Từ điều 176 đến 180 (C185-C191)
Từ điều 176 đến 180
176 伤寒脉浮滑,此表有热、里有寒,白虎汤主之。C185
176 Thương hàn mạch phù hoạt, thử biểu hữu nhiệt, lý hữu hàn, Bạch hổ thang chủ chi. C185
Phương thang Bạch hổ
Dương minh Bạch hổ biện phi nan
Nan tại dương tà bối ố hàn
Cao cân Tri lục Cam nhị lạng
Cánh mễ lục hợp phục chi an
Tri mẫu 6 lạng Thạch cao 1 cân, giã nát Cam thảo 2 lạng Cánh mễ (gạo tẻ) 6 hợp.
4 vị thuốc trên, dùng 1 đấu nước, nấu chín gạo, thành nước thuốc, bỏ bã, uống 1 thăng nước thuốc âm, ngày uống ba lần.
Điều này thảo luận về mạch chứng và phép trị liệu của kinh dương minh nóng nhiệt mà chưa thành thực chứng. Liên quan với “Biểu hữu nhiệt, lý hữu hàn” (表有热,里有寒) bên ngoài biểu có nhiệt, bên trong lý có hàn, các nhà chú thích có nhiều ý kiến. Kết hợp với thực tiễn lâm sàng, chúng tôi cho rằng sau chữ biểu nên thêm vào chữ “lý” (里), như thế là “Biểu lý hữu nhiệt” (表里有热). Lược bỏ câu “Lý hữu hàn” (里有寒). Toàn câu sẽ thành “ Thương hàn, mạch phù hoạt, thử biểu lý hữu nhiệt, Bạch hổ thang chủ chi” (伤寒,脉浮滑,此表里有热,白虎汤主之。)
Nổi bật là mạch, vì là mạch phù hoạt, các mạch Đại Phù Sác Động Hoạt đều thuộc mạch dương.
Mạch Phù mà Hoạt, là biểu hiện của dương khí hữu dư, kinh dương minh hữu nhiệt, khí phận hữu nhiệt. Khí phận hữu nhiệt tràn vào biểu lý, biểu lý hữu nhiệt, các chứng trạng miệng khát, tâm phiền, xuất hãn cũng chính là tự tại ngôn ngoại (những chứng trạng hiểu ngầm). Nếu như khí không bị tổn thương, chỉ tổn thương tân dịch, việc dùng thang Bạch hổ là có thể, không cần gia Nhân sâm.
Thang Bạch hổ gồm bốn vị: Tri mẫu, Thạch cao, Cánh mễ, chích Cam thảo. Tri mẫu vị đắng nhẹ, rất tư nhuận (ẩm ướt), có thể bổ dưỡng tân dịch, còn có thể có tác dụng dưỡng thận âm, phế âm và vị âm, đối với âm phận của ba tạng khí (Phế, Thận, Vị) Tri mẫu đều có thể bổ dưỡng, Bạch hổ thang chứng gồm miệng khô, đắng, vì nhiệt tổn thương đến âm phận, vì thế cần dùng Tri mẫu. Tri mẫu có thể thanh nhiệt, vì có vị đắng mà tư nhuận (ẩm ướt), lại có thể nuôi dưỡng tân dịch, vì thế vị thuốc Tri mẫu là vị rất quan trọng trong thang Bạch hổ. Vì sao thang Bạch hổ không dùng Mạch đông, Thiên hoa phấn, Thạch hộc, Ngọc trúc, nhưng lại dùng Tri mẫu? Chúng ta cứ tiếp tục suy nghĩ, đợi đến lúc chúng ta thảo luận thang Trúc diệp Thạch cao, thang này dùng Mạch đông mà không dùng Tri mẫu. Vì Tri mẫu không những sinh tân dịch, mà còn có tác dụng thanh nhiệt, mà những vị thuốc này(Mạch đông, Thiên hoa phấn, Thạch hộc, Ngọc trúc) thường nói phù trì tân dịch, nuôi dưỡng tân dịch, phù trợ chính khí thì có thừa, nhưng năng lực thanh nhiệt thì không đủ. Tri mẫu có thể khứ tà cũng có thể nuôi dưỡng chính khí, có thể dưỡng âm tinh cho Phế, Vị và Thận. Vì sao lại gọi nó là Tri mẫu? Chính là biết Phế âm chính là mẹ (mẫu) của Thận thuỷ.
Mẫu, kim thuỷ tương sinh. Vì thế vị thuốc này (Tri mẫu) có thể nuôi dưỡng thận âm, nuôi dưỡng Phế âm. Thạch cao là vị thuốc tân hàn (cay lạnh), Thành Vô Kỷ cho là cam hàn (ngọt lạnh).Thạch cao thanh nhiệt, là thang thuốc đại hàn (rất lạnh), có thể thanh nhiệt ở khí phận, nhiệt của Phế Vị, vì thế vị thuốc này có thể sinh âm, có thể thanh nhiệt, trừ khứ nhiệt rồi thì tân dịch không bị tiêu háo.
Thạch cao là thuốc thanh nhiệt, là vị thuốc có tính hàn, có thể thanh nhiệt ở Phế Vị, lại có thể thanh nhiệt của vệ khí, vì thế Thạch cao là vị thuốc phi thường trọng yếu, trị thương hàn, trị ôn bệnh. Một cuốn y thư có tên {Dịch chẩn nhất đắc}, trong sách này dùng vị Thạch cao, dùng đến 1 cân, hai cân, ba cân, đây là số nhân, không phải chỉ dùng 2 cân, vì sao? Là có một loại dịch chứng, đặc biệt nóng, không dùng Thạch cao thì không thể.
