Từ điều 155 đến điều 161 (C163-C169)
155 心下痞而复恶寒,汗出者,附子泻心汤主之。C163
155 Tâm hạ bĩ nhi phục ố hàn, hãn xuất giả, Phụ tử tả tâm thang chủ chi. C163
Phương thang Phụ tử tả tâm
Nhất mai phụ tử tả tâm thang
Nhất lượng Cầm Liên nhị Đại hoàng
Hãn xuất ố hàn tâm hạ bĩ
Biệt chử khinh tứ yếu tham tường
Đại hoàng 2 lạng Hoàng liên Hoàng cầm đều 1 lượng Phụ tử một củ (?) nướng bỏ vỏ, đập vỡ, nấu riêng lấy nước
Bốn vị thuốc trên, cắt nhỏ ba vị, dùng Ma phí thang 2 thăng ngâm vào một lát.
Chắt bỏ bã, cho nước Phụ tử vào, phân làm hai lần uống lúc thuốc còn ấm.
Đoạn văn này tiếp theo đoạn văn trước, thảo luận về chứng trạng và trị liệu chứng nhiệt bĩ kèm theo biểu dương hư.
Nếu như đoạn văn trước nói về chứng trạng thang Đại hoàng Hoàng liên tả tâm là nhiệt bĩ, “nhi phục ố hàn hãn xuất giả” (而复恶寒汗出者), thay vào đó lại xuất hiện sợ lạnh, đồng thời tự đổ mồ hôi, đây chính là hàn nhiệt bĩ, thượng tiêu nhiệt, hạ tiêu hàn. Hạ tiêu dương hư hữu hàn, dương khí không sưởi ấm cơ biểu (da thịt ở phần biểu), vì thế nên sợ lạnh; Dương khí không giữ được âm nên xuất mồ hôi.
Bệnh này là trên nóng dưới lạnh (thượng nhiệt hạ hàn), bên trên là tâm vị nóng, bên dưới là thận khí lạnh, chính là thận dương hư hàn của Thiếu âm. Tại sao sợ lạnh lại ở phía trước? Chính là do dương hư, “dương hư sinh ngoại hàn, âm hư sinh nội nhiệt” (dương hư sinh ra chứng lạnh ở bên ngoài, âm hư sinh ra chứng nóng ở trong). Dùng thang Phụ tử tả tâm để trị liệu, là phép dùng cả hàn và nhiệt, dùng Đại hoàng, Hoàng liên tả tâm, dùng Phụ tử cố biểu phù dương (kiên cố bên ngoài phù trợ dương khí)
Có người sẽ hỏi có bệnh như vậy sao? Chính xác là có bệnh như vậy. Phàm nếu ở trên nóng thì ở dưới dễ bị lạnh, điều này không chỉ ở Đại hoàng Hoàng liên tả tâm thang chứng. Vì âm dương của cơ thể là hỗ tương hài hoà cân đối, nếu có nơi có quá nhiều dương khí bị uất, dương khí sẽ không thể chiếu nhập nhiều đến nơi khác, không thể hỗ tương nối liền, hỗ tương qua lại, từ đó sẽ tạo ra một nơi có hàn chứng. Sinh lý y học Đông y chẳng phải là tâm và thận tương giao, tâm hoả phải đi xuống để làm ấm thận dương, thận thuỷ phải đi lên để chế ước tâm hoả, như thế âm dương mới có thể giao tiếp, thuỷ hoả giúp đỡ nhau gọi là thuỷ hoả ký tế. Khi nhiệt bĩ tắc ở tâm hạ, hoả của tâm có thể tương giao với thận? Không thể, vì nhiệt đã bĩ tắc ở trên nên không thể hạ giao và khi đó ở dưới bị lạnh. Điều này có nghĩa là có một khả năng như vậy trong bệnh lý, và tình trạng thượng nhiệt hạ hàn là điều không có gì đáng ngạc nhiên.
Bạn đồng học của chúng tôi họ Triệu là nữ, cha cô bị viêm gan, ông đến khám bệnh. Các triệu chứng như thế nào? Là khô miệng, khô tệ hại. Người viết dùng phép tư âm, dùng thang Sa sâm mạch đông, Ngọc địa mạch sa thang, sau đó dùng đến thang Bạch hổ, kết quả miệng bệnh nhân vẫn không giải quyết được chứng khô miệng. Không tìm ra biện pháp, người viết liền hỏi bệnh nhân ngủ như thế nào? Bệnh nhân ngủ không ngon, đêm ngủ hay mơ. Nhìn thấy đầu lưỡi bệnh nhân ửng đỏ, nên người viết nghĩ đến thận thuỷ không thăng, là do tâm hoả không hạ giáng, liền dùng thang Hoàng liên a giao kê tử hoàng, sau khi uống thuốc này thì miệng bệnh nhân không còn khô nữa. Bạn có nghĩ rằng điều này là kỳ lạ? Do đó, nguyên lý này của Đông y đã thực sự đã thuyết phục được chúng ta. Hoàng liên, A giao, Kê tử hoàng không phải là những vị thuốc bồi bổ tân dịch cho cơ thể, chúng là những vị thuốc khổ hàn (đắng lạnh), có tác dụng giúp thận thuỷ thượng giao, giấc ngủ ngon hơn và miệng hết khô. Hoả không hạ xuống nên ở dưới lạnh; Thuỷ không thăng lên nên ở trên nóng, vì thế hình thành tình trạng thượng nhiệt hạ hàn (trên nóng dưới lạnh). Đây là nguyên nhân thứ nhất. Nguyên nhân thứ hai. Vì người này căn bản thận dương không đầy đủ, lại bị chứng tâm hạ bĩ, cũng có khả năng xuất hiện thượng nhiệt hạ hàn, vì bên trên tâm hạ bĩ, bên dưới thận dương suy yếu, “Dương hư sinh ngoại hàn” điều này không có gì đáng ngạc nhiên.
Phương Phụ tử tả tâm thang, mọi người cùng xem. “Nhất mai phụ tử tả tâm thang, nhất lạng Liên Cầm nhị Đại hoàng”, là Hoàng liên, Hoàng cầm, Đại hoàng, gia thêm một củ Phụ tử.
Phương thang này khác với thang Đại hoàng Hoàng liên tả tâm, thang này dùng nước để ngâm ba vị (Đại hoàng, Hoàng liên và Hoàng cầm ) mà “chuyên tiễn Phụ tử” chỉ sắc vị Phụ tử, sau đó hoà hai loại nước thuốc vào để uống. “Chuyên tiễn khinh tí yếu tham tường” (专煎轻渍要参详) chính là sắc vị phụ tử, ba vị thuốc (Đại hoàng, Hoàng liên, Hoàng cầm) ngâm sơ trong nước, như một dạng bào chế. Vì sao phải làm như vậy? “Tứ tam hoàng, nhi chuyên tiễn phụ tử”, vì trên thân thể của người dương hư thì chính khí đã bị hư tổn, vì thế việc điều trị nên phù dương là chủ yếu, tiết nhiệt là thứ yếu, đây là phép điều trị song song cả hàn lẫn nhiệt một cách thoả đáng nhất.
