ khí không thuận lợi, vì thế trướng bụng, hàn thấp làm cho khí của ngũ cốc bất hoá, vì thế gây ra chứng vàng da. Chứng vàng da này là chứng vàng da hàn thấp, không phải là chứng vàng da thấp nhiệt. Nếu như thày thuốc dùng phép tả hạ, vì bụng trướng đầy dùng phép tả hạ bụng sẽ đầy trướng như cũ. Vì sao như vậy, vì mạch của bệnh là mạch trì, mạch trì thuộc hàn chứng, thuộc về thấp. Mạch Trì không được dùng phép tả hạ.
196 阳明病,法多汗,反无汗,其身如虫行皮中状者,此以久虚故也。C208
196 Dương minh bệnh, pháp đa hãn, phản vô hãn, kỳ thân như trùng hành bì trung trạng giả, thử dĩ cửu hư cố dã. C208
Điều này dựa vào chứng trạng có mồ hôi hay không có mồ hôi để phân biệt bệnh ở kinh Dương minh thuộc hư hay thực.
Điều C200 giảng “Thương hàn chuyển hệ dương minh giả, kỳ nhân trấp nhiên vi xuất hãn dã” (伤寒转系阳明者,其人濈然微汗出也). Khi bệnh đến Dương minh liền xuất hãn, vì biểu tà nhập lý sẽ hoá nhiệt, khi nhiệt đến Dương minh, vì Dương minh là bể chứa thuỷ cốc, là nguồn hoá sinh tân dịch, khi Dương minh táo nhiệt sẽ bức bách tân dịch xuất ra ngoài thì tất nhiên sẽ xuất hãn, sự xuất hãn này là tiền đề của một cơn sốt nhất định. Khi xuất hãn thì thân thể nóng, “vấn viết: Dương minh bệnh ngoại chứng vân hà? Đáp viết: Thân nhiệt hãn tự xuất.” (问曰:阳明病外证云何?答曰:身热汗自出。) hỏi: Hội chứng bên ngoài của dương minh bệnh là gì? Đáp: Thân thể nó, xuất mồ hôi. Thân thể nóng rõ rệt. Không phải là mồ hôi xuất ra ào ào, toàn thân lạnh lẽo, trước đó là nóng, “thân nhiệt hãn tự xuất, bất ố hàn phản ố nhiệt” (身热汗自出,不恶寒反恶热。) thân thể nóng, tự xuất mồ hôi, không ghét lạnh nhưng lại ghét nóng.” Thái dương bệnh biểu chứng xuất hãn, chúng ta nói là chứng trúng phong biểu hư. Dương minh hoàn toàn tương phản, Dương minh phải có mồ hôi thì gọi là thực chứng, không có mồ hôi là hư chứng. “Dương minh bệnh pháp đa hãn” (阳明病法多汗) vì vậy Dương minh bệnh dựa theo quy luật là phải có nhiều mồ hôi, pháp chính là phép tắc là quy luật của nó. “Phản vô hãn, kỳ thân như trùng hành bì trung trạng giả”(反无汗,其身如虫行皮中状者) Cần phải xuất hãn mà không xuất hãn, vì vậy có chữ “phản”, trong da thịt tựa như có trùng bò, tê tê hết cả thân thể, “Trùng hành bì trung trạng giả” (虫行皮中状者) Như trùng bò trong da, đây là vấn đề gì? “Thử dĩ cửu hư cố dã” (此以久虚故也。) Đây là tự giải đáp của Trương Trọng Cảnh, nói về trường hợp không có mồ hôi, và như có trùng bò trong da thịt, là người này “cửu hư” (久虚), “cửu” là trong thời gian khá dài; “hư” chính là vị khí hư, người này trong quá khứ vị khí vốn hư nhược trong thời gian dài, vị khí hư thì tân dịch của thuỷ cốc không đầy đủ, vì vậy mà không có mồ hôi. Đây là hai mặt của vấn đề, Dương minh có mồ hôi và không có mồ hôi, then chốt của việc có mồ hôi hay không có mồ hôi là vị khí thịnh hay hư, vị khí thịnh sẽ có mồ hôi, vị khí hư sẽ không có mồ hôi.