Nhưng thuốc này không thể ở ngoài những nghiên cứu y học hiện đại, nên dù có thử nghiệm cũng không thể kiểm tra được thạch cao. Tên của thạch cao là gì? Nó được gọi là canxi.
Thạch cao và Tri mẫu vừa có tác dụng thanh nhiệt lại sinh tân dịch, đây chính là những vị thuốc chủ yếu, dựa theo ý nghĩa của thang Bạch hổ mà nói, Tri mẫu chiếm vị trí thứ nhất, Thạch cao ở vị trí thứ hai. Các vị thuốc rất mát, lại ngại tỳ vị bị ảnh hưởng, vì thế gia thêm Cam thảo nướng, có tác dụng cam ôn, gia thêm Cánh mễ. Mễ (gạo) đứng đầu ngũ cốc, có tác dụng bổ trung ích khí, một là thêm vị ngũ cốc để bồi bổ nguồn hậu thiên tỳ vị, đồng thời hạn chế hàn tính của Thạch cao và Tri mẫu.
177伤寒脉结代,心动悸,炙甘草汤主之。C186
177 Thương hàn mạch kết đại, tâm động quý, chích Cam thảo thang chủ chi. C186
Phương thang Chích Cam thảo
Kết đại mạch tu tứ lạng cam
Táo mai tam thập Quế Khương tam
Bán Thăng ma Mạch nhất cân Địa
Nhị lạng Sâm Giao tửu thuỷ hàm
Cam thảo 4 lạng, nướng Gừng tươi 3 lạng, thái mỏng Quế chi 3 lạng, bỏ vỏ Nhân sâm 2 lạng Sinh địa hoàng 1 cân A giao 2 lạng Mạch môn đông nửa thăng, bỏ lõi Ma tử nhân nửa thăng Đại táo 12 quả, bổ ra
Chín vị thuốc trên, dùng 7 thăng rượu trong, 8 thăng nước, đầu tiên nấu 8 vị, nấu còn 3 thăng, bỏ bã, cho A giao vào đến khi tan hết, uống ấm 1 thăng, ngày uống 3 lần, thang này có tên là thang Phục mạch.
Điều này trình bày hội chứng và phương pháp điều trị chứng bệnh tà ở kinh Thái dương truyền vào kinh Thiếu âm mà âm dương đều bị hư tổn.
Mạch kết đại có liên hệ với tâm động quý (tim đập nhanh hồi hộp), vì tâm chủ huyết mạch, nhưng người bệnh không biết tim đập nhanh, đây là hiện tượng bình thường. Vấn đề hiện tại là, bệnh nhân cảm thấy tim đập, tim đập có nhẹ có nặng, ở đây là tim đập mạnh, gọi là “tâm động quý” (心动悸), thêm chữ “động” , là tim đập không bình thường. Ở những phần trước có đề cập đến “tâm động quý” không? Chỉ có tâm quý thôi, “phát hãn hậu, tâm hạ quý, Quế chi Cam thảo thang chủ chi” (发汗后,心下悸,桂枝甘草汤主之). “Thương hàn, tâm phiền quý, Tiểu kiến trung thang chủ chi” (伤寒,心烦悸,小建中汤主之), không có chữ “động”, hiện tại có thêm chữ “động” có hình ảnh của bệnh ở kinh Quyết âm, “khí thượng chàng tâm”(气上撞心) (chàng= va chạm) gia thêm chữ “chàng” (撞), hiện tại gia thêm chữ “động”, như vậy “ngôn kỳ thậm dã” (thậm là rất, lắm). Đây được gọi là trạng thái bệnh tật nặng hơn, hiện nay chứng trạng này y học hiện đại gọi là rối loạn nhịp tim, nhịp đập sớm, cơn co thắt ngoài chu kỳ và rối loạn nhịp tim.
Vì tim đập không đều, nên xuất hiện mạch kết đại, mạch kết và mạch đại là hai loại mạch, đều có nhịp ngưng lại, đang đập ngừng lại một cái, sau đó lại tiếp tục đập, điều này có liên hệ và phù hợp với chứng tâm động quý. Rối loạn nhịp tim thể hiện ở mạch, thấy mạch kết đại, mạch kết, mạch đại đều là mạch âm, mạch đến, chậm, tên là mạch kết.
Mạch ngừng một nhịp, tiếp tục đập trở lại, đây gọi là mạch kết. Không thể đập lại, tim đang đập, ngừng lại một lát sau mới đập tiếp, đập trở lại rồi và đập rất nhanh thì gọi là mạch đại. Là phản ảnh của khí huyết hư suy ở tạng tâm.