156 本以下之,故心下痞,与泻心汤;痞不解,其人渴而口燥烦,小便不利者,五苓散主之。C164
156 Bản dĩ hạ chi, cố tâm hạ bĩ, dữ tả tâm thang; Bĩ bất giải, kỳ nhân khát nhi khẩu táo phiền, tiểu tiện bất lợi giả, Ngũ linh tán chủ chi C164
Đoạn văn này thảo luận về hội chứng và điều trị chứng thuỷ bĩ, Chứng bĩ phân thành thuỷ bĩ và hoả bĩ. Đây là hỗ tương đối chiếu. “Bản dĩ hạ chi, cố tâm hạ bĩ” Nguyên nhân của chứng bĩ, chính là sau khi dùng phép tả hạ mà thành chứng bế tắc ở tâm hạ (dưới tim). Sau khi tả hạ, tỳ vị bị tổn hại, nên khí của tỳ vị thăng giáng không thuận lợi, vì thế xuất hiện bĩ tắc ở tâm hạ, tâm hạ bế tắc phiền muộn. “Dữ tả tâm thang” (与泻心汤), nghĩa là nên dùng thang tả tâm.
Thang tả tâm nào? Không thấy nói, nhưng cũng không ngoài Sinh khương tả tâm và Bán hạ tả tâm. “Bĩ bất giải” (痞不解), không giải trừ được bế tắc ở dưới tim, “kỳ nhân khát nhi khẩu táo phiền” (其人渴而口燥烦), người này khát nước và miệng khô. “Khẩu táo phiền” là miệng khô tệ hại, vì thế có thêm chữ “phiền”. Có người cho rằng “kỳ nhân phiền khát nhi khẩu táo”, để chữ “phiền”đứng trước chữ “khát”, cho rằng người này rất khát. Trong miệng lại rất khô, ở đây có hai vấn đề một là tân dịch không đủ và hai là tân dịch bị ngưng tụ bất hoá. “Tiểu tiện bất lợi giả”, là tiểu tiện không thuận lợi. Chứng khát này không phải do tân dịch khô táo, mà chính là chứng khát do nước ( thuỷ )tích lại tân dịch không hoá gây ra. Nước tích ở dưới, tân dịch không hoá, vì thế người này rất khát mà tiểu tiện không thuận lợi. Nước tích ở dưới, mà khí nghịch lên trên, vì thế xuất hiện tâm hạ bĩ tắc. Loại bĩ tắc này gọi là thuỷ bĩ, khác với chứng bĩ do hoả nhiệt. Khác biệt ở chỗ nào? Chứng bĩ do hoả nhiệt có biểu hiện bực bội, có nhiệt có hoả, ở đây là tiểu tiện bất lợi. Thuỷ tà tích tụ ở dưới, mà khí lại nghịch lên trên, vì thế xuất hiện tâm hạ bế tắc. Loại bế tắc gọi là thuỷ bĩ. Khác biệt với chứng bĩ do hoả nhiệt. Khác biệt ở điểm nào? Chứng bế tắc do hoả nhiệt có tâm phiền muộn, có nhiệt, có hoả, ở đây là tiểu tiện không thuận lợi, nổi bật chứng trạng khát nước, nổi bật chứng trạng tân dịch không lưu hành phân bố. Thuỷ bĩ và hoả bĩ là những cách nói tương đối.
Vậy nên làm thế nào? Uống Tả tâm thang không giải quyết được hết vấn đề, cần phải lợi tiểu, “Ngũ linh tán chủ chi” Ngũ linh tán chủ trị bệnh này, cho nên đoạn văn này bổ sung một phương diện trị liệu là Ngũ linh tán. Trước đây khi học về Ngũ linh tán, chỉ nói về các tác dụng như biểu bất giải, thuỷ tích ở bàng quang, tiểu tiện bất lợi, sốt nhẹ, tiêu khát uống nước nhiều, không đề cập đến tâm hạ bĩ. Nếu quả như tiểu tiện bất lợi, mà bế tắc dưới tim, rêu lưỡi ướt và trơn nhờn, đầu lưỡi hơi lớn hơn bình thường, đó là biểu hiện của chứng thuỷ bĩ, nên dùng Ngũ linh tán để lợi tiểu tiện.
157 伤寒汗出,解之后,胃中不和,心下痞硬,干噫,食臭,胁下有水气,腹中雷鸣下利者,生姜泻心汤主之。C165
157 Thương hàn hãn xuất, giải chi hậu, vị trung bất hoà, tâm hạ bĩ ngạnh, can y, thực xú, hiếp hạ hữu thuỷ khí, phúc trung lôi minh hạ lợi giả, Sinh khương tả tâm thang chủ chi. C165
Phương thang Sinh khương tả tâm
Thương hàn hãn xuất giải chi hậu
Vị trung bất hoà tâm hạ bĩ
Can y thực xú hiếp hạ thuỷ
Phúc trung lôi minh nhi hạ lợi
Sinh khương tả tâm tứ lượng khương
Tam lượng Cầm Thảo Nhân sâm y
Nhất lượng Can khương thập nhị táo
Nhất Liên Bán hạ bán thăng tẩy
Sinh khương 4 lạng, thái mỏng Cam thảo 3 lạng, nướng Nhân sâm 3 lạng Can khương 1 lạng Hoàng cầm 3 lạng Bán hạ nửa thăng, rửa Hoàng liên 1 lạng, Đại táo 12 quả, bổ táo ra
8 vị thuốc trên, dùng 1 đấu nước, nấu còn 6 thăng, bỏ bã, tiếp tục nấu còn 3 thăng, uống khi thuốc còn ấm 1 thăng, ngày uống ba lần.
Đoạn văn này tiếp nối đoạn văn trên để thảo luận hội chứng và trị liệu của chứng thuỷ khí bĩ. Bệnh này cũng kế phát sau khi bị sốt thương hàn, biểu tà thương hàn đã giải. “Thương hàn hãn xuất giải chi hậu”, là biểu tà đã được giải trừ, bệnh này đúng ra đã khỏi, nhưng vì khí bên trong chưa hoà, tỳ vị không tốt, vì thế “vị trung bất hoà” (胃中不和), “vị”ở đây bao gồm cả tỳ và vị. Tỳ vị bất hoà, khí cơ thăng giáng không thuận lợi, vì thế tạo thành chứng tâm hạ bĩ ngạnh. “Can y thực xú” (干噫食臭), ở đây “Y” cũng là “ái”(ợ) có ý như ợ hơi, “can y” có nghĩa là ợ hơi khan, “Can y”là ợ khan, kèm theo mùi hôi của thực phẩm.
