Từ điều 110 đến 115 (C116-C121)
110太阳病二日,反躁,反熨其背,而大汗出, 大热入胃,胃中水竭,躁烦,必发谵语,十余日, 振栗、自下利者,此为欲解也。故其汗,从腰已下 不得汗,欲小便不得,反呕,欲失溲,足下恶风, 大便硬,小便当数而反不数及不多,大便已,头卓然而痛,其人足心必热,谷气下流故也。C116
Điều 110
Thái dương bệnh nhị nhật, phản táo, phản uất kỳ bối, nhi đại hãn xuất, đại nhiệt nhập vị, vị trung thuỷ kiệt, táo phiền, tất phát thiềm ngữ, thập dư nhật, chấn lật, tự hạ lợi giả, thử vi dục giải dã. Cố kỳ hãn, tòng yêu dĩ hạ bất đắc hãn, dục tiểu tiện bất đắc, phản ẩu, dục thất sưu, túc hạ ố phong, đại tiện ngạnh, tiểu tiện đương sác nhi phản bất sác cập bất đa, đại tiện dĩ, đầu trác nhiên nhi thống, kỳ nhân túc tâm tất nhiệt, cốc khí hạ lưu cố dã. C116
12 điều tiếp theo có liên quan đến vấn đề hoả liệu, thời kỳ hậu Hán có các phép trị liệu bằng nước, bằng lửa (gọi là thuỷ liệu, hoả liệu), 12 điều này giảng về việc điều trị sai lầm bằng hoả liệu dẫn đến các biến chứng. Đầu tiên là chúng ta cùng tìm hiểu để nâng cao nhận thức, hiện nay không có phương pháp trị liệu nào như vậy(hoả liệu). chúng ta học tiết này để làm gì, và có nên học những tiết này không? Trương Trọng Cảnh sống ở thời kỳ hậu Hán, thời kỳ đó người ta thường sử dụng một số hoả liệu, hoả liệu có tác dụng xuất hãn, dùng để điều trị một số bệnh thương hàn, hiện nay chúng ta không có hoả liệu pháp. Hiện tại không còn sử dụng những phương pháp trị liệu này, như vậy có cần phải học những thứ này không? Người viết cho rằng việc học những điều này là cần thiết, không phải học để sửa sai và cứu cấp ngộ trị, mà học những điều này để nắm được những biến hoá bệnh lý trong đó. Hoả tà cũng là một nhân tố gây bệnh, là một loại nhiệt tà sau khi ảnh hưởng đến cơ thể sẽ xuất hiện các biến hoá bệnh lý như tổn thương âm, tổn thương dương, động huyết, những biến hoá bệnh lý này có ý nghĩa định hướng điều trị đối với một số bệnh.
Phần sau bắt đầu từ tiết C116, “Thái dương bệnh nhị nhật, phản táo, phản uất kỳ bối, nhi đại hãn xuất, đại nhiệt nhập vị, vị trung thuỷ kiệt, táo phiền, tất phát thiềm ngữ, thập dư nhật, chấn lật, tự hạ lợi giả, thử vi dục giải dã.” Là một đoạn. Phần dưới là bắt đầu một đoạn văn khác “Cố kỳ hãn, tòng yêu dĩ hạ bất đắc hãn, dục tiểu tiện bất đắc, phản ẩu, dục thất sưu, túc hạ ố phong, đại tiện ngạnh, tiểu tiện đương sác nhi phản bất sác cập bất đa, đại tiện dĩ, đầu trác nhiên nhi thống, kỳ nhân túc tâm tất nhiệt, cốc khí hạ lưu cố dã.”Đây là đoạn văn có nhiều ý tứ, trên lâm sàng rất có ý nghĩa chỉ đạo, đồng thời, nó cũng mở rộng tầm nhìn và mở rộng phạm vi suy nghĩ của chúng ta. “Thái dương bệnh nhị nhật, phản táo” Thái dương bệnh ngày thứ nhất, sang đến ngày thứ hai bệnh nhân phiền táo nóng nảy, diễn biến như vậy là không đúng, táo là phiền táo, thái dương bệnh tà ở biểu, tà ở ngoài biểu sao lại phiền táo? Chúng ta đã từng học về thương hàn “Thương hàn nhất nhật, thái dương thụ chi, mạch nhược tĩnh giả, vi bất truyền; Pha dục thổ, trứớc phiền táo, mạch sác cấp giả, vi truyền dã”( 伤寒一日,太阳受之,脉若静者,为不传;颇欲吐,著躁烦,脉数急 者,为传也) ngày thứ nhất thái dương bị bệnh, nếu mạch yên tĩnh là bệnh không truyền; Buồn nôn, táo phiền, mạch sác cấp là bệnh truyền biến. “Thương hàn nhị tam nhật, dương minh thiếu dương chứng bất kiến giả, vi bất truyền dã” (伤寒二三日,阳明少阳证不见者,为不传也)Thương hàn 2,3 ngày, không xuất hiện chứng trạng Dương minh Thiếu dương, là bệnh cũng không truyền, Những điều này chúng ta đã đọc qua, thái dương bệnh 2 ngày, lại nóng nảy vội vã“Thái dương bệnh nhị nhật, phản táo” (反躁), một là khi xuất hiện nóng nảy