Vì sao “Như trùng hành bì trung”? (如虫行皮中) như trùng bò trong da. Bên trong da là cơ nhục, ngũ thể gồm da, nhục, mạch, gân, xương, dưới da là cơ nhục, Dương minh bên ngoài hợp với cơ nhục, tỳ vị lại chủ cơ nhục, vì vậy bì trung chính là nhục (thịt) ở trong da, ở trên phần cơ nhục, giống như trùng bò chính là một loại phản ảnh của vị khí hư nhược.
197 阳明病,反无汗,而小便利,二三日,呕而咳,手足厥者,必苦头痛;若不咳,不呕,手足不厥者,头不痛。C209
197 Dương minh bệnh, phản vô hãn, tắc tiểu tiện lợi, nhị tam nhật, ẩu nhi khái, thủ túc quyết giả, tất khổ đầu thống; Nhược bất khái, bất ẩu, thủ túc bất quyết giả, đầu bất thống. C209
Điều này nối tiếp điều trên thảo luận thêm về hội chứng của Dương minh hư hàn lại xen lẫn hội chứng hàn ẩm thượng phạm (phạm lên trên).
“phản vô hãn” (反无汗) lại không xuất mồ hôi, tiếp tục câu văn ở trên, Dương minh bệnh ngược lại không có mồ hôi, cho thấy người này không hư nhược mà có hàn, hàm ý như vậy. Nếu quả thực có nhiệt, người bệnh sẽ xuất mồ hôi (trấp nhiên xuất hãn). “Nhi tiểu tiện lợi” (而小便利) mà tiểu tiện thuận lợi, tiểu tiện không vấn đề cho thấy bên trong không có thấp tà. “Nhị tam nhật ẩu nhi khái, thủ túc quyết giả, tất khổ đầu thống.” (二三日呕而咳,手足厥者,必苦头痛.) sau hai, ba ngày , “ẩu nhi khái”, “ẩu” là vị khí trào ngược gây nôn, mà còn ho, tay chân lạnh. “Âm dương khí bất tương thuận tiếp tiện vi quyết.” (阴阳气不相顺接便为
厥。) Khí âm dương không hoà hợp, “Quyết giả, thủ túc nghịch lãnh thị dã.” (厥者,手足逆冷是也) chứng quyết là chân tay lạnh ngược lên. Như vậy khi hạ một chữ “tất”, một chứng trạng như vậy là rất tệ hại, “tất khổ đầu thống” (必苦头痛). “khổ”là rất đau khổ, đau đớn rất nhiều trong đầu. Lý do vì đâu? Vì dạ dày bị lạnh.
Trong dạ dày có hàn lãnh, vị khí cũng hư nhược, nên khí lạnh trào ngược lên. Phàm khi hàn khí trào ngược, thường có kèm theo thuỷ ẩm, có một chút hàn ẩm. Hàn ẩm trào ngược tất động thuỷ, dương nhiệt thượng kháng tất động phong, đó chính là quy luật. Hàn tà trào ngược, sẽ có một chút ẩm thuỷ, tất nhiên sẽ sản sinh một chút ẩm thuỷ trào ngược, vì vậy vừa nôn lại vừa ho, ảnh hưởng đến vị khí sẽ gây nôn, phế khí không thuận lợi sẽ ho. Tại sao “Thủ túc quyết giả”? trong dạ dày hư hàn, vị hư mà hàn, khí trung tiêu không thể cấp cho tay chân, không thể nuôi tứ chi đầy đủ, vì thế tay chân lạnh lẽo. “Tất khổ đầu thống” là đau đầu tệ hại, chính là nói khí thượng nghịch, phạm thanh dương ở trên, đầu là nơi hội tụ của dương, âm hàn phạm vào vị trí của thanh dương, vì thế đau đầu rất tệ hại. Từ ẩu thổ mà ho, đến đau đầu tệ hại, đây chính là thể hiện của bệnh đi lên. Khi đến dạ dày thì gây ẩu thổ, đến ngực phế thì gây ho, lên đến đầu sẽ gây đau đầu tệ hại. Đây chính là một loại trào ngược của hàn tà ở dạ dày, có thể trong đó có thêm một chút âm tà và thuỷ ẩm, đồng thời dương khí không thể nuôi dưỡng tứ chi, khi hàn tà phát động, khí vị dương càng suy yếu nên tay chân bị lạnh. Có phải bệnh này luôn như vậy không? Tôi luôn bị ho, nôn mửa và đau đầu suốt cả ngày. Không, bởi vì đây là chứng hư hàn. “Nhược bất khái, bất ẩu, thủ túc bất quyết giả đầu bất đông.”( 若不咳、不呕、手足
不厥者头不疼。)Nếu không ho, không nôn ói, là hàn tà không đi lên trên, nên tay chân ấm áp, đầu cũng không bị đau.
