Từ điều 131 đến 137 (C139-C145)
131 结胸者,项亦强,如柔痓状。下之则和, 宜大陷胸丸方。C139
131 Kết hung giả, hạng diệc cường, như nhu chí trạng. Hạ chi tắc hoà, nghi Đại hãm hung hoàn phương. C139
Phương Đại hãm hung hoàn
Kết hung hạng cường như nhu kinh
Hạ chi tắc hoà đại hãm hung
Bán thăng Hạnh Đình Tiêu bát Đại
Hạnh nhân ngao hắc tái ngao Đình
Đại Đình đảo si mang Hạnh nghiên
Hoà tán thủ như đạn hoàn dụng
Biệt đảo Cam toại nhất tiền chuỷ
Bạch mật nhị hợp thuỷ nhị thăng
Đốn phục nhất thăng nhất túc hạ
Bất hạ tái phục kiến hạ đình
Đại hoàng nửa cân, Đình lịch nửa thăng, sao Mang tiêu, Hạnh nhân đều nửa thang, bỏ vỏ và đầu nhọn, sao đen 4 vị thuốc trên, bỏ vào sàng, lấy Hạnh nhân, Mang tiêu nghiền nhuyễn như dầu mỡ, làm thành hoàn như viên đạn, đảo riêng 1 tiền Cam toại, dùng hai hợp mật ong trắng, 2 thăng nước, nấu còn lại 1 thăng, uống hết lúc thuốc còn ấm, một đêm sẽ hạ, nếu không hạ thì tiếp tục uống, đến khi hạ là được, cấm kỵ như dược pháp.
Đây là đoạn văn giảng về cách trị liệu và phân loại chứng kết hung. “Kết hung giả, hạng diệc cường”(结胸者,项亦强) Chứng kết hung gáy cũng cứng “Như nhu chí trạng. Hạ chi tắc hoà, nghi Đại hãm hung hoàn.” (如柔痓状,下之 则和,宜大陷胸丸。) Đoạn văn này thảo luận chứng trạng và trị liệu chứng kết hung bệnh tà còn ở vị trí cao. Kết hung chính là nhiệt kết với thuỷ, bệnh tà Thái dương vào đến sát phần lý và ngưng tụ hỗ tương với thuỷ ở trong lý, đã cấu thành bệnh chứng kết hung, nhưng bộ vị ngưng kết của nhiệt và thuỷ có cao và thấp khác nhau.
“Kết hung giả, hạng diệc cường” ( 结胸者,项亦强), chứng kết hung tất nhiên dưới tim đầy cứng và đau, “项亦强”(Hạng diệc cường), gáy cũng bị cứng, cứng ở mức độ nào? Có phải “cường” (强) của “太阳之为病,脉浮,头项强痛而恶寒”(Thái dương chi vi bệnh, mạch phù, đầu hạng cường thống nhi ố hàn) ? Không phải như vậy mà có một chút dữ dội, “如柔痓状”(như nhu chí trạng), giống như nhu kính. Ở bản văn này chúng ta gọi là “nhu chí”(柔痓), bản của họ Triệu gọi là “nhu kính”(柔痉), cả hai có ý tứ giống nhau, chính là kính bệnh. Kính bệnh phân làm hai loại, một loại là cương kính, một loại là nhu kính. “kính bệnh hạng cường bối phản trương”(痉病项强背反张) kính bệnh cứng gáy lưng như cây cung kéo ngược dây cung, chính là đặc điểm của bệnh. “Hữu hãn vi nhu vô hãn cương”(有汗为柔无汗刚), có mồ hôi gọi là chứng nhu kính, không có mồi hôi gọi là chứng cương kính. Chứng kết hung, dưới tim cứng đầy và đau, cứng gáy, có thể ngửa không thể cúi, đồng thời xuất mồ hôi, giống như “Nhu kính trạng”( 柔痉状), Tại sao như thế? Vì nhiệt kết với thuỷ lệch lên trên, vì thế chứng kết hung cũng lệch lên trên, ảnh hưởng kinh mạch ở lưng và gáy, vì thế bệnh nhân có thể ngửa mà không thể cúi. Dương khí đã hãm vào trong, lệch về phía trên, nhiệt bốc hơi, vì thế tự xuất mồ hôi. Nhiệt đã ngưng tụ với thuỷ, tân dịch không vận chuyển, kinh mạch ở lưng cổ không được nuôi dưỡng, lưng gáy gò bó bất hoà, nói: “Hạ chi tắc hoà”(下之则和), được dùng Đại hãm hung hoàn tả hạ nhiệt và thuỷ ngưng tụ. “Hoà”(和), cũng chỉ chữ “Kính”( 痉) trong “Nhu kính”( 柔痉), vì kính là đã bất hoà, vì kính chính là kinh mạch tụ tập, “Hạng diệc cường”(项亦强) gáy cũng đã cứng, “Cường”(强) chính là bề ngoài(diện mạo) của bất hoà, đã dùng Đại hãm hung hoàn tả hạ khu trừ nhiệt và thuỷ, tân dịch có thể lưu thông dễ dàng, kinh mạch được nuôi dưỡng, lưng gáy không bị cứng, chúng được nhu hoà (mềm mại không gò bó cang cứng) chứng cứng đầy và đau ở dưới tim (tâm hạ) cũng hết.
Phương thang Đại hãm hung hoàn yêu cầu từ lưng trở xuống. Đại hãm hung hoàn với cơ sở là Đại hãm hung thang, Đại hoàng, Mang tiêu, Cam toại là Đại hãm hung thang. Đại hoàng đắng lạnh, có khả năng tiết nhiệt kết. Đại hoàng và Hoàng liên Hoàng cầm có những điểm khác biệt nào? Vì Đại hoàng có thể tả hạ nhiệt kết, có tác dụng phá kết, vì thế nó có thể tẩy rửa tràng vị, thay cũ đổi mới (thôi trần chí tân). Vấn đề hiện tại là nhiệt kết với thuỷ, vì thế dùng vị Đại hoàng để phá nhiệt kết. Mang tiêu là vị thuốc mặn và lạnh, có tác dụng nhuyễn kiên (làm mềm) tán kết, vì thế lực của nhiệt kết với thuỷ rất kiên cố bền vững, chỉ dùng Đại hoàng thì không hiệu quả, nên cần phối với Mang tiêu. Đại hoàng và Mang tiêu chính là hai vị thuốc được dùng để điều trị chứng tà nhiệt kết tụ kiên cố, vì thế thang Đại thừa khí dùng hai vị này, Đại hãm hung thang, Đại hãm hung hoàn đều sử dụng chúng. Cam toại là vị thuốc trừ thuỷ tà mạnh mẽ. “Đại kích Nguyên hoa Cam toại bình” (大戟芫花甘遂平), dưới đây là so sánh của 3 vị thuốc, tác dụng tả thuỷ của Cam toại mạnh hơn hai vị thuốc kia. Kết hợp ba vị thuốc lại, tương tu tương thành (hỗ trợ nhau) có thể tiết thuỷ nhiệt ngưng kết, tẩy rửa thuỷ tà, đưa ra bên ngoài cơ thể, cho nên ba vị này là phương Đại hãm hung thang.
Đại hãm hung hoàn với cơ sở là Đại hãm hung thang, gia thêm Đình lịch, Hạnh nhân, tại sao ra thêm hai vị này? Vì thuỷ nhiệt ngưng kết ở vị trí cao, không đến vị trí tâm hạ, bao quát lồng ngực, thậm chí cả lưng và gáy, ngực, cạnh sườn đầy cứng và đau, có thể xuất hiện chứng trạng hơi thở bị ngắn, vì thế phải lợi hung cách, tiết phế khí (phế khí thoát ra).
Phế khí thuận lợi, khí hung cách thuận lợi, lại gia thêm Đại hoàng, Mang tiêu, Cam toại để khu trừ bệnh tà, như thế có thể tẩy rửa hết thuỷ tà và thuỷ nhiệt. Vị Đình lịch có thể tiết phế, vị Hạnh nhân có tác dụng tạo thuận lợi cho phế, mà lợi phế cũng là thuận lợi cho ngực, vì thế có tác dụng trị thuỷ tà trong ngực.