vội vã, chính là biểu hiện của dương nhiệt có thừa, tà khí đã xâm nhập vào trong, có khuynh hướng vào kinh dương minh. Trong tình huống này, “Phản uất kỳ bối nhi đại hãn xuất” (反熨其背而大汗出)chườm nóng lưng để xuất hãn, y sinh lúc này thường dùng hoả pháp, dùng phép chườm nóng ở lưng, thời xưa thường dùng viên ngói. Ngói đời nhà Hán rất đặc biệt, khi cho viên ngói vào lửa để nung cho nóng, rồi dùng khăn bao lại cẩn thận, sau đó áp vào da thịt bệnh nhân, ngói toả nhiệt rất chậm, như vậy sau lưng bệnh nhân thuộc dương, lại được chườm nóng, bệnh nhân liền xuất mồ hôi, đây gọi là chườm ngói hay nướng ngói. Chính là dùng một hoặc 2 viên ngói, điều này chúng ta cũng không biết, chỉ biết rằng bệnh nhân chườm ngói nóng xuất rất nhiều mồ hôi, không phải là xuất mồ hôi bình thường. Xuất mồ hôi sẽ tổn thương tân dịch, vì vậy chỉ cần “đại nhiệt nhập vị, vị trung thuỷ kiệt” (đại nhiệt nhập vào vị thì tân dịch trong vị sẽ khô kiệt), chính là bức bách hãn xuất, phần dưới gọi loại mồ hôi này là “kiếp hãn”(劫汗)mồ hôi bị đánh cắp, phương cách phát hãn loại này có tính chất cưỡng bức, bạn xuất hãn thì được xuất, không xuất hãn cũng phải xuất, không xuất không được. Xuất đại hãn một lần, trong vị ( dạ dày) sẽ khô ráo, phiền táo là bệnh có khuynh hướng về kinh dương minh, một lần như vậy càng làm cho đại nhiệt nhập vị, khi thuỷ trong vị đã suy kiệt, vì vậy sẽ phiền táo, “tất phát thiềm ngữ” (必发谵语)bực bội nói mê sảng. Đây chính là phương pháp điều trị sai lầm, tạo thành vấn đề táo nhiệt của dương minh vị. Trong tình huống như vậy “thập dư nhật”(hơn 10 ngày) kinh qua hơn 10 ngày, nếu như hoả nhiệt suy thoái dần, mà tân dịch trong dạ dày được cải thiện do ẩm thực trong hơn 10 ngày qua, âm khí và tân dịch từ đó được khôi phục. Như vậy, chính khí khu trừ bệnh tà ra ngoài, liền “chấn lật, tự lợi giả, thử vi dục giải dã”( 振 慄,自下利者,此为欲解也)Rét run, tiết tả, là bệnh muốn giải trừ. Cũng chính là chiến lật (rét run), chấn lật, chấn là rét run, toàn thân run rẩy, trong tim phát lãnh gọi là lật, sau đó đại tiện tự hạ lợi (tự tiết tả). Vì sao như vậy? Vì hoả tà không giải theo chiến hãn (là rét run và xuất hãn) mà giải theo chiến lật (là rét run, toàn thân run rẩy, lạnh từ trong ruột). Như vậy cũng giống như một con đường khu trừ bệnh tà ra ngoài. Đây là một tiết có tính khai mở tầm nhìn, bệnh có chiến hãn để giải trừ, cũng có thể thông qua đại tiện để bài xuất tà khí ra ngoài. Xú uế của tỳ gia thực đang tự trừ khứ, “Tuy bạo phiền hạ lợi nhật thập dư hành, tất tự chỉ, dĩ tỳ gia thực, xú uế đương khứ cố dã” (虽暴烦下利日十余行,必自止,以脾家实,腐秽当去故也)Tuy rất phiền vì tiết tả một ngày hơn 10 lần, tự cầm, là chứng tỳ gia thực trừ khứ xú uế . Cũng chính là ý này, là tà ở tràng vị theo đường hạ lợi (tiết tả) bài tiết ra ngoài. Cung cấp cho chúng ta thêm nhận biết, tà khí khi giải trừ, điều cần là xuất ra ngoài cơ thể, thậm chí là chứng bán biểu bán lý, giải theo mồ hôi, bằng chiến hãn (rét run mà xuất mồ hôi); Nếu như bệnh tà ở tràng vị, tân dịch trong vị khôi phục, nhiệt tà thoái khứ, bệnh nhân cũng sẽ run rẩy, tiết tả để giải bệnh tà ra ngoài. Đó là dấu hiệu tốt, khi hạ lợi là bệnh được giải trừ, “Thử vi dục giải dã” (此为欲解也)Là bệnh muốn giải trừ. Và như vậy không cần cho rằng khi hạ lợi phải uống thuốc gì để trị chứng hạ lợi tiết tả, thuốc gì để chữa bệnh ở vị, tất cả đều không cần thiết. Ý nghĩa này vẫn chưa kết thúc, vì vậy tôi sẽ bắt đầu một đoạn khác bên dưới. “Cố kỳ hãn tòng yêu dĩ hạ bất đắc