Tạng tâm là đại chủ (ông chủ lớn) của ngũ tạng lục phủ, khi tim hư yếu thì mạch kết đại, đây không phải là chuyện tầm thường. Đây là tà khí và chính khí của tạng tâm đã phát sinh quan hệ. Lúc này chính khí hư tổn là chính, tà khí chỉ là phụ, vì thế “Thương hàn, mạch kết đại, chích Cam thảo thang chủ chi” (伤寒,脉结代,炙甘草汤主之) Bất luận chứng thương hàn còn có những vấn đề khác, cũng chỉ là phụ, chủ yếu là vấn đề của tạng tâm, cần tích cực phù trợ chính khí, cần điều chỉnh huyết mạch, cần bổ ích khí huyết, để nhịp tim khôi phục bình thường, vì thế nên dùng thang Chích Cam thảo. Thang Chích Cam thảo là phương thang có một số vị thuốc ngọt, vị ngọt có tác dụng bổ trung ích khí
Vì sao cần bổ trung ích khí? Vì khí huyết sinh ở trung tiêu, tỳ vị là nguồn của khí huyết. Khí huyết ở trung tiêu đầy đủ, huyết được nuôi dưỡng và đầy đủ trong mạch. Trong phương còn có Sinh địa hoàng, Mạch đông, A giao, Ma tử nhân nhuận táo thêm tân dịch bổ huyết, khiến cho huyết dịch được bổ sung, huyết dịch có thể nuôi dưỡng tạng tâm, khí huyết đều có, nhưng thuộc âm, âm không được dương hoá, vì thế cần gia thêm nột số dương dược, gia thêm Quế chi, Sinh khương, còn có rượu, khi nấu thuốc gia thêm rượu để thúc đẩy huyết mạch, khiến huyết mạch thông lợi, khiến A giao, Sinh địa, Mạch đông không phát sinh niêm trệ. Như vậy chính là có lợi cho tạng tâm và huyết mạch. Sau khi uống thuốc, có thể khôi phục mạch bình thường, cho nên thang Chích Cam thảo còn có tên là thang Phục mạch.
Tóm lại, đặc điểm của thang Chích Cam thảo là nuôi dưỡng âm, nuôi âm chính là bổ huyết, còn có thể bổ khí, dưỡng tâm, có thể thông lợi huyết mạch. Thế nào gọi là thông lợi huyết mạch?
Căn cứ nội dung của {Danh y biệt lục}, vị Cam thảo có nhiều khả năng thông mạch, lợi khí huyết. Dược học cận đại phát hiện trong vị Cam thảo có một loại vật chất gọi là Cam thảo Cam (Giu cô xít), có tác dụng giúp tạng tâm mạnh mẽ, nói như vậy là biết tại sao phương thang này có tên là thang Chích Cam thảo, chích Cam thảo có tác dụng trị liệu chủ yếu đối với “Tâm động quý, mạch kết đại, chích cam thảo thang chủ chi” (伤寒,脉结代,炙甘草汤主之). Thương hàn, mạch kết đại, thang chích cam thảo chủ trị bệnh này
Theo hiểu biết của người viết, phương này cũng có những hạn chế nhất định, khi sử dụng thang chích Cam thảo nên chú ý một số vấn đề. Một là uống nhiều thang chích Cam thảo sẽ gây phù thũng ở chân và mặt, hai là uống nhiều sẽ bị tiêu chảy, tại sao như vậy? Tuy trong phương có thanh tửu (rượu), Sinh khương, Quế chi, nhưng chính là có nhiều vị thuốc bổ âm, chúng cùng xem lại phương thang: Cam thảo 4 lạng, nướng Gừng tươi 3 lạng, thái mỏng Quế chi 3 lạng, bỏ vỏ Nhân sâm 2 lạng Sinh địa hoàng 1 cân A giao 2 lạng Mạch môn đông nửa thăng Ma tử nhân nửa thăng Đại táo 12 quả, bổ ra, trong phương này có rất nhiều vị thuốc tư nhuận, uống nhiều sẽ xuất hiện chứng phù thũng. Trước đây người viết không nhận ra vấn đề này, có một bệnh nhân bị thấp tim, dùng thang Chích Cam thảo thấy có tác dụng rất tốt, liền đem toa thuốc về uống, tuy tốt cho tim mạch nhưng chân và mặt bị sưng. Sau đó không chỉ riêng trường hợp này, một số trường hợp bệnh tim khác như viêm cơ tim, mạch kết đại, trung y khám thuộc về khí huyết hư, huyết mạch bất túc, dùng thang chích Cam thảo, sau khi dùng một thời gian thì đều xuất hiện phù thũng, đi tả.
Ngoài ra, căn cứ theo nhận định của người viết, “Mạch kết đại, tâm động quý”gia thêm Ngũ vị tử sẽ có hiệu quả tốt hơn. Gia Nhân sâm, Mạch đông, Ngũ vị tử sẽ thành thang Sinh mạch tán trong {Thiên Kim Yếu Phương} của Tôn Tư Mạc. Theo ý của Kha Cầm là bỏ Ma tử nhân, gia thêm Toan Táo nhân, theo ông ta gia thêm Toan Táo nhân hiệu quả sẽ tốt hơn.
Vì sao gọi là thanh tửu? Thời nhà Hán không có Bạch can tửu, tất cả là rượu gạo (mễ tửu), rượu được làm từ nếp, từ xưa đã phân thành hai loại là rượu gạo trắng, gọi là thanh tửu (rượu trong). Một loại là Hoàng mễ tửu gọi là trọc tửu (rượu đục).
Bệnh ở kinh Thái dương khởi đầu từ “Thái dương chi vi bệnh” cuối cùng đến thương hàn mạch kết đại, tâm động quý, thang chích Cam thảo, bệnh ở kinh Thủ thiếu âm tâm tạng là kết thúc, lý do là gì? Vì Thái dương và Thiếu dương là biểu lý; Kinh Thiếu âm, một là thận, một là tâm, túc thiếu âm thận, thủ thiếu âm tâm. Bệnh ở kinh Thái dương bắt đầu phát bệnh là phát nhiệt sợ lạnh, bắt đầu đề kháng, là tà khí uất ở biểu, cuối cùng kết thúc với tình trạng hư suy của thủ thiếu âm tạng tâm, bệnh theo tà khí bắt đầu, đến khi chính khí hư suy, kinh Thái dương và kinh Thiếu âm có quan hệ biểu lý, có liên hệ nội tại là như vậy.