Điều C208 toàn thân có cảm giác như có trùng bò ở dưới da, vị khí hư hàn, “thị dĩ cửu hư cố dã” (是以久虚故也)là do hư tổn lâu ngày. Điều C209, không những vị đã hư tổn mà còn có hàn nghịch lên (trào ngược), công kích lên trên, trên lâm sàng có bệnh như vậy không? Có bệnh như vậy, bệnh nhân ẩu, ho và đau đầu. Dùng phương dược nào để điều trị? Không có. Các nhà chú giải có rất nhiều ý kiến và nhiều phương thang được đưa ra, theo ý kiến của người viết, nên dùng thang Ngô thù du, thang này để điều trị vị hàn, cũng có thể trị chứng tay chân lạnh.
198 阳明病,但头眩,不恶寒,故能食;若咳者,其人必咽痛;不咳者,咽不痛。C210
198 Dương minh bệnh, đãn đầu huyễn, bất ố hàn, cố năng thực; Nhược khái giả, kỳ nhân tất yết thống; Bất khái giả, yết bất thống. C210
Điều này thảo luận về chứng nóng trong dạ dày. Trong dạ dày nóng cũng trào ngược, trào ngược vì dạ dày nóng sẽ có một chút phong. Nhiệt thuộc dương, hàn thuộc âm.
Dương minh có nhiệt, không có hàn, so sánh với điều C209. Dương minh có nhiệt, cũng không có biểu tà, bên trong có nhiệt, vì thế không ghét lạnh. “Đãn đầu huyễn” (但头眩) nhưng đầu choáng váng, đầu choáng váng là tà dương nhiệt có chút ít phong, công kích lên trên vì thế đầu mục choáng váng.
“Cố năng thực nhi khái” (故能食而咳) nên ăn được mà ho, vì có nhiệt nên có thể ăn, trúng phong cũng có thể ăn, trúng hàn thì không thể ăn. Nhiệt chủ tiêu diệt ngũ cốc, nhiệt hoả có thể tiêu hoá thực phẩm, vì thế người bệnh có thể ăn uống. “nhi khái” hó là do hoả nhiệt xung kích lên trên, dẫn đến phế khí không thuận lợi. Đồng thời, kinh mạch của Phế phát sinh ở trung tiêu, nhập xuống đại tràng, xuất ra thượng vị (bí môn), vì thế mạch của Thái âm không tách rời vị khẩu, đi vào vị (dạ dày), xuống ruột, vòng vào vị khẩu, khi dạ dày bị nóng thì phế khí không thuận lợi vì thế bệnh nhân bị ho. “kỳ nhân tất yết thống”(其人必咽痛) người này bị đau họng, “yết”, (họng)có hai ống, một nối liền với phổi, một nối với dạ dày, cổ họng có quan hệ với phế và vị, khi vị bị nóng cổ họng sẽ bị đau. “Nhược bất khái giả, yết bất thống.” (若不咳者,咽不痛。)nếu không ho là họng không đau. Điều này cho thấy khi nhiệt tà của dạ dày không công kích lên trên, cổ họng sẽ không đau. Hai điều C209 và C210, một điều là âm hàn thượng nghịch, một là hoả nhiệt thượng công; Một trường hợp là không thể ăn uống, và một là có thể ăn uống; Một là chân tay lạnh, một là không ghét lạnh, đều là những so sánh hỗ tương. Một là đau đầu tệ hại, một là huyễn vựng (chóng mặt), hàn tà gây tổn thương dương thì sẽ gây đau đầu; ; Nhiệt tà công kích lên trên có kèm theo động phong, vì thế gây huyễn vựng.