Đại hãm hung hoàn là phương thang có tác dụng hạ lợi mạnh mẽ (tuấn lợi chi dược), lực lượng công hạ rất mạnh. Vì sao? Nếu không hạ lợi mạnh, thì làm sao có thể hạ lợi được sự ngưng kết của thuỷ nhiệt?
Chúng ta cùng xem xét tễ lượng của phương thang, học lý pháp phương dược, nhất định phải xem xét tễ lượng.
“Thượng tứ vị, đảo si nhị vị, nội Hạnh nhân, Mang tiêu, hợp nghiền như chi, hoà tán, thủ như đạn hoàn nhất mai, biệt đảo Cam toại nhất tiền chuỷ, bạch mật nhị hợp, thuỷ nhị thăng, chử thủ nhất thăng, ôn đốn phục chi, nhất túc nhưng hạ, như bất hạ, canh phục, thủ hạ vi hiệu, cấm như dược pháp.” Những vị thuốc này, làm hoàn như viên đạn, là một loại vũ khí, làm hoàn to bằng viên đạn, mỗi lần uống 1 hoàn. Dùng 1 thìa bột Cam toại, sau đó còn dùng “Bạch mật nhị hợp, thuỷ nhị thăng, chử thủ nhất thăng, ôn đốn phục chi” (hai hợp bạch mật, 2 thăng nước, nấu còn 1 thăng, uống hết lúc thuốc còn ấm) Đây là ý nói về phương pháp uống Đại hãm hung hoàn. “Ôn” có ý là thuốc không nên uống nguội. Một lần uống hết một hoàn, uống với nước thuốc và cả bã thuốc. Thuốc này tính mãnh liệt, nhưng lượng thuốc khá nhỏ, lượng chỉ bằng viên đạn, lượng Cam toại là nhất tiền chuỷ. Tiền chuỷ là đơn vị đo lường thời cổ đại gọi là phương thốn chuỷ. “Bạch mật nhị hợp”, gia thêm mật ong màu trắng, mật có loại màu trắng, loại màu vàng, là loại mật ong màu trắng, “Thuỷ nhị thăng, chử thủ nhất thăng, ôn đốn phục chi”(Hai thăng nước, nấu còn một thăng, uống hết 1 lần lúc thuốc còn ấm). Ta thấy, phương thang này có tác dụng tả hạ mạnh mẽ, nhưng lượng thuốc khá ít, lại gia thêm mật ong vị ngọt, vị ngọt có tính hoà hoãn, cam dĩ hoãn chi, khiến tác dụng tả hạ của Đại hoàng, Mang tiêu giảm bớt tính mãnh liệt, không nhanh không cấp bách, vì thế “一宿乃下” (nhất túc nhưng hạ) tả hạ sau một đêm, mất một đêm để có tác dụng tả hạ.
Điều này có những ý nghĩa như sau: Một là bệnh đang ở trên, không nên tả hạ cấp bách. Khi bệnh ở phần trên thì “项亦强,如柔痉状” (Hạng diệc cường, như nhu kính trạng), tà khí ở trên cao nếu tả hạ quá nhanh sẽ có vấn đề bệnh tà còn sót lại, tà khí không đào thải triệt để.
Không thể tả hạ quá nhanh, lượng thuốc sử dụng cần phải nhỏ, nếu dùng lượng thuốc lớn, tác dụng tả hạ sẽ nhanh; Đồng thời lại gia thêm mật ong, làm chậm sức mạnh của thuốc, phát huy tác dụng tả hạ ở thượng tiêu, từ đó đạt được mục đích trị liệu. Trung y điều trị bệnh ở thượng tiêu, thường dùng phương pháp gia thêm vị Cam thảo, ở đây không dùng Cam thảo, vì vị Cam thảo và vị Cam toại phản nhau, cho nên dùng Bạch mật, kéo dài thời gian tác dụng của thuốc ở thượng tiêu để điều trị thuỷ tà ở vị trí cao trên thượng tiêu. “药虽峻而用在缓”(Dược tuy tuấn nhi dụng tại hoãn), thuốc tuy có tác dụng tả hạ mạnh mẽ, mà phương pháp sử dụng lại khá hoà hoãn. Tại sao? Vì uống một hoàn thuốc lớn, lại gia thêm Bạch mật, biến tác dụng công hạ mạnh mẽ thành công hạ hoà hoãn, chính là một sách lược để điều trị thuỷ nhiệt ngưng kết ở thượng tiêu. “Như bất hạ” vì lượng thuốc quá ít, nếu không tả hạ, “Canh phục”( 更服), tiếp tục uống, với tả hạ là mức độ, “Thủ hạ vi hiệu”( 取下为效) tả hạ là hiệu quả trị liệu, “Hạ chi tắc hoà”( 下之则和), khi đã tả hạ, bệnh cứng lưng gáy sẽ tự hết. Đây là phương thuốc hàng đầu dùng trị chứng kết hung, có tên là Đại hãm hung hoàn. Vì sao gọi là “hãm hung”? Tên này rất đặc biệt, chữ “hung” (lồng ngực) chính là bệnh tà ở vị trí cao, lúc này việc điều trị chính là “hãm hạ dĩ bình chi” (陷下以平之), dùng chữ “hãm” chính là dùng ý nghĩa hãm hạ bệnh tà ở vị trí cao, để bình tà khí.
132结胸证,其脉浮大者,不可下,下之则死。C140
133结胸证悉具,烦躁者,亦死。 C141
132 Kết hung chứng, kỳ mạch phù đại giả, bất khả hạ, hạ chi tắc tử. C140
133 Kết hung chứng tất cụ, phiền táo giả, diệc tử. C141
Hai điều này thảo luận về vấn đề tiên lượng của chứng kết hung, hai điều này cần phải nhận thức cùng nhau mới có ý nghĩa, chữ “diệc” là nối tiếp của phần trên, ý của “Hạ chi tắc tử” (下之则死), tiếp nối từ câu trên.
Chứng kết hung, thấy mạch phù đại, mạch phù là bệnh tà tại biểu, chưa hoàn toàn nhập lý, tuy chính là đã kết hung, vì tà của chứng kết hung từ Thái dương biểu đi vào, “Bệnh phát vu dương, nhi phản hạ chi, nhiệt nhập nhân tác kết hung”( 病发于阳,而反下之,热入因作结胸), mạch phù phản ảnh tà khí ở biểu. Mạch “大”(đại) cho thấy lý không thực. Như vậy, tuy có bị đau nhưng mạch chứng không phù hợp (ăn khớp), thì không thể dùng phép công hạ, cấm dùng Đại hãm hung thang. Nếu như ngộ hạ (hạ nhầm) sẽ dẫn tà nhập lý, khiến tà của biểu xâm nhập vào trong (lý), trước tiên chính khí bị hư tổn, tà mạnh chính suy, vì thế “Hạ chi tắc tử”( 下之则死), công hạ thì chết.
Trị bệnh gồm có hai phương diện, một là theo tà khí, hai là theo chính khí. Chính khí và tà khí có quan hệ tiêu bản (gốc ngọn), vì thế chỉ sợ chính khí hư suy. Bệnh tạng kết vì sao khó chữa? Là chính khí hư nhược, chứng kết hung hạ nhầm, chính khí bị hư tổn trước tiên, tà khí lại kết, là vấn đề không tốt và nguy hiểm. Đây là đoạn văn thuyết minh chứng kết hung không được dùng phép hạ quá sớm, khi dùng Đại hãm hung thang hoặc Đại hãm hung hoàn, mạch phải là trầm khẩn, mạch trầm chủ lý, khẩn chủ thực, mạch phù đại và mạch trầm khẩn là tương phản (trái nghịch nhau), mạch phù đại là chính khí chưa hư tổn, tà khí chưa nhập lý, vị thế dùng phép hạ lúc này là quá sớm, là rất nguy hiểm.