Đồng thời Thái dương bệnh có thể dụ phát một số bệnh ở kinh Thiếu âm, dương khí hư suy của kinh Túc thiếu âm và khí huyết hư suy của kinh Thủ thiếu âm, một là Tứ nghịch thang chứng, một là chích Cam thảo thang chứng. Tổng kết như vậy để dễ hiểu hơn.
178 脉按之来缓,而时一止复来者,名曰结。又脉来动而中止,更来小数,中有还者反动,名曰结阴也;脉来动而中止,不能自还,因而复动,名曰代阴也。得此脉者,必难治。C187
178 Mạch án chi lai hoãn, nhi thời nhất chỉ phục lai giả, danh viết kết. Hựu mạch lai động nhi trung chỉ, canh lai tiểu sác, trung hữu hoàn giả phản động, danh viết kết âm dã; Mạch lai động nhi trung chỉ, bất năng tự hoàn, nhân nhi phục động, danh viết đại âm dã. Đắc thử mạch giả, tất nan trị. C187
Điều này thảo luận về đặc điểm của mạch kết đại, đồng thời tiên lượng phán đoán tật bệnh.
Mạch kết và mạch đại đều thuộc âm mạch, chủ về tạng khí hư suy, chính khí suy yếu, nếu như thấy hai mạch này, bệnh thường khó điều trị. Vì thế có câu “Đắc thử mạch giả, tất nan trị” (得此脉者,必难治) Gặp mạch này tất khó điều trị.
Bây giờ sẽ làm một bản tóm tắt cho thiên Thái dương hạ thiên. Hạ thiên có 52 điều, chủ yếu nói về các nội dung sau: Nội dung thứ nhất là chứng kết hung và các chứng tương tự; Nội dung thứ hai giảng về chứng tâm hạ bĩ và các chứng tương tự; Nội dung thứ ba là âm dương kết ở trong, nhiệt tà tràn đầy biểu lý, khí âm dương cùng bị tổn thương của Bạch hổ thang gia Nhân sâm chứng và chứng cấm kỵ của nó (Bạch hổ thang), sau đó lại thảo luận về hai kinh Thái dương và Thiếu dương cùng bệnh (tịnh bệnh), trị pháp của Thái dương Thiếu dương hợp bệnh và Hoàng cầm thang chứng đến chứng thượng nhiệt hạ hàn của Hoàng liên thang chứng. Nội dung thứ tư là giảng về các chứng tương tự thương hàn, hàn thấp tí thống, điều này lưu ở {Kim Quỹ Yếu Lược}. Cuối cùng là Thiếu âm bệnh tâm động quý, mạch kết đại để kết thúc toàn thiên, khởi đầu ở kinh Thái dương và kết thúc ở kinh Thiếu âm, từ dương đến âm, chính là ý nghĩa này.
Phân biệt mạch, chứng và điều trị bệnh của kinh Dương minh
[Tóm tắt]
Tóm tắt về bệnh của kinh Dương minh bao gồm sinh lý, bệnh lý, nguyên nhân bệnh, chứng trạng và quan hệ biểu lý của chúng.
Dương minh về mặt sinh lý là chỉ về túc dương minh vị và thủ dương minh đại tràng, đây gọi là vị trí bệnh; Bệnh lý chính là nơi chốn, tại vị (dạ dày) và ruột già (Đại tràng). Dương minh gọi là lưỡng dương (hai dương) hợp minh, lưỡng dương là Thái dương và Thiếu dương, ở giữa (trung gian) là Dương minh. Minh là gì? Minh có nghĩa là dương khí rất hưng thịnh, dương khí rất mạnh. Thái dương gọi là Cự dương (dương to lớn), “Ngôn kỳ đại dã” (言其大也) là nói đến sự to lớn, khí Thái dương bảo vệ chu thân, diện tích rất lớn; Dương minh “Ngôn kỳ cường dã” (言其强也) là nói về sự mạnh mẽ
minh chính là hưng thịnh nhất, gọi là lưỡng dương hợp minh, nó xen vào giữa Thái dương và Thiếu dương, với dương khí thịnh vượng nhất của nó.
Về mặt sinh lý kinh Dương minh là kinh mạch nhiều khí huyết. Dương minh thuộc vị (dạ dày), vị là nơi chứa thuỷ cốc (nước, thực phẩm), vì thế nó là kinh mạch nhiều khí huyết, có năng lực đề kháng ngoại tà khá tích cực, khá mạnh. Vì thế tà nhiệt từ kinh Thái dương (biểu) đến được kinh Dương minh, Dương minh thuộc tràng vị (ruột, dạ dày), tràng vị thuộc lý (bên trong), vì thế ở bát cương gọi là lý chứng. Bệnh tà vào đến bên trong, liền đấu tranh với Dương minh, khí dương minh sẽ đề kháng bệnh tà, thể hiện trạng thái phấn khích, tích cực, tiến lên. Cho nên khi chính tà đấu tranh là có lợi, theo đặc điểm này thì đây là giai đoạn sau của bệnh ngoại cảm nhiệt tính, Thái dương là bắt đầu đề kháng, đến kinh dương minh thì sức đề kháng mạnh mẽ.