“Hiếp hạ hữu thuỷ khí, phúc trung lôi minh hạ lợi giả” (胁下有水气,腹中雷鸣下利者)có nước ở dưới sườn, sôi bụng tiết tả, đây là biểu hiện của nước không tiêu hoá.
Vì tỳ vị trướng lên, “trung ương thổ dĩ quán tứ bàng” (中央土以灌四旁), là vị trí ở trung ương ký vượng 4 mùa, tỳ thổ vận hoá thuỷ thấp, nếu như tỳ đã không thể vận hoá thuỷ, hạ sườn bên sẽ có thuỷ tà (nước), khí thuỷ ẩm đình trệ lạị, vì vậy mà bụng kêu như sấm (sôi bụng). “Lôi minh” là từ hình dung, là một từ có tính khoa trương, không phải bụng kêu như sấm, mà chỉ là bụng có âm thanh to, chẳng những người sôi bụng cảm thấy mà người đối diện cũng có thể nghe thấy, Đây là tiếng sôi bụng, là âm thanh của tiêu hoá không tốt, khí của tỳ vị không tốt. “Hạ lợi giả”, Người này còn có chứng đi tả. Xét theo toàn bộ trạng thái, đây chính là hội chứng của tiêu hoá không tốt, ở bên trên là vị khí nghịch, ợ mùi hôi thực phẩm, ở dưới thì bụng cồn cào, phân thì lỏng, ở giữa còn có chút bĩ ngạnh (bế tắc và cứng), hai bên còn có thuỷ khí. Vì sao biết có thuỷ khí? Vì có lúc đau bên trong cạnh sườn.
Chứng trạng của thang Sinh khương tả tâm có cảm giác đau nhẹ ở sườn, khác với Bán hạ tả tâm thang. Bệnh này là khí của tỳ vị hư tổn mà tâm hạ bĩ do thuỷ thấp, dùng thang Sinh khương tả tâm để trị bệnh này. Căn cứ theo quan sát lâm sàng, chứng trạng của thang Sinh khương tả tâm là có kèm theo thuỷ ẩm, vì thế điều này đặt tiếp theo điều Ngũ linh tán, chính là nói đến những điểm tương tự của nó với chứng trạng của Ngũ linh tán, nhưng chứng trạng của nó nhẹ hơn so với chứng trạng của Ngũ linh tán.
Trên lâm sàng, có người phù thũng ở chi dưới, phù thũng ở mu bàn chân, hoặc giả còn tiểu tiện khó khăn. Nhưng chính là có những đặc điểm không tốt so với chứng trạng của thang Ngũ linh tán, như ợ khan, mùi hôi của thực phẩm, sôi bụng. Ngô Khiêm. Tiền Đẩu Bảo trong Y tông Kim Giám đều cho rằng thang Sinh khương tả tâm nên gia thêm vị Phục linh.
Trên lâm sàng, chứng trạng của thang sinh khương tả tâm là: Bên trên thì ợ, nấc, có mùi hôi thực phẩm, bên dưới thì đi tả, sôi bụng cồn cào, cạnh sườn thì đau, chi dưới phù nhẹ, tiểu tiện hơi khó khăn, dùng thang Sinh khương tả tâm nên gia thêm khoảng 4 chỉ Phục linh, hiện tại là khoảng từ 12g đến 15g, hiệu quả rất tốt. Thang Sinh khương tả tâm là thang Bán hạ tả tâm gia Sinh khương, vì thế thang này dùng hai loại gừng, gừng tươi và gừng khô. Lượng Can khương nên dùng ít, dùng khoảng 1 tiền (4g) đến 1,5 tiền (6g). Lượng gừng tươi nên dùng nhiều, có thể dùng khoảng 4,5 tiền (15g~20g), thái mỏng, vì sao? Vì nguyên nhân bệnh này là tỳ vị đều hư tổn, thăng giáng không thuận lợi, tâm hạ bĩ tắc, vì thế nên kiện vị (làm cho dạ dày mạnh lên) tán thuỷ. Gừng tươi là thuốc giúp dạ dày mạnh mẽ, vị cay giúp dạ dày tiêu hoá tốt, đây chính là gia vị không thể thiếu trong ẩm thực và là vị thuốc quan trọng để tăng cường sức mạnh của dạ dày. Gừng có tác dụng giúp dạ dày mạnh mẽ, đồng thời có tác dụng tán thuỷ, trừ khứ nước không tốt trong dạ dày. Thang Phục linh Cam thảo chính là thang Quế chi truật Cam khứ Bạch truật gia Sinh khương có nhiều khả năng giúp dạ dày mạnh mẽ, lại có thể trừ khứ thuỷ ẩm.. Thang sinh khương tả tâm có tác dụng: Tân khai khổ giáng Cam điều (Cay thì mở, đắng thì hạ giáng, ngọt thì điều hoà), nhưng tác dụng tân khai là lớn mạnh, cần dùng đến 5 tiền (20g), 4 tiền (15g) gừng tươi, còn gia thêm gừng khô. Vì chứng tâm hạ bĩ ở đây là bĩ ngạnh (bế tắc và cứng), cũng là chứng bế tắc nặng, không phải là chứng bế tắc thông thường, vì thế, vị cay để tán (tân dĩ tán chi), vị đắng để hạ xuống (khổ dĩ giáng chi), vị ngọt để điều hoà (cam dĩ hoà chi) (辛以散之,苦以降之,甘以和之)vì thế cần phải tăng lượng vị thuốc có vị cay.
158 伤寒中风,医反下之,其人下利,日数十行,谷不化,腹中雷鸣,心下痞硬而满,干呕,心烦不得安。医见心下痞,谓病不尽,复下之,其痞益甚,此非结热,但以胃中虚,客气上逆,故使硬也,甘草泻心汤主之。C166
158 Thương hàn trúng phong, y phản hạ chi, kỳ nhân hạ lợi, nhật số thập hành, cốc bất hoá, phúc trung lôi minh, tâm hạ bĩ ngạnh nhi mãn, can ẩu, tâm phiền bất đắc an. Y kiến tâm hạ bĩ, vị bệnh bất tận, phục hạ chi, kỳ bệnh ích thậm, thử phi kết nhiệt, đãn dĩ vị trung hư, khách khí thượng nghịch, cố sử ngạnh dã, Cam thảo tả tâm thang chủ chi. C166
Phương thang Cam thảo tả tâm
Hạ dư bĩ tác phúc lôi minh
Cam tứ Khương Cầm tam lạng bình
Nhất lạng Hoàng liên bán thăng phục
Táo mai thập nhị thần hiệu trình
Cam thảo 4 lạng Hoàng cầm 3 lạng Can khương 3 lạng Bán hạ nửa thăng, rửa Hoàng liên 1 lạng Đại táo 12 quả, bổ ra
6 vị thuốc trên, dùng 1 đấu nước, nấu còn 6 thăng, bỏ bã, lại nấu còn 3 thăng, uống 1 thăng lúc thuốc ấm, ngày uống ba lần.