hãn”(故其汗从腰以下不得汗)Từ eo xuống dưới không có mồ hôi, khi không có các động thái giải bệnh như chấn lật, xuất hãn, tự lợi, chỉ thấy thân trên xuất hãn, thân dưới không xuất hãn, cho nên “cố kỳ hãn tòng yêu dĩ hạ bất đắc hãn”. Tại sao vậy? Do hoả bức bách, thế lực của dương nhiệt thiên lên trên, chính khí, dương khí chân chính không thể xuống đến dưới, tạo thành một trạng thái ngăn cách. Vì thế hãn xuất ở bên trên, phần cổ và đầu cũng xuất hãn với lượng ít, khi dương khí không xuống dưới, cho nên “tòng yêu dĩ hạ tựu bất đắc hãn”, duy chỉ có từ eo trở xuống là không xuất hãn. Dương khí không xuống dưới, mà bị hoả tà tích tụ ở trên, dương khí nghịch lên, vì thế “phản ẩu” (lại ẩu thổ). Dương khí không xuống dưới, ở phần dưới sẽ xuất hiện “thất sấu” (失溲)đại tiểu tiện không tự chủ, thất sấu, bao gồm đại tiện và tiểu tiện, chúng ta hiện nay giải thích đại tiện, giải thích tiểu tiện đều chính là chứng sấu này; Thất sấu là không khống chế được đại tiểu tiện, hoặc là chân sợ gió, bàn chân sợ lạnh. Đây là nói về dương khí. Sau đó là nói đến tân dịch. Dương uất ở trên, tân dịch không thể xuống dưới, vì thế phân cứng, điều này không nói cũng biết, sẽ xuất hiện bực bội, nói mê sảng; Mà “tiểu tiện đương sác nhi phản bất sác cập bất đa” (小便当数而 反不数及不多)tiểu tiện đang nhiều lần lại ít đi tiểu và tiểu không nhiều, phân cứng chính là tân dịch không còn ở trong vị, khi nước tiểu rỉ ra, đi tiểu nhiều hơn, dạ dày và ruột nóng hơn. Bệnh dương minh là bệnh khô nóng, ép âm dịch ra ngoài và làm mất dịch trong cơ thể. Mất chất lỏng trong cơ thể, một trong số đó được gọi là thoát mạch (thấm ra ngoài), “Dương minh bệnh pháp đa hãn” (阳明病,法多汗). Là xuất hãn toàn thân, hoặc xuất hãn ở nách, càng nhiều hãn, tân dịch càng khô; Còn có cái gọi là thiên về thoát mạch, chính là tiểu tiện nhiều, tiểu tiện càng nhiều thì tân dịch không thể còn trong tràng vị, phân lại khô; Lại gọi là thấm xuống dưới, là đại tiện ra nước trong, là đi ngoài không ra phân, phân khô ở bên trong không ra được. Là một loạt dịch thể bài tiết ra ngoài. Nếu như lúc này “nhi phản bất sác cập bất đa” (而反不数及不多), tiểu tiện không nhiều lần, lượng nước tiểu cũng không nhiều, loại tình huống này cho thấy tân dịch có nhiều khả năng còn ở trong vị, điều hoà tình trạng khô táo của tràng vị, như vậy cũng có thể đi đại tiện. “Đại tiện dĩ” (大便已)đã đại tiện, có thể đi đại tiện trên một phương diện là tân dịch đã truyền xuống dưới, một phương diện khác là dương khí cũng đã truyền xuống dưới, tân dịch và dương khí chính là song hành không thể tách rời. Tân dịch xuống dưới, dương khí xuống dưới, vị khí cũng sẽ xuống, những điều này đều là thống nhất. “đại tiện dĩ, đầu trác nhiên nhi thống, kỳ nhân túc tâm tất nhiệt, cốc khí hạ lưu cố dã” (大便已,头卓然而痛,其人足心必热,谷气下流故也) đã đại tiện đột nhiên đau đầu, người này lòng bàn chân tất nóng, là cốc khí chảy xuống dưới, sau khi đại tiện, tân dịch dương khí truyền xuống dưới, dương khí cũng xuống dưới. Sau khi dương khí xuống dưới, có một vấn đề không thích ứng, trước đó dương khí uất ở trên, hiện tại dương khí đang hạ xuống, đầu là nơi tụ hội của dương, dương khí đi xuống, lúc này đầu “đột nhiên” tức là không bình thường, không thông thường, khá là rõ rệt, “đầu trác nhiên nhi thống” (头卓然而痛)đột nhiên đau đầu, đột nhiên đau đầu. Lúc này lòng bàn chân người bệnh nóng, chân không sợ gió, trước đó chân sợ gió sợ lạnh, hiện tại lòng bàn chân đã nóng, không tiểu tiện được, hoặc lại ẩu thổ, hoặc không