Nguyên nhân hình thành dương minh bệnh có hai phương diện, một là nguyên phát và một là kế phát. Dương minh bệnh nguyên phát thuộc tà tại kinh dương minh không được giải trừ. Do kinh và phủ tạo thành Dương minh bệnh, là bản thân tà khí của kinh dương minh truyền đến phủ của bản thân nó, hoặc trong dạ dày có một số thực phẩm qua đêm, có một số ngưng kết, không trải qua ảnh hưởng của các kinh khác, mà thuộc kinh lạc gốc để gây bệnh. Dương minh bệnh kế phát, thường là biểu tà Thái dương không giải trừ mà truyền vào Dương minh, hoặc là từ giai đoạn Thái dương hoặc Thiếu dương bệnh do phát hãn, thổ hạ tổn thương tân dịch trong vị, tân dịch khô táo mà tục phát (phát nối tiếp) dương minh bệnh.
Dương minh bệnh kế phát có hai hình thức, một là tà truyền kinh, một loại là tổn thương tân dịch ở vị, trong vị khô táo, như vậy tà khí liền truyền vào kinh dương minh. Thái dương bệnh đối với việc phát hãn cần phải rất cẩn thận, nguyên nhân là nếu phát hãn không đúng, không vong dương thì cũng tổn thương âm, khi tân dịch bị tổn thương thì bệnh tà dễ dàng xâm nhập kinh dương minh. Dương minh bệnh chủ yếu là chứng lý thực, biện chứng bát cương là lý lại là thực, lý là vị trí của bệnh, thực là tính chất của bệnh.
Tại sao biến thành thực chứng? Vì dương minh chính là táo nhiệt kết ở trong, dương minh là dương khí hưng thịnh, dương nhiệt hữu dư (có thừa), vì thế loại nhiệt này không phải nhiệt bình thường, loại nhiệt này gây tổn hại cho tân dịch rất nhiều, vì thế gọi là táo nhiệt. Nhiệt của dương minh và nhiệt của Thiếu dương khác nhau, gọi là táo nhiệt, táo nhiệt sẽ kết lại ở trong, phân, cặn bã không thải ra ngoài, mà ngưng tụ lại. Khô và nhiệt ngưng tụ, đại tiện không thể thải ra bên ngoài, khí ở phủ không thông, lục phủ dĩ thông vi thuận (lục phủ cần cần phải thông là thuận lợi), vì thế sẽ hình thành tràng thực mà vị mãn. Như vậy là phản ứng móc xích của bệnh lý, cổ nhân tổng kết là bĩ, mãn, táo, kết, thực là hình thành chứng bĩ mãn ở bụng.
Chứng táo kết trong ruột đã hình thành biến hoá bệnh lý thực chứng của Dương minh , tại sao gọi là thực? thực là có vật chất. Bệnh ở lục phủ, bệnh ở ruột và dạ dày, như vậy phản ảnh bệnh lý ở bên trong xuất hiện đại tiện táo kết, đầy bụng, đau không thích ấn nắn, phản ảnh ở bên ngoài là thân thể nóng, xuất hãn, không sợ lạnh, lại sợ nóng. Vì đây là chứng táo thực, như vậy khí của Dương minh cũng mạnh, dương khí hữu dư, tà khí cũng hữu dư (có thừa), đại tiện cũng không bài tiết, vì thế sẽ nóng hầm hập, xuất hãn liên tục, không sợ lạnh. Lý thực chứng không phải là biểu chứng, nên không sợ lạnh, đây chính là hội chứng chủ yếu của bệnh ở kinh dương minh.
Kinh dương minh và kinh Thái âm có tương quan biểu lý, tạng phủ, âm dương, nội ngoại chính là biểu lý, vì thế tỳ và vị là liên hệ hỗ tương, loại liên hệ này thông qua kinh lạc.
Trong quá trình bệnh, nếu như nhiệt của dương minh bị thấp tà của Thái âm lấn át, Vì thế sẽ không hoá táo (khô ráo). Dương minh thuộc táo nhiệt, táo nhiệt sẽ gây tổn thương tân dịch, có các chứng như xuất hãn, tiểu tiện nhiều lần. Nếu như nhiệt của Dương minh và thấp của Thái âm kết hợp hỗ tương, nhiệt của nó sẽ bị ngăn trở, sẽ không thể gây tổn thương cho âm dịch, biến thành bệnh thấp nhiệt. Vì thế, thấp nhiệt uất chưng trong nhiệt của dương minh không vượt ra ngoài thành mồ hôi, thấp lại không thể xuống dưới thành tiểu tiện mà xuất ra ngoài, vì thế người bệnh trên đầu xuất mồ hôi, mà thân thể thì không xuất mồ hôi, tiểu tiện bất lợi, thấp nhiệt kết vào nhau thành chứng hoàng đản, ảnh hưởng bài tiết của đảm dịch, sẽ phát sinh bệnh hoàng đản, điều này cho thấy sự quan hệ giữa Dương minh và Thái âm.