Hai điều này là để so sánh, và cần phải kết hợp với cơ địa.
199 阳明病,无汗,小便不利,心中懊憹者,身必发黄。C211
199 Dương minh bệnh, vô hãn, tiểu tiện bất lợi, tâm trung áo não giả, thân tất phát hoàng. C211
Điều này trình bày nguyên nhân và chứng trạng trước khi thấp tà gây bệnh và thấp nhiệt vàng da. Không phải chúng ta đã thảo luận về chuyện này trước đây, vì sao Trọng Cảnh lập lại? “ Dương minh bệnh mạch trì, thực nan dụng bão …… thử dục tác cốc đản” (阳明病脉迟,食难用饱……此欲作谷疸,), “thương hàn mạch phù nhi hoãn, thủ túc tự ôn giả, thị vi hệ tại Thái âm……Thái âm giả, thân đương phát hoàng.” (伤寒脉浮而缓,手足自温者,是为系在太阴……太阴者,身当发黄。)Lại giảng thấp sao! Đây không phải trùng lặp, ở đây có ý nghĩa. Đừng thấy doạn văn quá ngắn, thật ra nó có ý nghĩa chỉ đạo lâm sàng rất lớn. “Dương minh bệnh vô hãn” (阳明病无汗)dương minh bệnh không có mồ hôi, câu này quán triệt tinh thần của phần trước, “Dương minh bệnh pháp đa hãn, phản vô hãn.” (阳明病
法多汗,反无汗。) Điều này xuất ra từ điều trên. Vì thế còn tiếp nối với đoạn văn trên.
Dương minh bệnh chính là có mồ hôi, trên lâm sàng câu này rất hữu dụng, khi biện chứng bệnh ở kinh Dương minh điều đầu tiên cần hỏi là có mồ hôi hay không, “phản vô hãn” (ngược lại không có mồ hôi) cho thấy Dương minh nếu như có nhiệt, nhiệt này không thể bốc hơi để xuất hãn, nhiệt của Dương minh không thể vượt thoát ra ngoài, không xuất ra được. Tại sao nhiệt của Dương minh không thể vượt thoát ra ngoài? Vì nhiệt bị níu giữ lại, nhiệt lưu lại cùng với thấp, vì thấp là uẩn tà (bệnh tà có tính lưu giữ), thấp tà giữ lại nên nhiệt không thể thoát vượt ra ngoài. Nhiệt không thể vượt ra nên thân thể không xuất hãn, vì thế Dương minh bệnh không xuất hãn vì trong nhiệt có thấp.
Phần trên nói rằng Dương minh bệnh không xuất hãn là do có hàn, còn điều này là do có thấp. Có phải là hoàn toàn không xuất hãn, cá biệt cũng có bệnh nhân xuất hãn “Đãn đầu hãn xuất, tề cảnh nhi hoàn” (但头汗出,剂颈
而还) Nhưng đầu có một chút mồ hôi, từ cổ trở xuống toàn thân đều không xuất hãn. Như vậy gọi là vô hãn. Nguyên nhân này là do có thấp. “Tam tiêu giả, thuỷ cốc chi đạo lộ dã” (三
焦者,水谷之道路也。) Tam tiêu là đường đi của thuỷ cốc. “Tam tiêu giả, quyết độc chi quan, thuỷ đạo xuất yên.” (三焦者,决渎之官,水道出焉) Tam tiêu là là quan nạo vét kênh rạch, cai quản thuỷ đạo. Tam tiêu là đường thuỷ, là kênh rạch có khả năng bài tiết thấp tà ra ngoài. Hiện tại, “tiểu tiện bất lợi giả” (小便不利者) tiểu tiện không thuận lợi, là trong thấp còn có nhiệt, nhiệt níu giữ thấp, vì vậy tiểu tiện bất lợi, thấp không tiết được ra ngoài, Thấp không tiết ra, nhiệt không vượt ra, thấp và nhiệt nung nấu ở bên trong, vì vậy ở đây phản ảnh một bệnh lý của chứng uất, chứng thấp nhiệt nan giải khó tách rời này ảnh hưởng đến sự bài tiết của mật. Sẽ gây nên bệnh vàng da.