đại tiểu tiện được (thất sấu), một loạt các vấn đề này đều có thể giải quyết. Tại sao? “Cốc khí hạ lưu cố dã” (谷气下流故也) Cốc khí của dương minh có thể chảy xuống dưới, không giống như trước đây, dương khí uất kết ở trên, cốc khí không thể chảy xuống. Nơi đây có nhiều điểm hiện tại có thể chỉ đạo lâm sàng. Người viết khám qua môt bệnh chăn cừu, anh ta là một người đàn ông to lớn, lúc đó thời tiết đã rất ấm áp, anh ta mặc áo khoác đệm bông và quần vải bông. Mọi người cảm thấy kỳ lạ, người này vóc dáng rất cao lớn, ngày nắng ấm thế này mà vẫn mặc áo bông? Anh ta kể lại tình trạng của mình, người anh luôn sợ lạnh và phải mặc quần áo đệm bông vào mùa hè. Thày thuốc khám và xác định là do hư yếu, hư yếu thì dùng bổ pháp, nhưng càng bổ thì cơ thể càng yếu, không thể dùng sức để làm việc, vì vậy sau này tôi để anh ta nghỉ ngơi, và một người lớn tuổi cho anh ta chăn thả một số cừu non. Nguyên là phương thang cho anh ta dùng đến 1 lạng phụ tử, đều không giải quyết được vấn đề, người viết thấy hai mắt anh ta linh hoạt có thần, sắc mặt đen, không phải dạng người hư nhược, mạch trầm mà huyền, hữu lực, nước tiểu vàng, đại tiện có điểm không thoải mái, rêu lưỡi màu vàng, hay bực bội và cáu giận. Căn cứ các điều vừa nêu có thể phán đoán đây là do dương uất ở trong, liền dùng thang Đại sài hồ. Sau khi uống hết 2 thang, trước mắt thấy đã cởi bỏ áo khoác, chỉ còn mặc quần bông. Mọi người hỏi tại sao lại cởi áo khoác, anh ta nói vì không còn lạnh nữa. Sau đó lại uống thêm 3 thang, thì cởi bỏ quần bông. Lúc này dương khí đã thông đạt. Vì vậy, hiện tượng dương khí bị tắc nghẽn từ bên trên và từ bên trong là điều thường gặp trên lâm sàng. Nếu chỉ căn cứ vào hiện tượng sợ lạnh mà dùng Phụ tử là không thoả đáng. Điều này mang lại cho chúng ta rất nhiều gợi ý về bệnh học.
111 太阳病中风,以火劫发汗,邪风被火热, 血气流溢,失其常度,两阳相熏灼,其身发黄。阳盛则欲衄,阴虚则小便,阴阳俱虚竭,身体则枯 燥。但头汗出,剂颈而还,腹满微喘,口干咽烂, 或不大便,久则谵语,甚者至哕,手足躁扰,捻衣摸床,小便利者,其人可治。C117
Điều 111
Thái dương bệnh trúng phong, dĩ hoả kiếp phát hãn, tà phong bị hoả nhiệt, huyết khí lưu dật, thất kỳ thường độ, lưỡng dương tương huân chước, kỳ thân phát hoàng, Dương thịnh tắc dục nục, âm hư tắc tiểu tiện nan, âm dương câu hư kiệt, thân thể tắc khô táo. Đãn đầu hãn xuất, tễ cảnh nhi hoàn, phúc mãn vi suyễn, khẩu can yết lan, hoặc bất đại tiện, cửu tắc thiềm ngữ, thậm giả chí uế, thủ túc táo nhiễu, niệp y mạc sàng, tiểu tiện lợi giả, kỳ nhân khả trị. C117
Điều này cũng trình bày về hoả bức bách xuất hãn, cấu thành một chứng hoả nghịch rất nặng, có liên quan đến vấn đề tiên lượng sự sống chết. Thái dương bệnh trúng phong, phong là dương tà, cần phải dùng thang Quế chi để giải cơ phát hãn, đây là phép trị liệu đúng. Thày thuốc dùng hoả để bức bách bệnh nhân xuất hãn (xuất mồ hôi), dùng các phương pháp hoả liệu bức bách phát hãn, loại phương pháp phát hãn này gọi là kiếp hãn pháp (phương pháp bức bách xuất hãn), ý tại ngôn ngoại, hãn xuất rất nhiều. Hậu quả là “tà phong bị hoả nhiệt” (邪风被火热), xuất hãn như vậy chính là không giải quyết được vấn đề của Thái dương trúng phong, phong tà lại gia thêm nhiệt của hoả,
“Bị” (被) là thêm vào. “Huyết khí lưu dật, thất kỳ thường độ” (血气流溢,失其常度) khiến khí và huyết của cơ thể tràn lan, khí huyết vận hành không bình thường, nên gọi là lưu dật (tràn lan), phong tà lại gia thêm hoả nhiệt, khiến khí huyết của cơ thể tràn lan, vận hành không bình thường, vì thế gọi là lưu dật “Thất kỳ thường độ” (失其常度) Mất độ bình thường của sinh lý.