Như vậy người ta lại sản sinh một suy nghĩ “结胸病,下之太早,可就死了,这个问题太严重了”(Kết hung bệnh, hạ chi thái tảo, khả tựu tử liễu, giá cá vấn đề thái nghiêm trọng liễu) Bệnh kết hung, nếu tả hạ quá sớm, có thể tử vong, vấn đề này rất nghiêm trọng, vì vậy đối với chứng kết hung, ta phải xem xét và chờ đợi. Bệnh kết hung là một đại chứng, nếu đã có cơ hội có thể dùng Đại hãm hung thang để tả hạ, mà không nhân theo thế bệnh để tả hạ, kết quả là tà khí ngưng kết mà thành thực chứng, chính khí hư nhược bất túc, “结胸证悉具”(kết hung chứng tất cụ) tất đầy đủ hội chứng của kết hung, tất cả các triệu chứng quan trọng này đã hoàn toàn xuất hiện. Tà khí ngưng kết vững chắc, thế lực (của bệnh) đã hoàn thành, mà chính khí khó trị, vì thế xuất hiện phiền táo (chứng trạng khó chịu bực bội) tiền đề của chứng kết hung tất cụ (đầy đủ) là xuất hiện phiền táo bất an, chính khí tán loạn, chính không thắng tà. Chứng trạng phiền táo này khác biệt với chứng trạng phiền táo của bản thân bệnh kết hung; Chính là ở kết hung đầy đủ (tất cụ), là lúc thế lực của tà khí đã hình thành đầy đủ xuất hiện, “diệc tử”( 亦死), dùng phép tả hạ chậm trễ cũng chết. Sớm cũng không được, trễ cũng không được, vậy là lúc nào? Là lúc thích hợp. Phần trước là vì quá mạnh, tả hạ khi không nên tả hạ; Phạm sai lầm ở câu thứ hai là quá dè dặt cẩn thận, không theo kịp điều trị, thì cũng như phạm sai lầm. Từ hai điều này chúng ta nhận được bài học “ứng hạ giả, tắc hạ chi” (应下者,则下之) nên hạ thì hạ, nắm vững bệnh cơ (phát sinh, phát triển, biến hoá và kết cục), nắm vững tình trạng bệnh, như vậy sẽ tránh được hậu quả, “hạ chi hoặc tảo”, “ hạ chi hoặc trì” (下之或早)、(下之或迟) dùng phép tả hạ quá sớm hoặc quá trễ.
134 太阳病,脉浮而动数,浮则为风,数则为热,动则为痛,数则为虚,头痛发热,微盗汗出而反恶寒者,表未解也。医反下之,动数变迟,膈内拒痛一云:头痛即眩, 胃中空虚,客气动膈,短气躁烦,心中懊憹,阳气内陷,心下因硬,则为结胸,大陷
胸汤主之。若不结胸,但头汗出,余处无汗,剂颈而还,小便不利,身必发黄也。 C142
134 Thái dương bệnh, mạch phù nhi động sác, phù tắc vi phong, sác tắc vi nhiệt, động tắc vi thống, sác tắc vi hư, đầu thống phát nhiệt, vi đạo hãn xuất nhi phản ố hàn giả, biểu vị giải dã. Y phản hạ chi, động sác biến trì, cách nội cự thống nhất vân: Đầu thống tức huyễn, vị trung không hư, khách khí động cách, đoản khí táo phiền, tâm trung ảo não, dương khí nội hãm, tâm hạ nhân ngạnh, tắc vi kết hung, Đại hãm hung thang chủ chi. Nhược bất kết hung, đãn đầu hãn xuất, dư xử vô hãn, tễ cảnh nhi hoàn, tiểu tiện bất lợi, thân tất phát hoàng dã. C142
Đại hãm hung thang
Nhất tiền Cam toại nhất thăng Tiêu
Lục lạng Đại hoàng lực pha nhiêu
Nhật bô triều nhiệt phúc thống mãn
Hung tiền kết tụ thử phương tiêu
Đại hoàng 6 lạng, bỏ vỏ Mạng tiêu 1 thăng Cam toại 1 tiền, ba vị thuốc trên dùng 6 thăng nước, đầu tiên nấu vị Đại hoàng, lấy 2 thăng, bỏ bã, cho vị Mang tiêu vào, nấu sôi một hai chập, cho bột Cam toại vào, uống 1 thăng lúc nước thuốc còn ấm, tả lợi nhanh chóng, ngừng uống.
Điều văn giảng về thái dương bệnh ngộ hạ sinh biến chứng kết hung hoặc phát hoàng (vàng da). Được phân thành 3 đoạn để giải thích.
“Thái dương bệnh, mạch phù nhi động sác, phù tắc vi phong, sác tắc vi nhiệt, động tắc vi thống, sác tắc vi hư, đầu thống phát nhiệt, vi đạo hãn xuất nhi phản ố hàn giả, biểu vị giải dã” (太阳病,脉浮而动数,浮则为风,数则为热,动则为痛,数则为虚,头痛发热,微盗汗出而反恶寒者,表未解也) là đoạn thứ nhất.
“Y phản hạ chi, động sác biến trì, cách nội cự thống nhất vân: Đầu thống tức huyễn, vị trung không hư, khách khí động cách, đoản khí táo phiền, tâm trung ảo não, dương khí nội hãm, tâm hạ nhân ngạnh, tắc vi kết hung, Đại hãm hung thang chủ chi.” (医反下之,动数变迟,膈内拒痛一云:头痛即眩, 胃中空虚,客气动膈,短气躁烦,心中懊憹,阳气内陷,心下因硬,则为结胸,大陷胸汤主之。) là đoạn thứ hai.
“Nhược bất kết hung, đãn đầu hãn xuất, dư xử vô hãn, tễ cảnh nhi hoàn, tiểu tiện bất lợi, thân tất phát hoàng” (若不结胸,但头汗出,余处无汗,剂颈而还,小便不利,身必发黄也。) là đoạn thứ ba.
Đoạn thứ nhất“Thái dương bệnh, mạch phù nhi động sác, phù tắc vi phong, sác tắc vi nhiệt, động tắc vi thống, sác tắc vi hư, đầu thống phát nhiệt, vi đạo hãn xuất nhi phản ố hàn giả, biểu vị giải dã” (太阳病,脉浮而动数,浮则为风,数则为热,动则为痛,数则为虚,头痛发热,微盗汗出而反恶寒者,表未解也)phân tích theo mạch và chứng, biết được biểu tà chưa giải. Dùng Đại hãm hung thang trị chứng kết hung, sợ nhất là biểu tà không giải, vì sao biết rằng biểu tà chưa giải? Ở đây có chứng trạng then chốt là, “nhi phản ố hàn” (而反恶寒) mà lại ghét lạnh, mà “hữu nhất phân ố hàn, tiện hữu nhất phân biểu chứng” (有一分恶寒,便有一分表证) có một chút sợ lạnh là có một chút biểu chứng, sợ lạnh là một chứng trạng then chốt của biểu chứng.
Đoạn thứ hai thảo luận về sau khi ngộ hạ, biểu tà không giải. Sau khi dùng Đại hãm hung thang ngộ hạ, biểu tà Thái dương hãm vào trong, “Thái dương bệnh, hạ chi hậu, kỳ khí thượng xung giả, khả dữ Quế chi thang”(太阳病,下之后,其气上冲者,可与桂枝汤), có thượng xung là có nội hãm, dương tà hãm vào trong, dưới tim cứng và đau, “Tắc vi kết hung” (则为结胸), chính là “Bệnh phát vu dương, nhi phản hạ chi, nhiệt nhập nhân tác kết hung” (病发于阳,而反下之,热入因作结胸) Bệnh phát ở dương, mà lại hạ nhầm, nhiệt nhập lý là nguyên nhân gây chứng kết hung, dùng Đại hãm hung thang để trị liệu.