Vì sao trong bụng phiền muộn? tâm trạng buồn phiền chán nản là hội chứng tiền khu (đi trước) của bệnh vàng da, vì thế “Tâm trung ảo não thân tất phát hoàng.” (心中懊憹者,身必发黄。)Trước tiên trong lòng cảm thấy phiền muộn, sau đó thân thể xuất hiện sắc vàng. Vì sao trong bụng cảm thấy phiền muộn? Thấp và nhiệt nung nấu bên trong dạ dày, thấp nhiệt trong dạ dày khiến bệnh nhân cực kỳ khó chịu.
Là một loại khó chịu uất kết ở trong không bộc lộ ra ngoài và điều này càng làm bệnh nhân khó chịu hơn, người xưa gọi ảo não là cảm giác tự hận bản thân, thập phần không thoải mái. Có chứng trạng như trên, vào thời điểm này sẽ xuất hiện bệnh vàng da gọi là bệnh hoàng đản.
Hai điều về cốc đản ở trên đều không đề cập đến vấn đề ảo não, vì thế ở điều này cũng không phải là lặp lại. Ngoài ra điều này cho thấy Dương minh bệnh không có mồ hôi, không chỉ là vấn đề hư hàn, cũng có vấn đề về thấp nhiệt. Vấn đề thấp nhiệt, làm thế nào để có thể đưa ra kết luận như vậy? Nếu tiểu tiện bất lợi, tiểu tiện bất lợi và không có mồ hôi, hoặc giả chỉ có mồ hôi trên đầu còn toàn thân không có mồ hôi, tâm lý đặc biệt khó chịu, nước tiểu vàng, lúc này tròng trắng mắt có sắc vàng, là bắt đầu phát bệnh vàng da.
200 阳明病,被火,额上微汗出,而小便不利者,必发黄。C212
200 Dương minh bệnh, bị hoả, ngạch thượng vi hãn xuất, nhi tiểu tiện bất lợi giả, tất phát hoàng. C212
Điều này thảo luận bệnh vàng da kế phát do bị hoả (điều trị bằng hoả)
Trong điều trị Dương minh bệnh bằng hoả liệu. “Bị” (被) là gia thêm, dùng phép trị liệu bằng lửa, gọi là bị hoả (被火). Hoả liệu là một số liệu pháp vật lý cổ xưa, ở đây không nói chi tiết là loại hoả gì. Sau khi điều trị bằng hoả liệu, nếu như xuất mồ hôi quá nhiều, hoả sẽ làm cho Dương minh táo nhiệt, táo nhiệt (khô nóng), táo nhiệt từ trong bốc hơi ra ngoài, xuất hãn liên tục, táo nhiệt thành thực chứng, đại tiện táo kết hình thành thực chứng của kinh Dương minh.
Hiện tại, “Ngạch thượng vi hãn xuất”, có một chút mồ hôi ở não môn (vùng trán?) các nơi khác không có mồ hôi. Đây là do nhiệt uất, nhiệt của kinh Dương minh uất kết ở bên trong, không phát ra ngoài, vì thế chỉ có một chút mồ hôi ở phần cao nhất của trán, trên thân thể không có mồ hôi. Nhiệt của Dương minh không vượt ra ngoài, sự việc này có thể nghĩ ra, tại sao lửa lại không gây đổ mồ hôi? “Tiểu tiện bất lợi giả”, tiểu tiện bất lợi vì có thấp, thấp bị uất kết. Không xuất mồ hôi vì nhiệt uất; Tiểu tiện bất lợi vì thấp ngưng kết. Nhiệt uất và thấp kết, thấp nhiệt tương chưng (nung đốt nhau), vì thế toàn thân phát bệnh vàng da.