Đây là nói về sau khi bị hoả bức bách, khí huyết thụ thương, khí huyết vận hành không bình thường. “Lưỡng dương tương huân chước, kỳ thân phát hoàng”, hai dương là phong dương và hoả dương, thiêu đốt nhau, thân thể sẽ phát sắc vàng. Tại sao lại xuất hiện sắc vàng, chúng ta chẳng phải đã học qua ôn bệnh? “Thái dương bệnh, phát nhiệt nhi khát, bất ố hàn giả, vi ôn bệnh. Nhược phát hãn dĩ, thân chước nhiệt giả, danh phong ôn”( Bệnh ở kinh Thái dương, phát sốt và khát, không sợ lạnh, là bệnh ôn. Nếu đã phát hãn, thân thể nóng rát, gọi là phong ôn), nếu gia thêm hoả tà, sẽ xuất hiện sắc vàng nhẹ, bệnh nặng sẽ lên cơn co giật như động kinh; Nếu dùng phép hun xông, “Nhất nghịch thượng khả dẫn nhật, tái nghịch súc mệnh kỳ” (一逆尚引日,再逆促命期) sai một lần vẫn có thể kéo dài thời gian, tái phạm sai lầm sẽ rút ngắn thời gian sống. Ý tưởng này và ý tưởng đó tương đồng với nhau, vì sốt cao lại gia thêm tà nhiệt hun xông, huyết tràn lan, huyết dịch bị phá hoại, vì thế nên thân thể phát ra sắc vàng. “Dương thịnh tắc dục nục, âm hư tiểu tiện nan” (阳盛则欲衄,阴虚小便难), dương thịnh là nói về bệnh tà, bên trong hoả nhiệt rất mạnh, dương tà gây tổn thương dương lạc, dương lạc bị tổn thương sẽ nục huyết, mũi sẽ xuất huyết. “Âm hư tiểu tiện nan”, âm là nói về chính khí, âm khí đã hư, tân dịch sẽ ít, vì thế tiểu tiện sẽ khó khăn. “Âm dương câu hư kiệt” (阴阳俱虚竭) âm dương cùng hư kiệt, đây cũng chính là nói về chính khí, dương và dương thịnh ở trên là khác nhau, dương đó là dương tà, đây chính là âm dương, là khí huyết.
Âm dương khí huyết đều đã hư kiệt rồi, không đầy đủ, khí huyết nuôi dưỡng thân thể da thịt không đủ, vì thế thân thể khô khan, khô khan chính là một trạng thái bệnh, da thịt khô khan, thậm chí cơ nhục cũng gầy còm. Tà dương nhiệt ở trên, tà dương nhiệt muốn theo hãn (mồ hôi) để giải bệnh. Nếu như theo hãn để giải bệnh tà, gọi là nhiệt vượt, hiện tại nhiệt khí mạnh, âm khí hư yếu, nhiệt việt (vượt) không ra ngoài, vì thế chính là “Đãn đầu hãn xuất, tễ cảnh nhi hoàn”. “Đãn” (但)là chỉ có ý chỉ cục bộ, chỉ xuất hãn ở đầu, trên đầu xuất hãn, hãn xuất giới hạn chỉ đến cổ là hết, phía dưới cổ không xuất hãn, tất cả đều khô ráo. Nhiệt tà không xuất ra ở trong cơ thể nội công nội phạt, ảnh hưởng đến trung tiêu, tổn thương đến âm của tỳ vị thì gây đầy bụng, ảnh hưởng đến phế thì gây suyễn nhẹ, ảnh hưởng thượng tiêu gây chứng miệng khô họng loét, ảnh hường đến tân dịch của đại tràng gây chứng táo bón. Táo bón lâu ngày, bệnh nhân sẽ nói năng hồ đồ, nói nhảm, “thậm giả chí uế” (甚者至哕), bệnh này khi tăng nặng thì nôn oẹ. Vị nhiệt không chỉ là nói nhảm, uế là nấc nhiều, vị âm đã hư, người này sẽ xuất hiện nấc nhiều. Bức hoả là chứng chúng ta chưa từng gặp, nó thuộc thời kỳ cuối của bệnh ôn nhiệt, tục ngữ gọi là uế thắc ôn, tiếng nấc có âm thanh lớn. Bệnh này khá nghiêm trọng. “Thủ túc táo nhiễu, niệp y mạc sàng”, bệnh nhân hỗn loạn, chân tay hỗn loạn bất an, lần áo sờ giường, chính là phản ảnh của bệnh tà dương nhiệt. Tứ chi là căn bản của chư dương, bệnh tà dương nhiệt quá mạnh, chân tay hỗn loạn bất an, mà xuất hiện động tác lần áo sờ giường, tinh thần có điểm hỗn loạn, như trong tiềm thức, như ngốc nghếch, lần áo sờ giường, se những sợi chỉ tưởng tượng. Đây không chỉ là vấn đề về thể chất mà còn là bất thường về tinh thần. Là phản ảnh của tà dương nhiệt quá mạnh, chính khí, cũng là âm phận quá yếu, bệnh này rất nguy hiểm. Vị là bể chứa thuỷ cốc, vị khí có dấu hiệu suy bại, tân dịch trong vị đã khô, nặng đến nỗi phát oẹ, chân tay hỗn loạn, vê áo sờ giường, hỗn loạn như vậy, tiên lượng tốt hay không, có nguy hiểm không, chữa được hay không, điều này phụ thuộc vào nguồn của nó, nguồn của Âm Dương, nguồn của dịch cơ thể. “Tiểu tiện lợi giả, kỳ nhân khả trị” Nếu như người này tiểu tiện còn thuận lợi, tiểu tiện không khó khăn, điều này cho thấy âm khí chưa kiệt, nguồn sinh hoá của dương khí còn tồn tại, như thế chính “kỳ nhân khả trị.” (其人可治)Bệnh nhân này có thể điều trị. Mặt khác, tiểu tiện không thông, nghĩa là bệnh nguy hiểm, tiên lượng xấu.