Đây là đoạn văn thảo luận về hội chứng và trị liệu của chứng ngộ hạ vị hư (hạ nhầm vị hư tổn), bĩ và tả lợi đều nặng.
Bất luận là thương hàn hay trúng phong, đều cần phát hãn, “Y phản hạ chi” (thày thuốc lại dùng phép hạ) là phương pháp trị liệu sai lầm. Sai lầm như vậy khí của tỳ vị sẽ bị tổn hại, vì thế “kỳ nhân hạ lợi nhật số thập hành”( 其人下利日数十行), chứng đi tả này rất nghiêm trọng, mỗi ngày vài chục lần, là bệnh chứng nặng. Ở phần trên khi nói về thang Bán hạ tả tâm, Sinh khương tả tâm không nhấn mạnh tính nghiêm trọng của chứng tiêu chảy, ở đây nổi bật “hạ lợi nhật số thập hành” là đi tả nhiều lần trong ngày. Đi tả nhiều lần là biểu hiện khí của tỳ bị hãm xuống, tỳ khí không thăng, nên tỳ khí không thể vận hoá. Có thể tưởng tượng, tạng tỳ càng hư tổn, cho nên, “cốc bất hoá, phúc trung lôi minh, tâm hạ bĩ ngạnh nhi mãn” (谷不化,腹中雷鸣,心下痞硬而满) là thực phẩm không tiêu hoá nên sôi bụng, tâm hạ bế tắc trướng đầy và cứng, công năng tiêu hoá của tỳ vị suy kém. Một ngày đi tả nhiều lần, cơ thể không chịu nổi, vì thế tiêu hoá không tốt xuất hiện tâm hạ bĩ cứng và đầy trướng, khí của tỳ vị thăng giáng không điều hoà, cho nên “bĩ ngạnh nhi mãn” (痞硬而满)là bĩ cứng mà đầy. “Ẩu, tâm phiền bất an” (呕,心烦不得安) là ẩu thổ tim phiền muộn bất an, do ẩm thực không tiêu hoá, vị khí bất hoà, trong dạ dày có thực phẩm đình lưu (giữ lại) nên sẽ nôn khan, khó chịu. Đây là hiện tượng của vị khí bất hoà.
“Y kiến tâm hạ bĩ, vị bệnh bất tận, phục hạ chi” (医见心下痞,谓病不尽,复下之) là thày thuốc thấy tuy bệnh nhân tiết tả mà tâm hạ còn bĩ ngạnh, ngộ nhận là bệnh chưa hết, nghi ngờ còn tà khí ngưng trệ trong dạ dày, nghi ngờ tả hạ một lần chưa hết sạch, chưa triệt để, lại đưa ra một chẩn đoán sai lầm, “phục hạ chi” (复下之), “phục” tương đương với “hựu”(lại), lại dùng phép tả hạ, “kỳ bĩ ích thậm” (其痞益甚) là càng tả hạ, tâm hạ bĩ càng tệ hơn, Vì sao như vậy? “Thử phi giai nhiệt” (此非皆热) Vì loại tâm hạ bĩ này không phải do nhiệt ngưng kết, không phải dương minh vị gia thực.
“Đãn dĩ vị trung hư” (但以胃中虚), “đãn”chính là vì dạ dày đã hư tổn, “khách khí thượng nghịch”, “khách khí” không phải là “chính khí”, chính khí còn gọi là chủ khí, khách khí chính là một số thực phẩm tiêu hoá không tốt, những thực phẩm này khiến vị khí bất hoà, nên “cố sử ngạnh dã” (故使硬也) là làm cho tâm hạ trở nên cứng, là những tình huống thực tế mà Trương Trọng Cảnh đã quan sát trên lâm sàng. Vì tâm hạ bế tắc, chứng tâm hạ bế tắc ấn vào thấy mềm mại, là vấn đề của khí tỳ vị hư nhược. Trường hợp này là thày thuốc lần thứ nhất dùng phép tả hạ, lần thứ hai lại dùng phép tả hạ, là đã dùng phép trị liệu thực chứng cho hư chứng. Đây chính là những gì Trương Trọng Cảnh tận mắt chứng kiến, dựa theo những gì đã ghi chép lại, đây không phải là bài viết của một cá nhân, có khả năng đã được ghi lại từ lâm sàng.
Phải làm thế nào? Dùng thang Cam thảo tả tâm. Vì người này bị tiêu chảy, chán ăn, đại tiện càng nhiều, tỳ khí càng hư tổn, vị khí càng nghịch, vì thế cần dùng Cam thảo. Cam thảo có tác dụng bổ trung ích khí, có nhiều khả năng giải trừ chứng tâm hạ bĩ ngạnh, vị thuốc này thiên nặng về bổ hư cho trung tiêu. Vì thế trong phương dùng 4 lạng Cam thảo, dùng Cam thảo làm chủ dược, lượng Cam thảo cần phải nhiều. Có mục đích gì? Mục đích nhằm vào “Đại tiện hạ lợi, nhật số thập hành, cốc bất hoá” là nhằm vào các chứng trạng tiêu chảy, mỗi ngày 10 lần, thực phẩm không tiêu hoá. Phương này không có Nhân sâm, có những y gia sau này, thậm chí một số y thư đều có vị Nhân sâm. Vì phương chứng này do “hạ lỵ nhật số thập hành, cốc bất hoá” là chứng của phương này là do tiêu chảy ngày 10 lần, thực phẩm không tiêu hoá, mà lại “phục hạ chi, kỳ bĩ ích thậm” ( lại dùng phép hạ làm cho chứng bĩ càng nặng) mà thành, vì thế nên gia vị Nhân sâm.
Thang Cam thảo tả tâm khi ứng dụng trên lâm sàng nên nắm vững vấn đề gì? Là tâm hạ bĩ mà lại tiêu chảy nghiêm trọng. Đó là một điểm, một điểm khác là “tâm phiền bất đắc an”, là khó chịu bất an, nổi bật là chứng khó chịu. “Tâm hạ bĩ ngạnh nhi mãn” là tâm hạ bế tắc và đầy cứng, chứng bĩ và tiêu chảy tỉ lệ thuận với nhau. Chính là bên dưới tiêu chảy càng nhiều, thì “tâm hạ bĩ ngạnh nhi mãn” càng nặng, còn có “tâm phiền bất đắc an” là buồn bực không an, nắm được các chứng này thì đã có thể dùng thang Cam thảo tả tâm. Thang Cam thảo tả tâm trị chứng tỳ khí hư mà khách khí thượng nghịch, vì thế người xưa gọi nó là “khách khí thượng nghịch bĩ” là chứng bế tắc do khách khí thượng nghịch. Vì sao gọi là khách khí? Vì là khí của thuỷ cốc tiêu hoá không tốt trong dạ dày nghịch lên. Vì thế niêm mạc trong miệng bị lở loét, có lúc niêm mạc tiền âm (bên ngoài của sinh thực khí và đường tiểu) cũng bị lở loét, có lúc giang môn cũng bị lở loét, có mùi bình thường, có mùi không tốt. Một số đồng chí trong tây y nói với tôi điều này, bệnh luôn diễn biến xấu, rất dễ trở thành ung thư. Đây là thang Cam thảo tả tâm.