Điều này thảo luận nguyên nhân hình thành bệnh vàng da do điều trị sai lầm. Tuy điều trị sai, nhưng cũng nói lên một vấn đề, là nếu bệnh ở Dương minh không biến hoá theo táo mà lại biến hoá theo thấp thì tân dịch không thụ thương, không chỉ tân dịch không thụ thương, ngược lại, tân dịch còn ngưng tụ nhẹ, vì thế đã không thấy xuất hãn lại không thấy tiểu tiện thuận lợi. Ở đây không giống với trường hợp táo nhiệt bức bách tân dịch của Dương minh bệnh. Táo nhiệt bức bách tân dịch của Dương minh bệnh là có nhiều mồ hôi, toàn thân xuất mồ hôi; Tiểu tiện nhiều lần, lượng nước tiểu cũng nhiều. Như ở thiên Dương minh, “Phu dương mạch phù nhi sáp, phù tắc vị khí cường, sáp tắc tiểu tiện sáp, kỳ tỳ vi ước” (跗阳脉浮而涩,浮则胃气强,涩则小便数,其脾为约。) Mạch Phu dương phù mà sáp, phù là vị khí mạnh, sáp thì tiểu tiện nhiều, là tạng tỳ ước (một loại táo bón) là Ma tử nhân hoàn chứng, táo nhiệt ở dương minh bức bách tân dịch, nên bên ngoài xuất mồ hôi, tân dịch thấm xuống dưới, tiểu tiện cũng nhiều nên khô cạn (táo hoá). Tân dịch đều thoát đi, vị tràng trở nên khô khan. Nếu như bên ngoài không xuất hãn, tuy có nhiệt, cũng không xuất hãn, cũng không theo tiểu tiện ra ngoài, hàm ý là ẩm ướt, nên thấp hoá (ẩm ướt), thấp và nhiệt uất kết, phát nhiệt, chính là thành chứng thấp nhiệt mà không phải là chứng táo nhiệt. Vì thế tháo nhiệt và thấp nhiệt là những bệnh đối lập với nhau, hội chứng chính là khác nhau. Vì thế bệnh trong kinh Dương minh có táo nhiệt và cũng có thấp nhiệt, làm so sánh như vậy để có ấn tượng càng thêm sâu sắc.
201 阳明病,脉浮而紧者,必潮热,发作有时。但浮者,必盗汗出。C213
201 Dương minh bệnh, mạch phù nhi khẩn giả, tất triều nhiệt, phát tác hữu thời. Đãn phù giả, tất đạo hãn xuất. C213
Điều này giới thiệu kinh chứng phủ chứng (hội chứng của kinh và hội chứng của phủ), đồng thời chỉ ra kinh chứng có hội chứng xuất hãn ban đêm (mồ hôi trộm). Dương minh bệnh mạch phù nhi khẩn và Thái dương bệnh mạch phù nhi khẩn không giống nhau. Thái dương chủ biểu, Dương minh chủ lý, vì vậy không thể giải thích mạch phù khẩn là biểu có hàn. Nên giải thích như thế nào? “Khẩn” ở đây là phản ảnh chứng lý thực ở Dương minh, mạch khẩn chủ về thực chứng, thực này thuộc về Vị gia thực, chính là chủ về phủ chứng của Dương minh. Vị tràng thực chứng, vì thế mạch hữu lực là mạch khẩn. Mạch phù cho thấy còn chưa hoàn toàn triệt để thành phủ chứng, mạch phù là phản ảnh bệnh tà ở kinh của Dương minh chưa được giải trừ. Cho nên mạch phù mà khẩn chính là bệnh chung của tà ở biểu của kinh và của tà ở lý của phủ gây ra.
Đã thành thực chứng ở trong (lý), “tất triều nhiệt, phát tác hữu thời” (必潮热,发作有时). Bệnh đã đến Dương minh, cấu thành thực chứng táo nhiệt, vì thế sẽ xuất hiện triều nhiệt, triều là đến theo giờ, tựa như thuỷ triều, đến giờ thuỷ triều lên. Chứng triều nhiệt của Dương minh bệnh thường phát sinh vào giờ Thân (15-17 giờ), đến hạ ngọ (sau trưa) là sốt cao, vì thế gọi là “phát tác hữu thời” phát tác theo giờ. Triều nhiệt là một đặc điểm nhiệt hình của Dương minh Vị gia thực. “Dương minh bệnh dục giải thời, tòng Thân chí Tuất thượng” (阳明病欲解时,从申至戌上)từ giờ Thân đến giờ Tuất là thời điểm thuận lợi để giải trừ bệnh ở kinh Dương minh, ở thời điểm này khí của kinh Dương minh vượng thịnh, tương tranh với tà khí, vì thế lúc này cơ thể phát sinh triều nhiệt. Là hiện tượng chính khí đề kháng bệnh tà.