“Thương Hàn Luận” chủ yếu bàn về dương khí, hàn tà gây tổn thương dương khí, vì thế thang Tứ nghịch, thang Chân võ, thang Phụ tử, đến ba kinh âm để chủ yếu phù dương. Ôn bệnh gây tổn thương âm, đến thời kỳ cuối chính là để phù âm. Những điều này đều đúng, nhưng trong
“Thương Hàn Luận” cũng bàn về vấn đề vong âm (mất âm), lấy điều này làm thí dụ, đoạn văn thật sống động. Những nhà ôn bệnh học hậu thế nói về se chỉ tưởng tượng, lần áo sờ giường, những điều này đều có trong “Thương Hàn Luận” của Trương Trọng Cảnh. “Lưỡng dương tương huân chước, kỳ thân phát hoàng, dương thịnh tắc dục nục, âm hư tiểu tiện nan” (ảnh hưởng của hai dương nóng nhiệt nên thân thể có sắc vàng, dương thịnh thì nục huyết, âm hư thì tiểu tiện khó khăn), trước tiên có chứng trạng tiểu tiện khó khăn, “âm dương câu hư kiệt, thân thể tắc khô táo. Đãn đầu hãn xuất, tễ cảnh nhi hoàn”( 阴阳俱虚竭,身体则枯燥。但头汗出, 剂颈而还), âm dương đều bị hư kiệt, thân thể thì khô khan, nhưng trên đầu xuất hãn, chỉ xuất hãn đến ngang cổ, bên dưới “phúc mãn vi suyễn, khẩu can nhiết lan” (腹满微喘,口干咽烂)đầy bụng suyễn nhẹ, miệng khô họng loét, từng lớp từng lớp giải thích sự phát triển của tà khí, tác hại của tà khí đối với chính khí dịch thể, tác hại đối với khí huyết, cuối cùng tà nhiệt không thoát ra được, nhiệt không thoát ra được thì phân giải bằng xuất hãn, chỉ có đầu xuất hãn, toàn thân không xuất hãn, mồ hôi chỉ đến ngang cổ, sau đó là “phúc mãn vi suyễn, khẩu can yết lan, hoặc bất đại tiện, cửu tắc thiềm ngữ, thậm giả chí uế” (đầy bụng suyễn nhẹ, miệng khô họng loét, hoặc bí đại tiện, bệnh kéo dài bệnh nhân nói mê sảng, thậm chí nôn oẹ), từng lớp từng lớp ngũ tạng lục phủ, thuyết minh hoả nhiệt gây tổn thương âm, thương âm động huyết, miêu tả rất tinh tế. Khi chúng ta học tiết này, không nên có tư tưởng cố định bởi tà hoả, phàm là dương nhiệt gây tổn thương âm phận, cũng bao gồm cả bệnh tà ôn nhiệt, giống như vậy cũng có thể phát triển tình huống của bệnh lý này để phân tích. Trên phương diện âm bị tổn thương, có một số lão đại phu đề xuất quan niệm cho rằng trị thương hàn mà dùng lửa đốt thì đây chính là vấn đề; Nếu như ôn bệnh mà sử dụng nhầm thang Ma quế, cũng nghiêm trọng như chứng thương hàn dùng kiếp hoả để điều trị. Như vậy phải thật linh hoạt khi học “Thương Hàn Luận”.
112伤寒脉浮,医以火迫劫之,亡阳,必惊狂, 起卧不安者,桂枝去芍药加蜀漆牡蛎龙骨救逆汤主 之。C118
112 Thương hàn mạch phù, y dĩ hoả bách kiếp chi, vong dương, tất kinh cuồng, khởi ngoạ bất an giả, Quế chi khứ Thược dược gia Độc tất Mẫu lệ Long cốt cứu nghịch thang chủ chi. C118
Quế chi khứ Thược dĩ danh thang
Độc tất hoàn gia Long Mẫu tàng
Ngũ Mẫu tứ Long tam lạng Tất
Năng trị hoả kiếp bệnh kinh cuồng
Quế chi 3 lạng, bỏ vỏ Cam thảo 2 lạng, Sinh khương (gừng) nướng 3 lạng, thái mỏng Mẫu lệ 5 lạng, nướng Long cốt 4 lạng Đại táo 12 quả, bổ Độc tất 3 lạng, rửa cho hết mùi tanh
Tất cả tán nhỏ, dùng 1 đấu 2 thăng nước, trước tiên sắc vị Độc tất cạn bớt 2 thăng nước, cho tất cả thuốc còn lại vào, sắc còn 3 thăng, bỏ bã, uống thuốc lúc còn ấm 1 thăng.