Bệnh ở kinh dương minh ngoại trừ phủ chứng, còn có kinh chứng. Dương minh có kinh, bên trong gọi là phủ, mặt ngoài gọi là kinh, chúng có kinh chứng, có nhiệt chứng, còn có hàn chứng, có hư chứng, Chính là Dương minh bệnh bao gồm phủ chứng, âm chứng, hàn chứng, nhiệt chứng, hư chứng. Nhưng điểm chính yếu của biện chứng với phủ thực là chủ của **“vị gia thực” là yêu cầu trọng điểm của biện chứng, với Dương minh là vấn đề chủ yếu. Vì thế đề cương của thiên Dương minh chính là “Vị gia thực”, đề xuất “Dương minh chi vi bệnh, vị gia thực dã”. Chính là Dương minh bệnh tuy có nhiều loại biến hoá, nhưng chủ yếu là “Vị gia thực” là chủ, với phủ chứng là chủ.
Phương pháp điều trị của dương minh bệnh, vì hội chứng của nó đa dạng, cho nên khá phức tạp. Có thanh pháp, ôn pháp, hãn pháp, hạ pháp, nhưng cũng có trọng điểm, trọng điểm này chính là thích ứng với chứng của nó, chứng của dương minh bệnh với chủ yếu là “vị gia thực”, vì thế phương pháp trị liệu của nó chủ yếu là tả hạ, vì thế có ba thang Thừa khí là Đại thừa khí, Tiểu thừa khí và Điều vị thừa khí.
179 问曰:病有太阳阳明,有正阳阳明,有少
阳阳明,何谓也?答曰:太阳阳明者,脾约是也。
C188
179 正阳阳明者,胃家实是也。C189
179 少阳阳明者,发汗,利小便已,胃中燥烦实,大便难是也。C190
179 Vấn viết: Bệnh hữu Thái dương Dương minh, hữu chính dương Dương minh, hữu Thiếu dương Dương minh, hà vị dã? Đáp viết: Thái dương Dương minh giả, tỳ ước thị dã. C188
179 Chính dương Dương minh giả, vị gia thực thị dã.
C189
179 Thiếu dương Dương minh giả, phát hãn, lợi tiểu tiện dĩ, vị trung táo phiền thực, đại tiện nan thị dã. C190
Đây là 3 điều trình bày về nguyên nhân, bệnh lý và mạch chứng của bệnh ở kinh Dương minh.
Bệnh ở kinh dương minh là lý chứng, biểu hiện chủ yếu là đại tiện bí kết. Đây là vấn đề nổi trội, Dương minh là lý chứng, thực chứng, chứng trạng cụ thể phản ảnh chứng lý thực chính là phân không xuống. Đây là vấn đề chung, lại phân thành các mực độ khác nhau, đồng thời liên quan đến nguyên nhân của nó. Vì thế, điều này sẽ giải quyết 3 vấn đề, thứ nhất là bệnh ở kinh dương minh đại tiện (phân) không xuống, thứ hai là có các mực độ khác nhau. Vấn đề thứ ba là bệnh còn có các nguồn gốc khác nhau, “Bệnh hữu Thái dương Dương minh, hữu chính dương Dương minh, hữu Thiếu dương Dương minh” (病有太阳阳明,有正阳阳明,有少阳阳明).
“Thái dương Dương minh giả, tỳ ước thị dã”. Vấn đề thứ nhất nói về tỳ ước, là biểu chứng của kinh Thái dương, Dương minh là phân không xuống, là tại bệnh tại kinh Thái dương khi đau đầu, phát nhiệt sợ lạnh, người bệnh đã hình thành chứng đại tiện bí kết. Bạn gọi căn bệnh này là gì? Trương Trọng Cảnh nói đây là Thái dương Dương Minh, tại sao thời gian của Thái dương mà xuất hiện Dương minh? Đó chính là chứng tỳ ước, vì người này bị bệnh tỳ ước (ràng buộc), tỳ ước là tên một hội chứng, Trương Trọng Cảnh đối với ngũ tạng đều có tên bệnh, tỳ gọi là tỳ ước, thận có thận trước, can gọi là can trước, phế có phế ung, phế nuy, chỉ tạng tâm là không có tên, các tạng khác đều có tên.
Tại sao gọi là Tỳ ước? Là trong vị (dạ dày) vốn khô ráo, vì dạ dày quá táo nhiệt, nên tỳ âm bị hạn chế, bị táo nhiệt quá mạnh của vị hạn chế. Sự hạn chế của tỳ có hai ý, một là hạn chế; Một là kiệm ước (tiết kiệm); Hiện tại chúng ta nói về tiết kiệm, chính là không nên lãng phí, cần phải tiết kiệm. Tỳ và Vị có tương quan biểu lý, Dương minh thuộc dương, Tỳ thuộc Thái âm, hiện tại Vị vốn táo nhiệt mạnh, cho nên âm phận của Tỳ, Tỳ là tân dịch của cơ thể lưu động trong Vị (dạ dày), bị táo nhiệt của Vị kiềm chế, đồng thời cũng bị táo nhiệt của Vị bức bách, vì thế tân dịch của người này không thể trở về trong Vị, tràng vị liền bị khô khan. Thứ hai là táo nhiệt của tràng vị bức bách tân dịch thấm xuống dưới, người này tiểu tiện nhiều, lúc này lại tiểu tiện nhiều hơn. Hình thành tình trạng đã khô khan lại càng khô khan, tân dịch đã thấm (xuống) lại càng thấm, đại tiện càng không giải được, tiểu tiện lại càng nhiều, đây chính là âm dương trên cơ thể không điều hoà. Âm dương tự hoà tất bệnh tự khỏi, hiện tại âm dương là đối lập, đây gọi là tỳ ước.