Ý của đoạn thứ ba, nếu như không kết hung, sau khi ngộ hạ, nhiệt và thấp kết, mà không kết với thuỷ, nhiệt kết với thuỷ gọi là kết hung. Thấp và nhiệt ràng buộc nhau, nhiệt không thoát được, cho nên “Đãn đầu hãn xuất, tễ cảnh nhi hoàn” (但头汗出,剂颈而还) xuất mồ hôi đầu, từ cổ trở lại. Thấp bị nhiệt dẫn dắt mà không thể bài tiết, vì thế tiểu tiện không thuận lợi. Như vậy là thấp nhiệt hun đốt mà phát sinh chứng hoàng đản (vàng da).
“Thái dương bệnh, mạch phù nhi động sác” (太阳病,脉浮而动数), Thái dương bệnh, mạch phù là đúng, mạch phù là bệnh tại biểu, “而动数”(nhi động sác), “động” (动) ở đây không phải là “động mạch” (动脉), không phải là mạch động trong Tần Hồ mạch học, “động mạch dao dao sác tại quan, vô đầu vô vĩ đậu hình đoàn” (动脉摇摇数在关,无头无尾豆形团) Mạch lay động và nhanh ở bộ quan, không đầu, không đuôi, tròn như hạt đậu, theo ý kiến của người viết thì mạch này chính là mạch phù mà táo động, mạch đập rất nhanh, vì mạch đập táo động không phổ biến, mạch đập rất nhanh, là mạch sác cấp, cho nên goi là “động sác” (动数). Mạch phù chủ phong, mạch sác chủ nhiệt, là biểu có phong nhiệt. phù động và mạch sác hợp lại, là biểu tà chưa giải, chắc chắn thân thể, thể biểu bị đau. “sác tắc vi hư” (数则为虚) , “sác” (数) ở đây cũng chính là khái quát (nói một cách tóm tắt), là mạch phù mà động sác, tà khí ở biểu, lý không có bệnh tà, lý còn hư, biểu có bệnh tà, tuy nhiên mạch đập động sác, có dấu hiệu bệnh muốn truyền vào lý, nhưng mạch còn phù sác là bệnh tà chưa đi vào bên trong, vì thế nên nói rằng “sác tắc vi hư” (数则为虚) Mạch sác là biểu hiện của hư chứng.
“Đầu thống phát nhiệt” (头痛发热), là tà khí ở biểu. Có một chút đạo hãn (mồ hôi trộm), hàm ý là tà khí muốn truyền vào trong, tà khí tại biểu muốn xâm nhập vào lý, vì là tà phong nhiệt, vì thế bệnh nhập vào lý, thân thể dương khí thịnh, khi ngủ dương muốn nhập vào âm, sẽ xuất một chút mồ hôi (đạo hãn). Phần dưới lại thêm một câu, có phải bệnh đã hoàn toàn đều nhập lý rồi? là “vi hãn xuất” (微汗出), xuất một chút mồ hôi, bệnh chưa hoàn toàn nhập lý, đại cục cho rằng bệnh còn tại biểu. “Nhi phản ố hàn giả”(而反恶寒者), tuy nhiên có một chút đạo hãn, là hình ảnh của lý nhiệt, thế nhưng “nhi phản ố hàn” (而反恶寒), mà còn sợ lạnh, cho thấy biểu tà vẫn chưa được giải.
“Thương hàn nhất nhật, Thái dương thụ phạp, mạch nhược tĩnh giả, vi bất truyền; Pha dục thổ, nhược táo phiền, mạch sác cấp giả, vi truyền dã.” (伤寒一日,太阳受乏,脉若静者,为不传;颇欲吐,若躁烦,脉数急者,为传也。) Ở đây “Mạch phù nhi động sác”(脉浮而动数) là biểu hiện của truyền kinh, cần xem xét điểm này, “vi đạo hãn xuất” (微盗汗出) là xu thế của truyền kinh, cũng nên chú ý. Thế nhưng
“nhi phản ố hàn giả”(而反恶寒者), mạch phù chưa biến hoá, biểu tà cũng chưa giải, còn được giải biểu. Dùng phương thang nào để giải biểu? Căn cứ theo ý kiến của một số nhà chú thích, có người đề nghị dùng thang Sài hồ Quế chi, vì có những điểm của chứng bán biểu bán lý, còn một chút biểu tà, bên trong còn một chút mồ hôi trộm (đạo hãn), vì tình huống có một chút đạo hãn đều thuộc Thiếu dương bệnh. Tà khí vào lý, rồi đi đâu? Thiếu dương có chứng trạng đạo hãn, vì thế dùng thang Sài hồ Quế chi.
Tóm lại, tà khí chưa nhập vào trong, thày thuốc không biết “Phản ố hàn giả, biểu vị giải dã” (反恶寒者,表未解也) Lại sợ lạnh, là biểu tà chưa giải, cho rằng, “đạo hãn xuất, mạch sác cấp”(盗汗出,脉数急) xuất mồ hôi trộm, mạch sác cấp (nhanh gấp) là bệnh đã nhập lý, nên “diệc phản hạ chi”(亦反下之) nên dùng phép tả hạ. “động sác biến trì”(动数变迟) mạch động sác hiện tại biến thành mạch trì, tại sao như vậy? Tà khí nhập vào trong, nên mạch động sác biến thành mạch trì, biến thành mạch của chứng ngưng kết, nhiệt nhập vào là nguyên nhân gây chứng kết hung, nhiệt kết với thuỷ, vì thế mạch sẽ chậm lại. Quá trình mạch biến trì cần xem xét một cách linh động, mạch đập rất nhanh, (táo động nhi sác), hiện tại sau khi ngộ hạ mạch chậm lại, có thể tìm hiểu mức độ của tình trạng này (là quá trình mạch từ nhanh giảm xuống chậm), không nhất thiết phải là mạch đập ba lần (một hơi thở đập 3 lần), không nên xem như vậy là dấu hiệu của sự chết.
Mạch động sác đã biến thành mạch trì, mạch phù có biến không? Thành Vô Kỷ nói rằng chưa biến, cho rằng mạch phù chưa biến, chỉ là biến mạn (mạch chậm), đây là quan điểm sai lầm. Tại sao? Bạn không cần phải chú ý đến đại gia Thành Vô Kỷ là nhà chú giải hàng đầu của “Thương Hàn Luận”, về vấn đề này ông đã sai lầm. Đối với các nhà chú giải, người viết đã nhiều lần nói, bạn phải có quan điểm riêng của bạn đừng chạy theo họ, họ giỏi thì bạn phải học hỏi và bạn cũng nên chú ý xem họ sai ở đâu.
Tại sao? Ông viết : “Vị trung không hư, khách khí động cách, đoản khí táo phiền, tâm trung ảo não, dương khí nội hãm, tâm hạ nhân ngạnh, tắc vi kết hung, Đại hãm hung thang chủ chi.” (胃中空虚,客气动膈,短气躁烦,心中懊憹,阳气内陷,心下因硬,则为结胸,大陷胸汤主之。)
Không nghe nói khi mạch phù mà dùng Đại hãm hung thang, căn bản là không có khả năng này. Bạn có dám làm như vậy? Mạch phù nhi đại, hạ chi tắc tử (mạch phù đại, dùng phép tả hạ sẽ gây chết người). Trước mắt không có chứng kết hung mà mạch phù, đó là nói về nguồn gốc của nó. Là Trọng Cảnh dùng mạch thay bệnh lý, lấy điều này làm lý do. Có một số chú gia phê phán Thành Vô Kỷ, nói rằng họ Thành cho mạch phù ở đây bất biến. Đây chính là sai lầm của ông.
Người viết đồng ý với quan điểm này, không có khả năng còn mạch phù, Tại sao như vậy? “Cách nội cự thống” (膈内拒痛) Chính khí và tà khí phản kháng và chống trả nhau quyết liệt nên rất đau. “Vị trung không hư”(胃中空虚) dạ dày trống rỗng, sau khi tả hạ nhầm trong vị (dạ dày) trống rỗng (vị trung không hư), khách khí thành tà khí, khách đối với chủ mà nói, không phải chính khí, chính khí gọi là chủ khí, tà khí bên ngoài xâm phạm lồng ngực và cơ hoành, sẽ xuất hiện “đoản khí táo phiền, tâm trung ảo não, dương khí nội hãm, tâm hạ nhân ngạnh, tắc vi kết hung” (短气躁烦,心中懊憹,阳气内陷,心下因硬,则为结胸) là thở gấp, bực bội, dưới tim phiền muộn, dương khí hãm ở trong, tâm hạ nhân ngạnh (cứng ở dưới tim) là chứng kết hung, câu 4 chữ trong ngoặc kép này, là thành chứng kết hung rồi.