Điều này bàn về chứng trạng và trị liệu bệnh thương hàn ngộ dụng (dùng nhầm) hoả kiếp dẫn đến chứng vong dương sợ hãi điên cuồng. Thương hàn mạch phù, đây là biểu chứng chưa giải trừ, nên dùng phép phát hãn, mà thày thuốc lại dùng hoả liệu phát hãn kịch liệt, dẫn đến vong dương. Vong dương đây chính là chỉ về tâm dương, không giống như thang Ma hoàng hãn xuất quá nhiều, hoặc sau khi tả hạ vong thận dương, ở đây là nói về tâm dương. Do phát hãn quá nhiều, hãn là dịch của tâm, cộng thêm hoả tà bức bách, dẫn đến vong tâm dương, vong giải thích là mất, khiến mất tâm dương. Tâm thuộc hoả, hoả của tâm có ý là chiếu sáng, tâm là thái dương trong dương, một là trái tim luôn phải hoạt động, tâm chủ về huyết mạch, bất động thì làm sao có thể hoạt động; Ngoài ra tâm chủ thần trí, thần chính là sự linh hoạt của tâm, cũng là phản ảnh của dương khí. Người xưa có hai thí dụ về thuỷ hoả, nói rằng hoả có thể hỗ trợ vật, cái gì gọi là trợ vật, tỉ như trong phòng tối, có một điểm hoả là có thể trợ vật, có thể chiếu sáng, hoả có ánh lửa, có ánh sáng, có thể chiếu sáng vạn vật; Thuỷ có thể giám (định) vật, chính là thuỷ có thể làm một dạng gương soi, thuỷ có thể xem xét giám định mọi vật. Tinh thần của con người, một là tinh, một là thần, tinh của thận và thần của tâm cần phải hợp tác, bên ngoài có thể hỗ trợ, bên trong có thể giám định xem xét, bên ngoài có thể chiếu sáng, vì thế nói rằng hoả là sáng bên ngoài, thuỷ là sáng bên trong. “Sở dĩ nhậm vật giả vị chi tâm” (所以任物者谓之心 Nhận thức và xử lý sự vật là trái tim. Mỗi ngày chúng xem rất nhiều tài liệu, đây đều là tác dụng của tâm thần, sau đó xếp thứ tự chúng từng cái từng cái, ghi nhớ nó, phản ảnh nó, điểm này đã có tác dụng của tâm, cũng có tác dụng của thận. Đây là nói về sinh lý của tim, sinh lý của thận. Người viết khi ở Đại liên gặp một bệnh nhân, khoảng trên 50 tuổi, thân thể to béo, một ngày kia ông ta đi đại tiện trong nhà vệ sinh, sau khi đại xong đứng dậy thị chóng mặt và bị ngã, sau đó người nhà biết và dìu ông ta về nhà. Đến nhà, dù là con cháu, vợ và người nhà đều không nhận ra ai. Người này như một người ngây ngô đần độn. Đây là bệnh gì? Chính là do tinh huyết của tâm thận đại suy. Sau đó sử dụng một số thuốc bổ tâm, bổ thận, bổ tâm chính là bổ thần, bổ thận chính là bổ tinh, hoả để trợ vật, thuỷ để kiến vật. Thời gian sau bệnh nhân tốt lên, có thể nhận ra người thân. Hiện tại, tâm dương đã mất, tâm sẽ không thể chủ thần, lại thêm hoả tà nhiễu loạn, vì thế “tất kinh cuồng” (必惊狂) sẽ sợ hãi điên khùng. Sợ hãi điên khùng là bệnh tinh thần, sợ hãi mà điên cuồng. Do tâm thần sợ hãi điên cuồng, thần khí không liễm, tinh thần bất an, vì thế “Khởi ngoạ bất an”, bản của Thành Vô Kỷ là Khởi ngoạ, các bản khác đều viết “ Ngoạ khởi”. Tìm trong văn hiến cổ đại thì đều ghi là “Ngoạ khởi bất an”( 卧起不安)Nằm, dậy gường không an, Chi tử thị thang chứng, Chi tử hậu phác thị thang chứng cũng ghi là ngoạ khởi bất an. Vì quá hoảng loạn mà hàng loạt vấn đề xuất hiện, không chỉ về tinh thần mà cả thể chất, liệu có thể ngủ ngon? Đương nhiên là không, điều này có thể suy ra. Sợ hãi mà lại cuồng loạn, nằm, dậy giường không yên, tứ chi hỗn loạn, không ngủ là vấn đề tồn tại. Điều trị bệnh này như thế nào? Bệnh này do hoả nghịch, nghịch là không thuận, trị liệu nên dùng Quế chi khứ Thược dược gia Độc tất Mẫu lệ Long cốt cứu nghịch thang, hậu thế gọi là thang Cứu nghịch.
Chứng vong dương khác với chứng vong thận dương của thiếu âm, vong thận dương cần dùng thang Tứ nghịch, dùng Phụ tử, Can khương, ở đây không thể dùng, vì vong dương ở đây là vong tâm dương, tâm dương vong, vì thế thần của tâm biến hoá, thần không yên, thần li khai thân thể, đồng thời xuất hiện những chứng trạng tinh thần. Ở đây có một số vấn đề tranh luận, khi phát hiện sợ hãi cuồng loạn, chính là biểu hiện của vong dương, đây là vấn đề cần thừa nhận, vong ở đây là vong tâm dương, điều này không cần tranh luận. Điều tranh luận là tại sao trong phương thang điều trị lại gia vị Độc tất. Thang Quế chi khứ Thược dược dễ giải thích, “Thái dương bệnh hạ chi hậu, mạch xúc hung mãn giả, Quế chi khứ Thược dược thang chủ chi” (太阳病下之后,脉促胸满者,桂枝去芍 药汤主之), thang Quế