159 伤寒服汤药,下利不止,心下痞硬。服泻心汤已,复以他药下之,利不止,医以理中与之,利益甚。理中者,理中焦,此利在下焦,赤石脂禹余粮汤主之。复利不止者,当利其小便。C167
159 Thương hàn phục thang dược, hạ lợi bất chỉ, tâm hạ bĩ ngạnh. Phục tả tâm thang dĩ, phục dĩ tha dược hạ chi, lợi bất chỉ, y dĩ lý trung dữ chi, lợi ích thậm. Lý trung giả, lý trung tiêu, thử lợi tại hạ tiêu, Xích thạch chi Vũ dư lương chủ chi. Phục lợi bất chỉ giả, đương lợi kỳ tiểu tiện. C167
Phương thang Xích thạch chi Vũ dư lương
Xích thạch Dư lương các nhất cân
Hạ tiêu hạ lợi thử thang hân
Lý trung bất ứng nghi thử pháp
Lô để điền lai đắc sở văn
Xích thạch chi một cân, nghiền nát Vũ dư lương một cân, nghiền nát
Hai vị thuốc trên, dùng 6 thăng nước, nấu còn 2 thăng, bỏ bã, chia ra uống 3 lần.
Đoạn văn này thảo luận hội chứng và trị liệu chứng tiêu chảy đồng thời thảo luận về bốn phương pháp điều trị chứng tiêu chảy.
Tiêu chảy lần thứ nhất là do uống thang dược, là “Thương hàn phục thang dược, hạ lợi bất chỉ” (伤寒服汤药,下利不止), vì tiêu chảy không ngừng nên khí của tỳ vị bị tổn thương, vì thế “tâm hạ bĩ ngạnh”, “phục tả tâm thang dĩ”, là nên cho bệnh nhân uống thang tả tâm, căn cứ theo tình huống cụ thể, hoặc là thang Cam thảo tả tâm, hoặc là thang Sinh khương tả tâm, hoặc là thang Bán hạ tả tâm, “dĩ”(là ngừng) là bệnh đã biến chuyển tốt.
“Phục dĩ tha dược hạ chi”, thày thuốc thấy tâm hạ bĩ, không hiểu đây là vấn đề khí của tỳ vị bất hoà, nhầm lẫn cho rằng bên trong có gì đó, là một bệnh biến có tính thực, “phục dĩ tha dược hạ chi” là dùng thuốc tả hạ lần thứ hai, “tha dược” là thuốc khác không phải thuốc thang như lần thứ nhất. Lần trước là thang dược, lần này là “tha dược”, có thể là thuốc hoàn, như thuốc chế từ vị Ba đậu, Cam toại là những thành dược có tác dụng tả hạ rất mãnh liệt, đây là ý của lần tả hạ thứ hai.
Lần tả hạ thứ hai mạnh hơn so với lần thứ nhất. Vì sao lại mạnh hơn? Vì thuốc khác là không phải thuốc thang mà là một loại thành dược (thuốc hoàn). Thời nhà Hán có hai loại thành dược tả hạ, một là thuốc hoàn chế từ Ba đậu, hai là chế từ vị Cam toại. Hai loại thuốc tả hạ này rất mãnh liệt, kết quả là “lợi bất chỉ” (利不止) là tiêu chảy không ngừng. Vì thế nên chú ý vấn đề này, chứng“tâm hạ bĩ ngạnh” này các thày thuốc thời hậu Hán thường phạm sai lầm, cho rằng có ngưng kết trong dạ dày, là thực chứng trong dạ dày mà dùng tả pháp để điều trị. Đề xuất vấn đề này để chúng ta chú ý, và không nên để xảy ra sai sót này trên lâm sàng.
“Y gỉa Lý trung dữ chi” là thày thuốc không nhận định đúng vấn đề, dùng nhầm phép tả hạ khiến bệnh nhân tiêu chảy không ngừng, chứng bĩ ngạnh đương nhiên cũng không biến chuyển tốt, vì thế “dĩ Lý trung dữ chi” là cho bệnh nhân uống thang Lý trung. “Lợi ích thậm”( 利益甚) là sau khi uống thang Lý trung, bệnh nhân càng tiêu chảy tệ hơn, chứng tiêu chảy ngày càng nặng. Lý do vì sao? Vì thang Lý trung có tác dụng bổ tỳ vị trừ hư hàn. “Lý trung giả, lý trung tiêu” (理中者,理中焦) là thang Lý trung có tác dụng điều trị bệnh ở trung tiêu, nếu trung tiêu hư hàn, uống thang Lý trung sẽ có tác dụng tốt, hiện tại bệnh nhân uống vào tại sao không tốt? Vì “thử lợi tại hạ tiêu” (此利在下焦)vì chứng tiêu chảy là ở hạ tiêu. Hạ tiêu tiết tả là do ruột hoạt thoát (không vững chắc), vì dùng phép tả hạ 2 lần, đại tràng không thể thu súc (co lại), hạ tiêu không ước thích (ràng buộc), đây gọi là “hạ tiêu hạ lợi” là hạ tiêu tiêu chảy, đại tràng không kiên cố, cần bồi bổ hạ tiêu, thu sáp cố thoát (giữ lại không cho thoát ra). “Xích thạch chi Vũ dư lương thang chủ chi” Thang Xích thạch chi Vũ dư lương trị bệnh này, tác dụng thu sáp của thuốc, “kỳ phương thạch tễ, sáp dĩ cố thoát”, là thang dược có tác dụng thu liễm không cho thoát ra. Xích thạch chi, Vũ dư lương là hai vị thuốc thu sáp có tác dụng trị chứng tiêu chảy, cũng có tác dụng bổ sung cho hạ tiêu, cố sáp đại tràng, trị chứng tiêu chảy ở hạ tiêu.