Ở đây có bệnh cơ của chứng kết hung, kết hung là gì “tâm hạ ngạnh”(心下硬) cứng ở dưới tim,vì sao xuất hiện “đoản khi táo phiền”(短气躁烦), thở ngắn và bực bội, trong tim còn “ảo não”(懊憹) sầu não? Đó là diễn tiến của bệnh, “vị trung không hư, khách khí động cách, đoản khí táo phiền”(胃中空虚,客气动膈,短气躁烦) dạ dày trống rỗng, khách khí xâm phạm hoành cách, thở ngắn bực bội. Thở ngắn (đoản khí), là hơi thở bị trở ngại, không phải là thở yếu (thiểu khí), thiểu khí là hư chứng, đoản khí là do nhiệt kết với thuỷ. “躁烦” (táo phiền) bực bội là có nhiệt, “phiền” là tâm phiền, “táo” (躁) là thân thể bất an, đây chính là táo phiền (chứng bực bội) vốn có của bệnh kết hung, và đúng là thực chứng “Kết hung chứng tất cụ, phiền táo giả dã tử”(结胸证悉具,烦躁者也死) Thành chứng kết hung đầy đủ bệnh nhân phiền táo bực bội là dấu hiệu chết, ở đây không giống loại hình đó, loại hình này nhẹ, loại hình đó nặng. Dùng “Đại hãm hung thang chủ chi”, chủ trị bệnh này.
Nếu không phải chứng kết hung, không phải nhiệt kết với thuỷ, mà là nhiệt và thấp ràng buộc nhau, thấp không thoát ra được, nhiệt cũng vậy, nhiệt tìm đường ra ngoài, theo mồ hôi để giải nhiệt nhưng không được, vì thấp níu giữ, thấp níu giữ nhiệt ở trong, vì thế “đãn đầu hãn xuất”. “Đãn” là có tính giới hạn, “但头汗出” (đãn đầu hãn xuất) là chỉ xuất mồ hôi ở đầu, xuất mồ hôi ở chỗ nào?, “tễ cảnh nhi hoàn”(剂颈而还), chữ tễ (剂) đổi thành chữ tễ (齐) cũng được, là ngang với tai, đó là giới hạn của mồ hôi đầu ở chứng này, là từ cổ trở lên, từ cổ trở xuống không có mồ hôi. “Dư xử vô hãn”(余处无汗), còn lại toàn thân không có mồ hôi, điều này cho thấy nhiệt khí không thể tuyên phát (khai thông phát tán). Khi nhiệt khí tuyên phát thì toàn thân xuất hãn và như vậy nhiệt khí cũng xuất ra ngoài, nhưng nhiệt khí xuất ra, cũng gây tổn thương cho tân dịch, dễ thành chứng dương minh táo nhiệt. Xuất nhiều mồ hôi, các nơi khác không xuất mồ hôi (chỉ xuất mồ hôi từ ngang tai trở lên), nhiệt khí không phát tán nhiều ra ngoài. Thấp nhiệt ràng buộc nhau, nhiệt lôi kéo ảnh hưởng thấp, thấp cũng không thể tiết ra nhiều theo tiểu tiện, tiểu tiện sẽ không thuận lợi. Nhiệt không phát tán được nên xuất mồ hôi đầu, thấp không tiết ra được nên tiểu tiện bất lợi. Thấp và nhiệt ràng buộc nung nấu nhau, kết quả là “thân tất phát hoàng” (身必发黄), xuất hiện chứng hoàng đản (vàng da). Thuỷ nhiệt ngưng kết là Đại hãm hung thang chứng (chứng trạng của thang Đại hãm hung), thuỷ thấp uẩn kết là chứng trạng của Nhân trần hao thang, hoặc là chứng trạng của Nhân trần ngũ linh tán, nên xem xét những tình huống cụ thể.
Thang Đại hãm hung gồm ba vị thuốc, Thành Vô Kỷ giải thích vị Cam toại có khả năng tiết thuỷ như thế nào?
Vì sao có tên là “Cam toại”? Trong Chu lễ có câu. “夫间有遂” (phu gian hữu toại). “夫” (phu) Bởi vì tôi ít đọc cuốn sách cổ này, nó có nghĩa là nông dân thời xưa có một số ruộng, và nông dân phải trồng trọt, đối với loại đất này, trong một gia đình có một, hai, ba, bốn, thậm chí nhiều hơn, vì vậy tôi sử dụng Từ “phu” (chồng) đại diện cho một đơn vị và một người. Khi canh tác cần phải lưu giữ nước, ngày nay chúng ta gọi là “thuỷ cừ”(水渠) là mương nước, người xưa gọi là “遂” (toại), là kênh dẫn nước chảy qua, “toại” dùng để tưới đất, giống với “toại” là tương thông. “Toại” (mương nước) rộng ba xích, sâu ba xích, không quá nhỏ. Vị thuốc Cam toại này, vì sao có tên là Cam toại? Nó khả năng lợi thuỷ, thông thuỷ, hành thuỷ, cho nên dùng chữ này. “Cam toại nhược phu gian chi toại”(甘遂若夫间之遂), câu thoại này Thành Vô Kỷ đã dẫn chứng trong sách Chu lễ “Phu gian hữu toại” (夫间有遂) , giống như mương nước trong ruộng.
Phương thang này, “Thượng tam vị, dĩ thuỷ lục thăng” (Ba vị trong thang thuốc, dùng 6 thăng nước). Ba vị này sắc vị nào trước? Sắc vị Đại hoang trước. “Tiên chử Đại hoàng, thủ nhị thăng), sắc vị Đại hoàng trước, 6 thăng nước nấu còn lại hai thăng nước, bốc hơi 4 thăng, “bỏ bã” bỏ vị Đại hoàng đi, còn lại 2 thăng nước, “nội Mang tiêu” cho vị Mang tiêu vào, đun sôi một hai chập, cho vị Cam toại vào và không nấu nữa, “ôn phục nhất thăng” (uống 1 thăng lúc thuốc còn ấm), là uống một nửa số thuốc, sau khi đã đại tiện rồi thì không cần uống nữa, thuốc đã có hiệu quả.
135 伤寒六七日,结胸热实,脉沉而紧,心下痛,按之石硬者,大陷胸汤主之。 C143
135 Thương hàn lục thất nhật, kết hung nhiệt thực, mạch trầm nhi khẩn, tâm hạ thống, án chi thạch ngạnh giả, Đại hãm hung thang chủ chi. C143
Bài viết này liên kết với phần trước để mô tả hội chứng đại kết hung và các phương pháp điều trị. Ở đây có ba chứng đại diện, người ta gọi là kết hung tam chứng, một là mạch trầm và khẩn, hai là tâm hạ thống, ba là ấn vào thấy cứng như đá, những điều này được trình bày ở phần dưới.