“Mạch phù nhi khẩn” cho thấy lý chứng nặng hơn kinh chứng, tuy kinh chứng và phủ chứng trong ngoài của Dương minh đều có bệnh, nhưng xét theo “tất triều nhiệt, phát tác hữu thời” (必潮热,发作有时) là sốt theo giờ, thì phủ chứng lớn hơn kinh chứng. Tà khí sẽ nhanh chóng từ kinh xâm nhập phủ, hoàn toàn tạo thành phủ chứng. “Đãn phù giả, tất đạo hãn xuất”, “đãn phù giả” là không có mạch khẩn, chỉ có mạch phù, là bên trong tràng vị không thực. Vì không thấy mạch khẩn nên có thể suy đoán là bệnh tà không truyền vào tràng vị mà chỉ ở kinh của Dương minh. Kinh của Dương minh và biểu của Thái dương không giống nhau, kinh của Dương minh có bệnh tà, tuy nhiên vì lý bất thực, nên nhiệt này và nhiệt của Thái dương khác nhau. Dương nhiệt ở kinh biểu là khá mạnh, như vậy sẽ có mồ hôi trộm, khi ngủ toàn thân xuất mồ hôi.
Vì sao khi ngủ lại xuất mồ hôi? Vì khí dương thêm vào âm gọi là hãn (mồ hôi), kinh nhiệt của Dương minh còn khá mạnh. Dương khí của Dương minh cường thịnh, mà âm khí để so sánh là không đủ. Vì thế khí dương nhập vào âm, âm dịch bị dương nhiệt bức bách nên xuất mồ hôi (khí ngue là dương đi vào âm). Vì thế, Thành Vô Kỷ kết luận: “Dương minh lý nhiệt giả tự hãn”(阳明里热者自汗), là Dương minh lý nhiệt là xuất mồ hôi liên tục; “Biểu nhiệt giả đạo hãn”(表热者盗汗) là nhiệt ở biểu thì xuất mồ hôi trộm, biểu nhiệt chính là nhiệt ở kinh, là xuất mồ hôi khi ngủ. Dương minh bệnh nhiều mồ hôi, nhưng mồ hôi không giống nhau, có tự hãn, có đạo hãn. Tự hãn là khá nhiều mồ hôi, là ở phủ, bên trong có nhiệt nung nấu. Nhiệt tại kinh, tại biểu tương đối ít, vì thế không phải là tự hãn, mà là khi ngủ, dương khí nhập vào âm, dương khí mạnh, âm khí bị bức bách nên xuất hãn, gọi là đạo hãn (mồ hôi trộm)
Điều này cần liên hệ xem xét với điều C201 “Dương minh trúng phong, khẩu khổ yết can, phúc mãn vi suyễn, phát nhiệt ố hàn, mạch phù nhi khẩn……”. Điều C201 cũng có mạch phù mà khẩn, là Dương minh kinh chứng và Dương minh phủ chứng, không nên dùng phép tả hạ quá sớm, tả hạ quá sớm “tắc phúc mãn tiểu tiện nan dã” (则腹满小便难也) là đầy bụng và tiểu tiện khó khăn. Ở đây không đề cập đến đầy bụng, mà là triều nhiệt. Việc phát triều nhiệt và đầy bụng có quan hệ với nhau không? Có quan hệ.
Vì các điều cần phải được liên hệ với nhau, liên hệ trước sau, liên hệ ảnh hưởng, từng điều từng điều kết thành một thể hữu cơ. Khi đọc {Thương hàn luận}, không nên tách rời từng điều, vì như thế là không đúng với tinh thần {Thương hàn luận}.