Dùng Xích thạch chi và Vũ dư lương để cố sáp đại tràng, khiến cho hạ tiêu thu liễm, đây là cách đơn giản để điều trị chứng tiêu chảy. Phần sau chúng ta sẽ thảo luận về thiên Thiếu âm, có thang Đào hoa, sẽ đề cập nhiều hơn về vấn đề này, vì thế trị chứng tiêu chảy có một loại phương pháp cố tràng chỉ lợi sáp đại tiện (là dùng thuốc cố sáp, có tác dụng khiến đại tràng khẩn cố (vững vàng chặt chẽ) để chứng tiêu chảy ngưng lại). “Phục lợi bất chỉ”, là sau khi bệnh nhân uống thang Xích thạch chi Vũ dư lương “phục lợi bất chỉ”là tiêu chảy vẫn không ngừng lại. Nếu như lúc này “tiểu tiện bất lợi giả” là nếu tiểu tiện còn bất lợi, là biểu hiện của thuỷ thấp thấm vào đại tràng, không phân trong đục, lúc này nên lợi tiểu tiện, để thực đại tiện (phân sẽ rắn lại). “Lợi tiểu tiện tức sở dĩ thực đại tiện” (利小便即所以实大便) là khi tiểu tiện thông lợi. thuỷ thấp theo đường tiểu, phân sẽ khô và thành khuôn. Đây chính là phương pháp lợi tiểu tiện, phân trong đục để trị chứng tiêu chảy.
Xét từ những phần trên, Trọng Cảnh cho chúng ta biết điều trị chứng tiêu chảy gồm có bốn phương diện : Tiêu chảy do bĩ dùng thang Cam thảo tả tâm; Tiêu chảy do lạnh dùng thang Lý trung; Tiêu chảy do hạ tiêu hoạt thoát dùng Xích thạch chi vũ dư lương; Tiêu chảy do tiểu tiện bất lợi, nước vào đại tràng, “đương lợi kỳ tiểu tiện” là nên dùng phép lợi tiểu với Ngũ linh tán. Đây là bốn phương pháp dùng để điều trị chứng tiêu chảy. Và đều là những bệnh của dạ dày và ruột. Bĩ là bệnh của dạ dày, vị khí bất hoà; Tiêu chảy cũng là bệnh của tỳ vị, vì thế mà có câu “bĩ khí lợi”(痞气利)tiết tả do khí bĩ.
Dùng phương thuốc thứ nhất không hiệu quả, đổi sang phương thứ hai cũng không hiệu quả, đổi sang phương thang thứ ba…Diễn biến này không phải do khả năng của Trọng Cảnh còn hạn chế, mà đây chính là phương cách để ông giúp chúng ta nắm vững bốn phương pháp điều trị chứng tiêu chảy.
Thang Xích thạch chi Vũ dư lương gồm hai vị thuốc, Sách Bản thảo viết: “Sáp khả khứ thoát, Thạch chi sáp dĩ thu liễm chi, trọng khả khứ khiếp, dư lương chi trọng dĩ trấn cố” (涩可去脱,石脂涩以收敛之,重可去怯,余粮之重以镇固) là sáp rít có thể trừ thoát, vị Thạch chi sáp rít để thu liễm, vị nặng có thể trừ khiếp sợ, dư lương là vị nặng có tác dụng đè nén củng cố, Lượng sử dụng tương đối nhiều, “Xích thạnh dư lương các nhất cân, hạ tiêu hạ lợi thử thang hân, Lý trung bất ứng nghi tư pháp, lô để điền lai đắc sở văn ”(hai vị đều 1 cân). Vì sao cần nhiều thuốc? Các bạn nghĩ xem, dùng lượng thuốc nhỏ là không hiệu quả. Trên lâm sàng cho rằng nếu chỉ uống thuốc thang thì hiệu quả không tốt, nếu nghiền xích thạch chi thành bột, càng mịn càng tốt, rồi hoà vào thang dược cho bệnh nhân uống, thì hiệu quả cố tràng chỉ tả tốt hơn rất nhiều. Tác giả Dụ Gia Ngôn của {Ngụ ý thảo} rất hiểu ý tứ này của Trương Trọng Cảnh, ông có một bệnh nhân, người này bị chứng hạ tiêu tiết tả, đại tràng rất suy yếu, ông dùng Xích thạch chi và Vũ dư lương nghiền thành bột mịn, khi dùng bữa thì rắc bột thuốc lên trên, trộn đều rồi cho bệnh nhân ăn, tuỳ theo bệnh nhân ăn được nhiều hay ít, bằng cách này hạ tiêu sẽ được cải thiện. Với những trường hợp hạ tiêu quá suy yếu không thể kiểm soát, không thể khống chế, phân đi xuống hậu môn không có lực giữ lại, thì nên dùng phương pháp này.
160 伤寒吐下后发汗,虚烦,脉甚微。八九日,心下痞硬,胁下痛,气上冲咽喉,眩冒。经脉动惕者,久而成痿。C168
160 Thương hàn thổ hạ hậu phát hãn, hư phiền, mạch thậm vi. Bát cửu nhật, tâm hạ bĩ ngạnh, hiếp hạ thống, khí thượng xung yết hầu, huyễn mạo. Kinh mạch động dịch giả, cửu nhi thành nuy. C168
Đoạn văn này thảo luận do điều trị lầm dẫn đến dương khí thụ thương, làm cho thuỷ khí thượng xung (vọt lên), và dương hư không hoá thành tân dịch, vì thế cân mạch không được nuôi dưỡng tạo thành nuy chứng (chứng tê liệt).
“Thương hàn thổ hạ hậu” chữ “hậu”đổi thành chữ “phục”, “phục phát hãn”.
“Thương hàn thổ hạ”, là đã trải qua tổ, hạ, “phục phát hãn” lại phát hãn cho bệnh nhân, là người bệnh này đã trải qua hãn, thổ và hạ (xuất mồ hôi, ẩu thổ và tiêu chảy), đã tổn thương chính khí, chính khí đã hư tổn, dương khí lại suy, vì thế “mạch vi thậm” là mạch đập rất nhỏ yếu, không có lực. Bệnh nhân còn phát phiền (bực bội), hư phiền, là không có gì mà bực bội chính là hư phiền, bực bội (phát phiền) do chính khí hư, dương khí nhỏ yếu, thường thuộc “dương hư nhi âm thừa chi” (阳虚而阴乘之), dương khí đã suy yếu, âm khí lấn át, vì thế mà phát phiền. Qua 8,9 ngày sau, tâm hạ bĩ ngạnh, đau ở dưới cạnh sườn, vì sau khi dùng các phép hãn, hạ và thổ làm cho dương khí bị tổn thương, dương khí đã hư tổn không thể khống chế âm, dương khí cũng không thể khống chế thuỷ, vì thế bệnh tà thuỷ ẩm sẽ nghịch lên, “tâm hạ bĩ ngạnh” (心下痞硬)là bệnh tà thuỷ ẩm, “hiếp hạ thống” (胁下痛) là đau dưới cạnh sườn, cũng chính là khí của thuỷ ẩm không hoá.