“Thương hàn lục thất nhật”(伤寒六七日) Thương hàn 6,7 ngày, bệnh ở đây chưa bị ngộ hạ. Câu trên chính là “Y phản hạ chi, động sác biến trì” (医反下之,动数变迟), là thày thuốc dùng phép hạ, mạch động sác biến thành mạch trì, chính là do sau khi hạ nhầm nên tà khí từ Thái dương biểu nhiệt kết vào bên trong, thành chứng Đại kết hung. Điều C143 là nói về khi chưa dùng phép công hạ, vì bệnh tà ở Thái dương 6,7 ngày chưa giải trừ, thời gian khá dài, chưa trị liệu kịp thời, bệnh tà tại biểu không được giải trừ, sẽ truyền nhập vào trong, khi truyền vào trong, thuỷ và nhiệt ngưng tụ lại với nhau, tạo thành kết hung
đó là nguồn gốc của bệnh, thực nhiệt chính là bệnh lý của bệnh, một nhiệt chứng đột xuất (nổi bật), một thực chứng đột xuất, một kết hung đột xuất, đó chính là lai lịch của bệnh. Mạch trầm mà khẩn, vì biểu tà đã nhập lý, đã là chứng thực nhiệt nên mạch trầm, là mạch đã không còn phù. Chứng này là thực chứng, là thuỷ chứng, đồng thời còn bị đau. Mạch trầm chủ lý, mạch trầm lại chủ thuỷ, có thuyết “Trầm tiềm thuỷ súc âm kinh bệnh” (沉潜水蓄阴经病)là mạch trầm biểu hiện tích trữ nước bệnh ở kinh âm, mạch trầm, mạch thực chủ thuỷ; Mạch Khẩn một là phản ảnh của thực chứng, một là phản ảnh của đau, mức độ đau của bệnh này rất nặng. “Mạch trầm nhi khẩn” (脉沉而紧) phản ảnh chứng kết hung thực chứng của thực nhiệt và thuỷ nhiệt ngưng kết, mà còn kèm theo chứng trạng đau. Hội chứng chính là “tâm hạ thống” (心下痛)đau phía dưới tim, “án chi thạch ngạnh” (按之石硬)ấn vào thấy cứng như đá, “thạch ngạnh” (cứng như đá) là nói một cách khoa trương, chỉ là cơ bụng cứng thôi, hiện nay mô tả về chứng trạng này chỉ gọi là “板状腹” (bản trạng phúc) bụng rắn chắc, rất cứng, không mềm mại nhu hoà, đồng thời bị đau.
Đây là bệnh gì? Đây chính là bệnh kết hung, nhiệt và thuỷ ngưng tụ tại phía dưới tim, ở tâm hạ (phía dưới tim) là chỗ nào? Ở trong dạ dày? Không phải. Chính là ở cơ bụng, trong cơ bụng thấm ra một ít thuỷ dịch, theo y học cận đại, một số bác sĩ cho rằng đây là một loại bệnh giống như viêm phúc mạc cấp tính. Vì thế “Mạch trầm nhi khẩn, tâm hạ đông thống) (mạch trầm mà khẩn, đau dưới tim), đau của bệnh này khá tệ hại, ấn ở vùng dưới tim thấy rất cứng, đây chính là chứng kết hung. Dùng “Đại hãm hung thang chủ chi” (thang Đại hãm hung trị bệnh này), các thuốc khác không hiệu quả, dùng Đại hãm hung thang tả nhiệt phá thuỷ, tẩy rửa hết thuỷ nhiệt ngưng trệ, điều trị tốt bệnh này. Điều C139 giảng về chứng kết hung “kết hung gỉa, hạng diệc cường” (chứng kết hung, cứng gáy) bệnh tà ở trên cao; Điều này “Tâm hạ thống, án chi thạch ngạnh” (đau phía dưới tim, ấn vào thấy cứng như đá) là bệnh tà ở giữa, “tâm hạ” là ở giữa, phần dưới còn có bệnh tà ở dưới, vị trí bệnh phân ra có trên, giữa và dưới. Đây chính là chứng trạng của Đại hãm hung thang. Dùng Đại hãm hung thang để điều trị bệnh.
Ba chứng nêu trên, “Mạch trầm nhi khẩn, tâm hạ thống, án chi thạch ngạnh giả, Đại hãm hung thang chủ chi” (Mạch trầm mà khẩn, đau phía dưới tim, ấn vào thấy cứng như đá, Đại hãm hung thang trị bệnh này), cần phải ghi chép từ trên xuống dưới. Tại sao phải ghi nhớ từ trên xuống dưới? Ghi nhớ là một quá trình của thành thục, khi đã thành thục sẽ có thể phản ảnh và chỉ đạo lâm sàng một cách chính xác. Bởi vì những gì chúng ta học được dù sao vẫn chỉ là những điều cơ bản, những văn tự, kế thừa kinh nghiệm của người xưa, biến chúng thành những kiến thức của cá nhân mình, có thể biện chứng luận trị ứng dụng vào thực tế, ở đó còn có quá trình hấp thu, lĩnh hội, kinh nghiệm, hiểu biết và nhận thức. Nếu ghi nhớ không tốt, ấn tượng mơ hồ, sẽ sai sót khi tiến hành chẩn đoán bệnh. Ba chứng của bệnh này rất đơn giản, người xưa chú trọng vào những điểm chính khi mô tả các triệu chứng, nên không phức tạp và dễ nhớ. Ở đây thuyết minh một vấn đề, bệnh này nói về một số bệnh ở vùng bụng. hiện tại gọi là cấp phúc chứng, nhất định phải dùng tay để ấn nắn vùng bụng, đây chính là truyền thống của Trung y, làm như thế nào? “Thương Hàn Luận” đã chẳng nói “Án chi thạch ngạnh giả” (ấn vào thấy cứng như đá) nếu bạn không dùng tay, làm sao biết được “Thạch ngạnh” (cứng như đá), chỉ xem và hỏi thì có thể biết là cứng như đá không?
Hiện nay khi khám bệnh, người thày thuốc chẩn mạch ba bộ thốn quan và xích, chẩn mạch cẩn thận rồi viết đơn thuốc, điều này không phù hợp với phương pháp biện chứng luận trị của truyền thống Trung y, có một số bệnh cần phải khám bệnh bằng tay sờ nắn bệnh nhân, nếu không thì không cảm nhận được tính chất của bệnh. Các câu ghi trong “Thương Hàn Luận” như “nhiễu tề thống” (đau quanh rốn), “tâm hạ ngạnh kết” (cứng ở dưới tim), “cự án” (không thích ấn nắn). đều phản ảnh vấn đề này.