Biểu hiện trên chứng trạng là đại tiện thường xuyên bị khô, nói theo hiện tại chính là táo bón có tính tập quán. Người này đại tiện rất khó khăn, 5,6 ngày một lần đại tiện, mỗi lần đại tiện toàn thân xuất hãn, rất khó khăn, phí lực rất nhiều, phân thường nhỏ và cứng. Cứng đến mức nào? Rất cứng vì táo nhiệt trong tràng vị cộng thêm không có tân dịch nên phân rất khô cứng. Vấn đề này có nguốn gốc từ bệnh Tỳ ước, anh ta bị cảm mạo, đã bị Thái dương bệnh, phát sốt, dương khí và tân dịch đều bị ảnh hưởng, vì thế bệnh Tỳ ước tăng nặng. “Chính dương Dương minh giả, vị gia thực thị dã” (正阳阳明者,胃家实是也。). Chính dương Dương minh là Dương minh của Dương minh, tại sao lại gọi là Dương minh của Dương minh? Bệnh này không phải chứng Tỳ ước của Thái dương, cũng không phải do bệnh ở kinh Thiếu dương mà phát hãn, lợi tiểu gây ra, chính là do bản thân kinh Dương minh tạo thành vị gia thực, vì thế goi là chính dương Dương minh, chữ chính này để loại trừ Thái dương Dương minh và Thiếu dương Dương minh. Vì thế chính dương Dương minh có hai loại, một loại do Thành Vô Kỷ chú giải, bệnh tà đến kinh Dương minh, truyền đến Dương minh phủ, gọi là chính dương Dương minh, do bệnh tà của bản kinh truyền đến phủ của bản kinh. Ngoài ra, có người trong dạ dày khô táo, hoặc do ăn uống, thực phẩm qua đêm hoá nhiệt thành táo. Từ kinh nhập vào phủ cũng được, hoặc trong phủ có táo nhiệt cũng được, phàm không có quan hệ truyền kinh với Thái dương, Thiếu dương, đều được gọi là chính dương Dương minh. Chính dương của Dương minh, chính là vị gia thực, biến hoá bệnh lý của nó chính là vji gia thực. Tại sao lại gọi là vị gia thực? Chứng lý thực có các mực độ khác nhau, chứng tỳ ước là một, đại tiện khó khăn là một, vị gia thực so sánh với tỳ ước, đại tiện khó khăn đều nghiêm trọng hơn. Phân đã khô, phân đã cứng, chính là một chủ chứng của thang Đại thừa khí, gọi là Vị gia thực. Chúng ta sẽ tiếp tục thảo luận vấn đề này ở phần dưới, vì phần dưới còn có “Dương minh chi vi bệnh, vị gia thực thị dã.” “Thiếu dương Dương minh giả, phát hãn lợi tiểu tiện dĩ, vị trung táo”, “phiền thực” là hai từ không cần, là hai chữ thừa. “Vị trung táo, đại tiện nan thị dã”. Thiếu dương Dương minh bệnh là do bệnh ở kinh Thiếu dương tạo thành bệnh ở kinh Dương minh, tại sao tạo thành bệnh? Là vị trung táo (khô trong dạ dày), bệnh ở kinh Thiếu dương nên dùng thang Tiểu sài hồ để hoà giải, sau khi sử dụng sai lầm phép phát hãn và lợi tiểu gây tổn thương tân dịch nên trong dạ dày khô khan. Khi dạ dày đã khô khan thì đại tiện sẽ khó khăn, như vậy sẽ tạo thành bệnh ở kinh Dương minh.
180 阳明之为病,胃家实是也。C191
180 Dương minh chi vi bệnh, vị gia thực thị dã. C191
Bài này để phân biệt đề cương của Dương minh bệnh.
Bệnh dạ dày của Dương minh là Vị gia thực, phép nêu đề cương của thiên Dương minh khác biệt với năm kinh còn lại. Năm kinh còn lại đề cập đến hội chứng và mạch chứng, Dương minh bệnh thì đề cập đến bệnh lý biến hoá.“Thái dương chi vi bệnh, mạch phù, đầu hạng cường thống nhi ố hàn.” (太阳之为病,脉浮,头项强痛而恶寒。) Trong đề cương có mạch, có chứng. “Dương minh chi vi bệnh, vị gia thực” (阳明之为病,胃家实), không đề cập đến mạch cũng không nói đến chứng, nói đến một cái thực, một cái vị gia thực, vị gia thực là biến hoá bệnh lý, Ở đây có ý nghĩa như thế nào? Trương Trọng Cảnh là người viết sách tiền hậu bất nhất? Trương Trọng Cảnh dùng Mạch và Chứng làm đề cương, kêu gọi mọi người thông qua mạch chứng để tìm hiểu biến hoá của bệnh.