“Khí thượng xung yết hầu, huyễn mạo” (气上冲咽喉,眩冒), thuỷ khí xung lên trên, thuỷ khí là hàn khí, vì thuỷ ẩm là tà hữu hình, nên khí của nước lạnh có thể trào ngược lên cổ họng và bệnh nhân cảm thấy không khí trào ngược lên cổ họng. “Huyễn mạo”, là chóng mặt, choáng váng, là khí của nước che lấp thanh dương, vì thế “huyễn mạo” là thuỷ khí nghịch lên gây ra. Dương hư mà có nước, dương khí của toàn thân đã hư yếu, lại có thuỷ tà, cho nên “kinh mạch động dịch giả ” (经脉动惕者) là Kinh mạch toàn thân kinh động, máy động. Bệnh này là dương hư hữu thuỷ, thuỷ không khứ thì không sinh tân dịch, từ đó cân mạch, cân cốt không được nuôi dưỡng, vì thế “cửu nhi thành nuy” (久而成痿)là lâu ngày thành chứng tê liệt, tê liệt là không sử dụng được, tay chân không sử dụng được như ý muốn.
Đoạn văn này chính là nói về sau khi dùng các phép hãn, thổ và hạ, dương khí thụ thương, thuỷ tà tràn lan, bắt đầu từ tâm hạ, tâm hạ bế tắc, tựa như tâm hạ bĩ, tâm hạ nghịch mãn của Linh quế truật cam thang chứng, sau đó là khí thượng xung lên ngực, thượng xung yết hầu mà bị choáng, choáng do thuỷ tà che lấp thanh dương, còn có khả năng xuất hiện hư phiền, ở bên ngoài thì đầu cà các khớp xương trên thân thể không được dương khí nuôi dưỡng tưới nhuần, còn vì thuỷ tà làm cho tân dịch không hoá sinh, cân mạch từ đó không được tư nhuận trở nên khô khan, “cửu nhi thành nuy”(久而成痿)lâu ngày thành chứng tê liệt). Đây chính là vấn đề sau khi hãn thổ hạ chính khí hư suy mà thuỷ tà tràn lan, điều trị bệnh này có thể tham khảo phối hợp thang Linh quế truật cam và thang Chân võ. Vì có chứng trạng thượng xung nên cần gia vị Quế chi, kinh mạch bị kinh động nên cần dùng thang Chân võ.
161 伤寒发汗,若吐若下,解后,心下痞硬,噫气不除者,旋覆代赭石汤主之。C169
161 Thương hàn phát hãn, nhược thổ nhược hạ, giải hậu, tâm hạ bĩ ngạnh, ái khí bất trừ, Toàn phúc đại giả thạch thang chủ chi. C169
Phương thang Đại giả thạch
Tâm hạ bĩ ngạnh ý bất trừ
Nhất hách nhị sâm tam thảo phục
Thạp nhị mai táo ngũ lạng khương
Bán hạ bán thăng nhật tam phục
Toàn phú hoa 3 lạng Nhân sâm 2 lạng Sinh khương 5 lạng, thái mỏng Đại giả thạch 1 lạng Đại táo 12 quả, bổ Cam thảo 3 lạng cứu Bán hạ nửa cân, rửa
Bảy vị trên, dùng 1 đấu nước, nấu còn 6 thăng, bỏ bã, tiếp tục nấu còn 3 thăng, mỗi lần uống 1 thăng thuốc ấm, ngày 3 lần.
Đoạn văn này giảng về vì nguyên nhân can khí bất hoà, tỳ vị hư nhược, đàm khí nghịch lên gây ra chứng tâm hạ bĩ ngạnh.
Phát hãn, hoặc sau khi dùng phép thổ, hoặc sau khi dùng phép tả hạ, gây tổn thương khí của tỳ vị, khí tỳ vị bị tổn hại, sẽ sinh đàm ẩm. Lúc này can khí lấn át xâm phạm vị, vì thế can khí cộng thêm đàm ẩm sẽ khiến vị khí bất hoà, xuất hiện tâm hạ bĩ ngạnh (bế tắc ở tâm hạ) ợ hơi bất trừ. “Ý khí” là ợ hơi. Tại sao gọi là “bất trừ” (不除)? Có 3 ý: Một là vì tâm hạ bĩ, bệnh nhân ợ hơi, thày thuốc thấy rất giống chứng trạng của thang Sinh khương tả tâm, liền cho uống sinh khương tả tâm, sau khi uống thang Sinh khương tả tâm “bất trừ” là không thấy bệnh thuyên giảm, trừ là giảm, do đó ý thứ nhất là đã uống thang Sinh khương tả tâm. Ý thứ hai là trong tình huống thông thường ợ hơi có tác dụng hoãn giải bĩ ngạnh ở tâm hạ. Tuy nhiên ở đây dù ợ hơi rất nhiều nhưng chững tâm hạ bĩ ngạnh vần không được giải trừ, đây là ý thứ hai. Ý thứ ba là “Ý khí bất trừ” (噫气不除) chính là ợ hơi liên tục, liên tục mà không giảm, có ý nói đây là chứng ợ hơi nghiêm trọng. Cần phải tìm hiểu cả ba ý trên để có thể nhận thức, tìm hiểu và lý giải sâu sắc câu “Ý khí bất trừ” (噫气不除).
Vì vị (dạ dày) hư nhược, đàm ẩm hợp với can khí xâm phạm vị, khiến khí của tỳ vị bất hoà, sẽ xuất hiện chứng tâm hạ bĩ ngạnh, vị khí cộng thêm can khí và đàm khí nghịch lên trên, vì thế nên “Ý khí bất trừ”. Phải làm thế nào? Đây là vấn đề của tạng Can. Nội khoa cho rằng tỳ hư can thừa (tỳ hư thì can xâm lấn), thổ hư mộc xâm lấn, không chỉ là vấn đề của đàm khí, thang Sinh khương tả tâm, thang Bán hạ tả tâm không điều trị bệnh của tạng can, nên không giải quyết được vấn đề này.
Đồng thời chứng trạng ợ hơi này rất nghiêm trọng, tệ hơn nhiều so với chứng ợ hơi của thang Sinh khương tả tâm, cũng nghiêm trọng hơn so với chứng ợ hơi của thang Cam thảo tả tâm, không phải là chứng nôn khan, mà là chứng ợ hơi, cho nên dùng “Toàn phú đại giả thạch thang chủ chi”là dùng thang Toàn phú đại giả thạch để trị bệnh này.
Phương thang này một mặt điều hoà tỳ vị, một mặt tiêu trừ đàm ẩm, một mặt chấn can giáng nghịch, chấn can lý khí giáng nghịch, từ đó các chứng tâm hạ bĩ, ợ hơi sẽ được giải quyết.