136 伤寒十余日,热结在里,复往来寒热者,与大柴胡汤。但结胸无大热者,此为水结在胸胁也,但头微汗出者,大陷胸汤主之。 C144
137 太阳病,重发汗,而复下之,不大便五六日,舌上燥而渴,日晡所小有潮热一云:日晡所发心胸大烦, 从心下至少腹,硬满而痛,不可近者,大陷胸汤主之。 C145
136 Thương hàn thập dư nhật, nhiệt kết tại lý, phục vãng lai hàn nhiệt giả, dữ Đại sài hồ thang. Đãn kết hung vô đại nhiệt giả, thử vi thuỷ kết tại hung hiếp dã, đãn đầu vi hãn giả, Đại hãm hung thang chủ chi. C144
137 Thái dương bệnh, trọng phát hãn, nhi phục hạ chi, bất đại tiện ngũ lục nhật, thiệt thượng táo nhi khát, nhật bô sở tiểu hữu triều nhiệt nhất vân: Nhật bô sở phát tâm hung đại phiền, tòng tâm hạ chí thiểu phúc, ngạnh mãn nhi thống, bất khả cận dã, Đại hãm hung thang chủ chi. C145
Điều C144 là chứng kết hung mà tựa như Thiếu dương bệnh, và điều C145 là chứng kết hung tựa như Dương minh bệnh, hai điều này có một mức độ phức tạp nhất định, và không giống nhau đơn thuần như “Mạch trầm nhi khẩn, tâm hạ thống, án chi thạch ngạnh giả”(脉沉而紧,心下痛,按之石硬者) mạch trầm khẩn, đau dưới tim, ấn vào cứng như đá. Điều C144 là chứng kết hung có những điểm giống Thiếu dương bệnh. Trong đoạn văn đưa ra ba vấn đề, một là “nhiệt kết tại lý” (热结在里) nhiệt kết ở bên trong, hai là “phục vãng lai hàn nhiệt” (复往来寒热) lại thấylạnh nóng thay nhau xuất hiện, ba là “đãn kết hung”(但结胸) nhưng là chứng kết hung. “Thương hàn thập dư nhật”(伤寒十余日) là quá trình bệnh này, là quá trình diễn biến của bệnh, thương hàn, phát sốt đã hơn 10 ngày, bệnh có đỡ không? Không đỡ. Bệnh không đỡ như thế nào và ở mức độ nào? Bệnh đã ở giai đoạn nào? Chính là “Nhiệt kết tại lý”(热结在里) nhiệt kết ở bên trong, biểu tà Thái dương đã hoá nhiệt nhập lý, “tại lý”, còn có thêm chữ “kết”, kết chính là ngưng kết, kết tụ, nhiệt đã kết tụ ở trong. Câu văn này có ý nghĩa như thế nào? Ý tại ngôn ngoại, ý là đại tiện táo kết không thông, vì thế gia thêm “nhiệt kết”, chính là nhiệt kết ở trong, chính là vị gia thực chứng của Dương minh. “Phục vãng lai hàn nhiệt giả”(复往来寒热) Lại lạnh nóng thay nhau xuất hiện, “Phục” (Lại) được sử dụng để giải thích chữ “phản”, nói rằng nhiệt kết tại lý, lại thấy một trận lạnh, một trận nóng, lạnh đến mà nóng đi, nóng đến mà lạnh đi, xuất hiện chứng trạng hàn nhiệt vãng lai của Thiếu dương bệnh. Ở đây có ý gì? Đây chính là nhiệt kết Dương minh, mà ở bên cạnh Thiếu dương, cũng có thể nói Thiếu dương và Dương minh hỗ tương nhau gây bệnh. Như vậy nhiệt vẫn chưa hoàn toàn luyện kết thành thực chứng, vì còn thấy Thiếu dương chứng (Hàn nhiệt vãng lai) nên không thể dùng thang Thừa khí. “Dữ Đại sài hồ thang” (với thang Đại sài hồ), như vậy sẽ dùng thang Đại sài hồ, thang Đại sài hồ tả thực chứng của kinh Dương minh, lại giải bệnh tà bán biểu bán lý của kinh Thiếu dương. Chúng ta đọc sách của người xưa cần phải suy lý, cân nhắc, đã là nhiệt kết tại lý, sẽ có phản ứng của nó, như tâm hạ cấp (bồn chồn nóng vội), đau bụng, nên liên tưởng để biết. Kinh dương minh có thực nhiệt, Đại sài hồ thang không còn tâm hạ cấp, cấp là gì? Là khó chịu, ý là trướng đầy và đau. “Vãng lai hàn nhiệt” chính là khí của Thiếu dương bất hoà, xu cơ bất lợi (công năng sinh lý vận hành bị trở ngại). Ý tại ngôn ngoại, ngoại trừ “Vãng lai hàn nhiệt” cũng cần có “hung hiếp khổ mãn”. Nếu có các chứng trạng như, đau ở dạ dày (tâm hạ ), ngực sườn bực bội, đau và khó chịu, như thế có giống như chứng Đại kết hung? Vì sao điều này lại được trình bày cùng với chứng kết hung? Vì nó có những điểm giống với chứng kết hung.
Làm sao để phân biệt? “Đãn kết hung, vô đại nhiệt giả” (但结胸,无大热者), chữ “đãn” (nhưng) này được dùng thật tuyệt, cách dùng chữ này làm cho vấn đề được rõ ràng minh bạch. Nếu là chứng kết hung, “đãn kết hung” thì không có vấn đề gì khác, chữ “đãn” ở đây có tính giới hạn. Như vậy, có hay không chứng trạng vãng lai hàn nhiệt? Không có chứng trạng này. Chứng kết hung có chứng trạng vãng lai hàn nhiệt không? Chính là không thể. Như vậy, bệnh kết hung có nóng sốt như Dương minh bệnh không? Cũng không có như vậy. Tại sao như thế? “Kết hung giả, thị nhiệt dữ thuỷ kết dã”(结胸者,是热与水结也) chứng kết hung là nhiệt kết với thủy, là trong thuỷ có nhiệt, chứng kết hung có phát sốt, điều này chúng ta cũng nhận thấy trên lâm sàng, nhưng chứng trạng phát sốt của chứng kết hung không giống chứng phát sốt “chưng chưng nhi nhiệt” (蒸蒸而热)nóng hầm hầm của Dương minh bệnh. Vì thế “đãn kết hung, vô đại nhiệt giả”(但结胸,无大热者) nhưng chứng kết hung không sốt cao, đây là điểm phân biệt của nó với bệnh ở kinh Dương minh và kinh Thiếu dương, đã không có chứng trạng “vãng lai hàn nhiệt”, không sốt như bệnh ở kinh Dương minh, nhưng chứng này cũng sốt đồng thời còn có chứng trạng tâm hạ cứng đầy và đau. Bệnh này chính là “Thử vi thuỷ kết tại hung hiếp dã”(此为水结在胸胁也) Là chứng thuỷ ngưng kết ở ngực và cạnh sườn và không giống với Đại sài hồ thang chứng, Đại sài hồ thang là nhiệt và khí ngưng kết, ở đây là “Thử vi thuỷ kết tại hung hiếp dã”(此为水结在胸胁也)Đây là thuỷ ngưng kết ở ngực và cạnh sườn, nhiệt và thuỷ ở tâm hạ (dạ dày) tiếp cận với lồng ngực và sườn, khiến ngực sườn cũng đau, tâm hạ đầy cứng và đau.
Đồng thời, “đãn đầu vi hãn xuất giả”(但头微汗出者) trên đầu xuất một chút mồ hôi. Vì thuỷ và nhiệt ngưng kết, nhiệt bị thuỷ ngăn chặn, nhiệt ở trong nước nên không thể vượt lên, vì thế toàn thân không xuất mồ hôi, chỉ ở trên đầu có mồ hôi nhưng rất ít, trên đầu có một chút mồ hôi là phản ảnh của nhiệt khí không thể vượt ra ngoài, cũng là phản ảnh của chứng thuỷ nhiệt kết hung. Tình huống này không xuất hiện ở dương minh bệnh và Thiếu dương bệnh, đây chính là hội chứng để phân biệt. “Đại hãm hung thang chủ chi”(大陷胸汤主之)thang Đại hãm hung trị bệnh này, ở đây không cần dùng thang Đại sài hồ, chứng trạng của thang Đại sài hồ là vãng lai hàn nhiệt, tâm hạ cấp (dạ dày khó chịu không thoải mái) ngực sườn phiền muộn, nhưng tâm hạ không cứng, chứng trạng của thang Đại sài hồ là vãng lai hàn nhiệt, hoặc là nhiệt của dương minh do thuỷ kết với nhiệt ở trong lý, còn thuỷ kết với nhiệt của chứng kết hung không có chứng trạng này, nên chỉ hữu dụng khi dùng Đại hãm hung thang để điều trị. Đoạn văn này trình bày những điểm tương tự của chứng kết hung và Đại sài hồ thang chứng, trên lâm sàng nên phân biệt, so sánh, căn cứ theo nhiệt hình, tính chất đau, án chẩn, phúc chẩn để so sánh độ cứng mềm của cơ bụng thì cũng không quá khó để phân biện, chứng kết hung đau tệ hại, đây chính là chứng kết hung tựa như Thiếu dương bệnh.
Điều C145 trình bày chứng kết hung tương tự như Dương minh bệnh. Bệnh này do Thái dương bệnh phát triển mà thành, chính là “trọng phát hãn”重发汗) cũng vậy, phát hãn quá độ cũng thế, lại sử dụng phép công hạ, phát hãn gây tổn thương tân dịch, công hạ khiến biểu tà nhập lý. “Bất đại tiện ngũ lục nhật, thiệt thượng táo nhi khát”( 不大便五六日,舌上燥而渴) là đã 5,6 ngày không đi đại tiện, đại tiện bí kết, “Thiệt thượng táo”(lưỡi khô). “táo” là không có tân dịch, “nhi khát” là cần uống nước, vì thiếu tân dịch, nên muốn uống nước, uống nước để tự cứu. Xem như vậy có nhiều điểm giống với bệnh ở kinh Dương minh.