Dương minh chi vi bệnh, vị gia thực, Dương minh là Túc dương minh vị, thủ dương minh đại tràng, vì nó bao gồm cả hai kinh thủ túc, gọi là vị gia, vị gia là vị và đại tràng. Lục kinh của {Thương hàn luận} giảng về tạng phủ kinh lạc, vị gia chẳng phải là dạ dày và ruột sao, đây chính là 2 phủ trong 6 phủ. Khi nói đến cương lĩnh như vậy, người đọc sẽ hiểu bệnh này ở dạ dày và ruột. “Thực” tuy chỉ là một từ, nhưng nó là mấu chốt rất quan trọng, chính là nói về bệnh lý. Theo hiểu biết của người viết, Trương Trọng Cảnh muốn chúng ta thông qua mạch chứng để hiểu bệnh lý, cũng thông qua bệnh lý để hiểu mạch chứng. Vì thế đề xuất một từ “thực”, vị gia thực, thực chính là một tính chất của bệnh, vị gia là vị trí bệnh, thực là tính chất của bệnh là thực chứng. Vì sao tạo thành thực chứng? Đây là vấn đề lý luận, thông qua nguyên lý của bệnh, khiến người ta nắm được “thực chứng” khi biện chứng, “Thực” chính là một trọng điểm của biện chứng, biện Dương minh bệnh nếu biện xuất là thực chứng, là đạt được mục đích và yêu cầu của biện chứng. Vì thế đây là bài văn giảng về bệnh ở kinh Dương minh, trọng điểm của Dương minh bệnh là vị gia thực, cần phải phân biện ra được là thực chứng, xác định không nghi ngờ thì mới đạt được mục đích của biện chứng. Vì thế cần phải dùng mọi biện pháp, thiên phương bách kế, làm đi làm lại, là để tìm được cái gì là thực, cái gì không là thực, thực đến mực độ nào? Đó chính là tinh thần của biện chứng.
Thực là đối với hư mà nói. Lục phủ với thông là thuận, lục phủ truyền hoá vật và không giữ lại, điều đó chính là đường đi của dương, thực phẩm thuỷ cốc vào vị (dạ dày), vị phụ trợ thuỷ cốc đi xuống dưới, thuỷ cốc vào vị, khi đó vị là thực; Đợi sau khi thuỷ cốc được làm chín, thuỷ cốc đi xuống dưới, khi đó là tràng thực mà vị hư. Lúc bắt đầu là vị thực tràng hư, khi ăn uống, thực phẩm vào vị, không vào tràng, vị chính là thực, tràng chính là hư, hư thực chính là nói một cách tương đối; Đến khi trải qua tiêu hoá, sau khi thực phẩm chín nhừ, thực vật xuống dưới, là vị hư mà tràng thực. Vì thế con người trong quá trình chuyển hoá, tiêu hoá hấp thu chính là có hư có thực, cũng có thể nói hư thực luân phiên thay thế nhau, như vậy ẩm thực vật từ trên đi xuống dưới, sau cùng biến thành chất cặn bã, theo giang môn bài xuất ra ngoài. Vì thế gọi là lục phủ chuyển hoá vật mà không trữ tàng. Lại nói lục phủ với thông là thuận. Đây là thể hiện công năng sinh lý của lục phủ. Tại sao gọi là lục phủ? Phủ chính là có nhập có xuất, giống như nhà kho, không thể có nhiều tích tụ, ngưng tụ, một khi tích khối, ngưng tụ, gây tắc nghẽn, là xuất hiện trạng thái bệnh.
Vấn đề hiện tại là vị gia thực, là vị và tràng đã thành thực chứng rồi.
Tà nhiệt truyền đến Dương minh, trong Dương minh vị khô ráo và nóng, vì khô ráo tổn thương tân dịch, do nhiệt tạo thành táo (khô ráo), do táo tạo thành thực chứng, tân dịch đã tổn thương, khiến chất cặn bã chuyển hoá là phân thành một loại phân khô cứng ở trong ruột không bài tiết ra ngoài, trong ruột có nhiều cục phân cứng không đưa ra ngoài được, nên tràng thành thực (chứng).
Tại sao? Người bình thường mỗi ngày đại tiện một lần, thậm chí là 2 lần, ở đây là 7,8 ngày hoặc 9 ngày đại tiện vẫn chưa được, thì không phải là thực sao? Chính là thực.
Khi ruột là thực, vị khí sẽ không đi xuống dưới, vì vị và tràng chính là hỗ tương liên tiếp.
Tràng thực mà vị mãn (đầy), mà vị thì táo nhiệt, vì thế sẽ xuất hiện một số thực chứng táo nhiệt, do đại tiện không bài xuất được nên vùng bụng có các chứng trạng như bế tắc, đầy bụng, đau bụng, phân cứng, đau ở vùng rốn, ngoài ra còn triều nhiệt, xuất hãn, bực bội, nói nhảm. Những hội chứng này, then chốt là gì? Then chốt là vị gia thực, cần phải giải quyết thực chứng này, đưa phân khô táo ra ngoài, các chứng trạng sẽ được giải quyết. Vì thế táo bón nhiều ngày, có nhiều phân khô cứng, nếu không dùng thang Đại thừa khí để tả hạ thì không thể giải quyết bệnh.
Đây là từ bệnh lý dẫn đến các triệu chứng. Để nắm bắt được bệnh lý thực tế, Trương Trọng Cảnh đề nghị hãy suy luận các triệu chứng từ bệnh lý. Vị không thể quá thực, mà là sự thay đổi giữa hư và thực, là thay thế mới cũ, là chuyển hoá. Nó phải đào thải một số chất cặn bã ra ngoài cơ thể, đó là sinh lý của nó. Nếu như cặn bã và một số thứ trao đổi chất bị tắc nghẽn ở ruột già, thì gọi Vị gia thực, tràng thực vị mãn, táo nhiệt ngưng tụ không xuống, liền tạo thành Dương minh thực chứng. Vì thế thực là có vật chất. Xét như vậy, vị gia thực chính là cương lĩnh.
Trường Xuân Ng Nghị