Thành phần của phương thang gồm Toàn phú hoa, Nhân sâm, Sinh khương, Bán hạ, Đại giả thạch, Đại táo và chích Cam thảo, với Toàn phú hoa là chủ dược, cho nên có tên là Thang Toàn phú hoa đại giả thạch. Toàn phú hoa có hai tác dụng, một là tiêu trừ khí ngưng kết, trị chứng bĩ ở tâm hạ (dưới tim), tại sao Toàn phú hoa có thể tiêu trừ khí kết để trị chứng bế tắc ở dưới tim? Vì nó có thể giúp tạng can sơ tiết (điều tiết tạng can) lại có khả năng lợi phế. Theo {Thần nông bản thảo}Toàn phú hoa có vị mặn nhẹ. Nói theo vị thuốc loại thực vật của Trung y, hoa là vị thuốc có tác dụng ở phần đầu, ở phần trên của cơ thể, nhưng Toàn phú hoa tuy là hoa nhưng lại có vị mặn nhẹ, vì thế có khả năng lợi khí, lại có khả năng hạ khí, nên có thể lợi can khí, cũng có thể lợi phế khí, Khí của can phế đều thuận lợi, khí bĩ kết có thể tiêu tán, chứng ợ hơi cũng được điều trị tốt. Trong {Kim Quỹ Yếu Lược} cũng có thang Toàn phú hoa điều trị bệnh tạng can. Đại giả thạch là loại thuốc khoáng, có tác dụng trấn giáng, có thể trấn can giáng nghịch, còn có tác dụng hoạt huyết nhẹ, vì khí của tạng Can rất mạnh, nên dùng thêm vị thuốc là khoáng vật, thêm vị thuốc Đại giả thạch để trấn áp khí của tạng can, trấn là trấn áp, khiến cho can khí bị trấn áp không nghịch lên trên.
Kết hợp hai vị thuốc này, một vị điều tiết thuận lợi và một vị trấn áp, như thế can khí sẽ không thượng nghịch, cho nên cả hai vị thuốc này đều là chủ dược.
Tại sao dùng Bán hạ, Sinh khương? Vì vị khí bất hoà, có đàm ẩm, Bán hạ, Sinh khương hỗ trợ giúp dạ dày mạnh mẽ, tân khai tán kết (vị cay có tác dụng khai mở giải tán kết tụ, tiêu hoá đàm thuỷ, có thể trị chứng tâm hạ bĩ ngạnh (bế tắc và cứng ở dưới tim). Nhân sâm, Cam thảo, Đại táo có tác dụng bổ trung khí, bệnh này là chứng thương hàn sau khi dùng phép thổ và phép hạ, khí của tỳ vị đã hư yếu, vì thế cần gia thêm các vị thuốc có vị ngọt để bổ trung khí. Trị đàm khí là Bán hạ, Sinh khương, trị can khí là Toàn phú hoa, Đại giả thạch, bổ tỳ vị là Nhân sâm, Cam thảo, Đại táo.
Khí sử dụng phương này nên chú ý vấn đề “khứ chỉ tái tiễn” (bỏ bã nấu lại). “Dĩ thuỷ nhất đấu, chử thủ lục thăng, khứ chỉ, tái tiễn, thủ tam thăng, ôn phục nhất thăng, nhật tam phục” (以水一斗,煮取六升,去滓,再煎,取三升,温服一升,日三服)dùng 1 đấu nước, nấu còn 6 thăng, bỏ bã, tiếp tục nấu còn 3 thăng, mỗi lần uống 1 thăng thuốc ấm, ngày 3 lần. Nguyên nhân “khứ chỉ tái tiễn”(去滓再煎)bỏ bã nấu lại là có ý hoà giải, vì thế nên uống ngày ba lần. Uống thuốc như vậy có thể khiến can khí không nghịch lên, vị khí có thể hạ xuống. Lượng thuốc của các thành phần trong phương thang này cũng là điểm nên chú ý, một là vị Đai giả thạch, lượng sử dụng của vị Đại giả thạch rất nhỏ, chỉ dùng 1 lạng, một lạng tương đương với 1 tiền (4g) hiện nay, Sinh khương 5 lạng là khoảng 5 tiền (20g), đây là những điều phải ghi nhớ, nghĩa là cần dùng nhiều Sinh khương trong thang Toàn phú hoa Đại giả thạch, vị Đại giả thạch chỉ dùng một lượng nhỏ. Nếu không nhớ rõ tỉ lệ này sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả của phương thang. “Tâm hạ bĩ ngạnh, ý khí bất trừ giả” (心下痞硬,噫气不除者) Cần dùng 5 lạng Sinh khương, 1 lượng Đại giả thạch, không phải là 1 lạng Đại giả thạch, ba lát sinh khương. Lý do tại sao? Vì đây là chứng tâm hạ bĩ, tiêu điểm của mâu thuẫn ở tâm hạ (dưới tim), tâm hạ bĩ còn là khí của tỳ vị bất hoà, vì thế trong phương thang này dùng nhiều Sinh khương để kiện vị (giúp dạ dày) tiêu bĩ (trị bế tắc), trừ đàm ẩm, Toàn phú hoa sơ tiết can lợi phế khí tán kết, dùng một chút Đại giả thạch để trấn can hạ khí là có thể đạt được hiệu quả tốt.
Bản thân Đại giả thạch là một loại thuốc có tác dụng trấn áp, nếu như một lượng quá lớn, thuốc sẽ xuống thẳng hạ tiêu. Đại giả thạch còn có tác dụng tả hạ nhẹ, khi đại tiên phân khô cứng, dùng một lượng nhỏ Đại giả thạch có thể giải đại tiện, vì thế phụ nữ khi có thai không thể dùng Đại giả thạch. Phục nữ mang thai ố trở (nghén), ẩu thổ, cũng cần phải chú ý, Đại giả thạch là thuốc kỵ thai. Lượng sử dụng của Đại giả thạch không nên quá nhiều, “bệnh tại trung tiêu, trị tại hạ tiêu” (病在中焦,而治在下焦), nếu các vị thuốc đồng loạt xuống hạ tiêu, nên không thu được hiệu quả. Sinh khương trong phương này có vị cay nhẹ, dùng với lượng nhiều, khiến nó phát huy tác dụng trong dạ dày, chỉ cần dùng một lượng nhỏ Đại giả thạch là có thể trấn can giáng nghịch, lượng sử dụng Đại giả thạch không nên quá nhiều.
Thang Toàn phú hoa Đại giả thạch không chỉ dùng trị bệnh này. Theo báo lâm sàng hiện nay với các chứng như nghẹn, buồn nôn, thậm chí có khối u thực quản, ăn uống không được nữa, có những trường hợp cũng có thể dùng Toàn phú hoa Đại giả thạch. Những bệnh như vậy lại là vấn đề khác, có thể trọng dụng Đại giả thạch, dùng 1 lạng là có thể, cần phân tích vấn đề một cách cụ thể. Như ở đây, bệnh “Tâm hạ bĩ ngạnh, ý khí bất trừ giả”, không cần dùng nhiều Đại giả thạch. Hiện tại khi điều trị tạp bệnh, trị chứng can vị khí nghịch, là chứng tâm hạ không bĩ, chỉ có ợ hơi, mà không thấy tâm hạ bĩ ngạnh, thì phương thang này cũng hữu dụng.