“Nhật bô sở tiểu hữu triều nhiệt”(日晡所小有潮热), khoảng ba giờ chiều gọi là“nhật bô sở”(日晡所) là giờ thân (15-17 giờ), “Tiểu hữu triều nhiệt”, tiểu là bé, là ít, một cơn nóng nhẹ, gọi là “tiểu hữu triều nhiệt” (小有潮热)cơn bốc hoả nhỏ. Cơn bốc hoả của Dương minh bệnh rất kịch liệt, sốt rất cao, vì Dương minh là một phủ đa khí đa huyết (nhiều khí huyết), nên lực đấu tranh với bệnh của nó rất mạnh, thời gian sau giờ ngọ là thời điểm khí Dương minh vượng thịnh, thuận lợi trong việc đấu tranh với bệnh tà, nên nhiệt thế của nó lúc này không phải “tiểu hữu” (nhỏ bé) mà rất lớn mạnh. Hiện tại tuy có chứng trạng triều nhiệt giống như Dương minh bệnh, nhưng chứng triều nhiệt lại không “tiểu hữu” nhỏ bé như bệnh ở Dương minh, đây là cơn sốt, đại tiện, khát nước của nó. Sau đó cần phải khám dạ dày, cơ sở chẩn đoán và có vai trò quyết định là mấy câu sau. “Tòng tâm hạ chí thiểu phúc”(从心下至少腹) từ tâm hạ (phía dưới tim) xuống thẳng đến bụng dưới, đến phía trên xương mu, đều “ngạnh mãn nhi thống”( 硬满而痛)cứng đầy mà đau, “Ngạnh”(cứng) là sờ nắn thấy cứng, “mãn” (đầy) là đầy trướng, bệnh nhân cảm thấy đầy trướng và đau. “Bất khả cận giả”(不可近者) là không thể chạm vào, dạ dày đau tệ hại, bệnh nhân sợ đau, không muốn ai ở bên cạnh, sờ hoặc chạm vào mình, “bất hành! Ngã giá đông! li ngã viễn điểm nhi, bất yếu bàng ngã, đỗ tử đông a”(不行!我这疼!离我远点儿,不要碰我,肚子疼啊), không được, tôi đau, xa tôi ra, không cần ở gần tôi, bụng tôi đau. Cùng xem đây có phải là căn bệnh hiện đại gọi là kích thích phúc mạc và viêm phúc mạc không . Là chứng Dương Minh táo kết, hay chứng đại kết hung hội chứng thủy nhiệt kết tụ?
Bệnh này có hai vấn đề là “bất đại tiện” (không đi cầu) và “thiệt thượng táo nhi khát”(舌上燥而渴)là lưỡi khô và khát; Còn có “nhật bô sở”(日晡所)khoảng ba giờ chiều, có “triều nhiệt” (潮热)sốt sau trưa, có chứng trạng của dương minh bệnh, tại sao? Bệnh ở kinh Thái dương phát hãn quá nhiều, lại dùng phép tả hạ, vì thế bệnh tà nhập lý, vị tràng táo nhiệt lại có thuỷ ngưng tụ, tà nhiệt và thuỷ ngưng kết ở vùng bụng bên ngoài vị tràng, phạm vi của bệnh là toàn bộ vùng bụng, từ tâm hạ đến bụng dưới, có diện tích khá lớn, cứng đầy và đau, không muốn đụng chạm, phân tích như vậy cho thấy đây không phải là chứng đau bụng, chứng đau bĩ đầy của bệnh ở kinh Dương minh.
Tại sao? Vì bệnh ở kinh dương minh là do khí trong phủ không thuận lợi, phạm vi của bệnh không thể đầy trướng và đau từ tâm hạ (phía dưới tim) xuống đến bụng dưới được, phạm vi của bệnh không lớn như vậy. “Dương minh vị gia thực” (tà nhiệt bĩ ở dương minh), tràng táo, đau bụng vì phân khô, phạm vi đau chỉ ở vùng chung quanh rốn, không thể kéo dài từ phía dưới tim xuống đến bụng dưới. Đó là chứng kết hung, diện tích của chứng kết hung rộng lớn, nhiệt kết với thuỷ, toàn bộ vùng bụng, phúc mạc. Đó là điểm thứ nhất. Điểm thứ hai là, cơn sốt sau buổi trưa (triều nhiệt) của dương minh bệnh sốt rất cao, còn ở đây cơn sốt sau trưa là sốt nhẹ (Tiểu hữu triều nhiệt), cho thấy lực bệnh vẫn còn ở dạng thuỷ nhiệt, táo nhiệt, nhưng chỉ là thứ yếu. Dương minh có nhiệt không? Dương minh có nhiệt, lực của nhiệt và thuỷ ngưng kết của cái nào lớn cái nào nhỏ? Lực ngưng tụ (kết) của nhiệt và thuỷ ở đây rất lớn, vì thế đây chính là chứng kết hung mà có những điểm giống như Dương minh chứng.
Tào Dĩnh Phủ trong 《Kinh phương thực nghiệm lục》 có một y án liên quan đến chứng Đại kết hung. Chứng Đại kết hung, lúc đầu lão tiên sinh cho rằng đây là dương minh chứng, vì ở vị trí rất dễ lẫn lộn với dương minh, liền dùng một thang Đại thừa khí. Sau khi uống kết quả ra sao. Tốt hay không tốt? Bệnh nhân liền đi đại tiện. Đại hoàng, Mang tiểu, Hậu phác, Chỉ thực đều là tả dược, sau khi đi tả bệnh nhân cảm thấy thoải mái được một lát, nhưng không giải quyết được hết các vấn đề, bệnh nhân còn đau. Cho rằng thuốc còn ít chưa đủ nên cho uống thêm 1 thang, vì thang Đại thừa khí của Trương Trọng Cảnh có một câu, “Nhất hạ vị liễu, khả dĩ tái hạ nhất thứ” (一下未了,可以再下一次) là hạ một lần chưa khỏi bệnh, có thể tái hạ), sau khi uống thêm bệnh cũng không khỏi, sau đó lão tiên sinh nhận định lại bệnh, thấy đây chính là chứng kết hung mà tương tự như dương minh chứng, nên sử dụng thang Đại hãm hung, sau khi uống 1 thang Đại hãm hung bệnh liền có những biến chuyển tốt. Vì sao Đại thừa khí thang không giải quyết được? Vì sao Đại hãm hung thang lại giải quyết được bệnh? Vì thang Đại thừa khí có tác dụng tiết nhiệt nhưng chỉ giới hạn trong tràng vị (ruột và dạ dày), không thể tẩy rửa được nhiệt thuỷ kết tụ trong ngực và bụng, lực thuốc không mạnh.
Dùng thang Đại hãm hung hạ được thủy nhiệt kết tụ, vì có Đại hoàng, Mang tiêu, lại kèm tác dụng hạ táo (trừ khứ tình trạng khô khan) của Dương minh, có thể nhất cử lưỡng đắc. Điều C145 nói về chứng Đại kết hung, dựa vào đâu để gọi nó là “Đại kết hung” chính vì phạm vi bệnh biến của nó rộng, “tòng tâm hạ chí thiểu phúc ngạnh mãn nhi thống, bất khả cận giả”(从心下至少腹硬满而痛,不可近者) là đau trướng và cứng từ dưới tim xuống đến bụng dưới, không thể đụng chạm, đau tệ hại, diện tích lớn, đó chính là những đặc điểm của bệnh Đại kết hung. Lấy các trường hợp này của bệnh kết hung, bắt đầu từ Đại hãm hung hoàn đến kết hung tam chứng ở giữa (tâm hạ), việc này tương tự như điều C145 của Dương minh ở bụng, chứng kết hung này do đâu? Đây gọi là liên hệ, phát triển, bệnh đã đến bụng, vị trí bệnh có cao có thấp, ở trên, ở giữa và ở dưới, có sâu có nông, có nhẹ có nặng. Lâm sàng biện chứng kết hung thứ nhất là mạch trầm khẩn có lực, thứ hai là cứng đầy và đau, diện tích và tính chất đau nghiêm trọng, đồng thời cho thấy ở chứng kết hung đại tiện cũng bí kết (táo bón).