chi khứ thược dược lại chính là thang Quế chi Cam thảo, đây lại chính là phương thang dùng để bổ tâm dương, gia Khương, táo để điều hoà doanh vệ, chính là trị chứng hung mãn (chứng đầy ngực). Phương thang này cũng giống như vậy, vì tâm dương đã bị hư tổn, Dùng Quế chi Cam thảo bổ tâm dương, Khương Táo điều hoà doanh vệ, gia Long cốt Mẫu lệ để liễm thần. Đây là một phương diện. Tại sao lại gia thêm Độc tất? Vị Độc tất là vị thuốc có tác dụng trừ đàm, trừ ẩm, dược tính khá mạnh, dùng điều trị bệnh sốt rét, dược tính gần giống vị Thường sơn. Thường sơn và Độc tất đều có tác dụng trừ đàm, khứ thuỷ, khứ ẩm, trị chứng sốt rét, tại sao lại dùng Độc tất mà không dùng Thường sơn? Có nhà chú thích cho rằng là vì chứng hoả nghịch, chính là để tán hoả tà; Cũng có nhà chú thích nói rằng chính là mục đích trừ đàm lợi thuỷ. Không ngoài hai loại ý kiến này. Người viết cho rằng, phương thang này gia vị Độc tất là rất có đạo lý. Bệnh này, vong dương nên sợ hãi cuồng loạn, nằm ngồi không yên, trên thực tế có điểm giống chứng tâm thần phân liệt. Tâm dương hư tổn, chính khí của tâm không đầy đủ, trong ngực dễ sản sinh đàm ẩm. Hiện nay thường nói đến đàm mê tâm khiếu, trong tạp bệnh cũng có chứng đàm mê tâm khiếu, trong ôn bệnh cũng đề cập đến các vị thuốc phương hương khai khiếu để khai mở tâm khiếu. Tâm dương đã bị hư tổn, âm khí nắm quyền, như vậy sẽ sinh đàm ẩm, đàm ẩm này tất nhiên sẽ ảnh hưởng tâm thần, vì thế mà phát sinh kinh cuồng. Như vậy để thấy rằng, bệnh này thuộc chứng vong dương đồng thời xen lẫn đàm, vì thế thang Quế chi khứ Thược dược gia Độc tất Mẫu lệ Long cốt, một mặt bổ tâm thần, một mặt trấn tĩnh an thần, một phương diện chính là trừ đàm, sau khi trừ khứ được đàm ẩm, tâm thần không bị ảnh hưởng, bệnh sẽ có những biến chuyển tốt. Người viết có một phương thang dùng điều trị chứng tinh thần phân liệt, trong đó có vị Độc tất trụng nước sôi khoảng từ 4 đến 6gram, trong thang còn có các vị Đại hoàng, Hoàng liên, Viễn chí, Xương bồ. Phương dược này trị chứng tinh thần phân liệt kèm theo nhiệt tính, nhiệt đàm, hiệu quả rất tốt. Sau khi uống thuốc này có hai vấn đề cần chú ý, một vấn đề là nôn, một vấn đề là đi tả, có trường hợp là thượng thổ hạ tả, thổ ra đàm, đi tả ra chất dính như dạng hồ, một lúc sau mọi chuyện sẽ tốt. Phương này thu được hiệu quả tuyệt vời. Vị thuốc Độc tất trụng trong nước nóng, căn cứ theo tình huống của cơ thể bệnh nhân mà dùng từ 4 đến 6 gram, để có hiệu quả, sau khi uống thuốc tinh thần của bệnh nhân sảng khoái, có khi đêm không ngủ ngon, mất ngủ, nhiều khi đánh chửi người ta rồi vứt đồ đạc, uống thuốc xong thấy ổn định hơn.Vì vậy không nên cho rằng vị Độc tất chỉ có tác dụng tả hoả, mà còn là vị thuốc trừ đàm, dùng điều trị chứng đàm mê tâm khiếu, vì đàm mà tạo thành chứng sợ hãi cuồng loạn của tâm, vị thuốc này là một vị thuốc tốt. Căn cứ theo nhận xét của Trần Tu Viên, hai vị thuốc Long cốt và Mẫu lệ đều có tác dụng hoá thuỷ, cũng không phải hoàn toàn là thuốc thu liễm, là thuốc trấn kinh an thần, phải chú ý đến tác dụng hoá thuỷ của nó, tuy tác dụng hoá thuỷ lợi ẩm của nó không quá lý tưởng, nhưng cũng chính là điểm cần phải nói đến. Nếu dựa theo quan điểm của Trần Tu Viên, ba vị thuốc Long cốt, Mẫu lệ và Độc tất, Long cốt, Mẫu lệ không những trấn kinh an thần, tiềm tàng thu liễm thần khí, mà còn giúp Độc tất khứ đàm hoá thuỷ, ý kiến này thật là hoàn chỉnh. Do đó, thang Cứu nghịch chính là bổ tâm dương, là thang thuốc bổ hư tổn, ngoài ra thang dược còn có tác dụng trấn kinh an thần, trừ khứ đàm thuỷ, đây chính là chứng trong hư có xen lẫn thực. Phương thang này trước tiên sắc vị Độc tất giảm đi 2 thăng nước, nhất định phải sắc vị Độc tất trước, không được sắc chung tất cả các vị thuốc cùng lúc. Ở đây sử dụng Độc tất là 3 lạng, lượng sử dụng khá lớn, nhưng chính là, “sắc còn 3 thăng, uống lúc thuốc còn ấm 1 thăng”, vì thế 3 chỉ Độc tất mỗi lần uống 1 thăng thuốc , cũng là mỗi lần uống 1 chỉ Độc tất, theo cách sắc thuốc hiện nay, 1 thang thuốc sắc 2 lần, đầu tiên uống nước sắc lần thứ nhất, sắc lần thứ hai, lúc này lượng Độc tất khi sử dụng nên giảm đi một phần, cho nên người viết cho rằng lượng Độc tất sử dụng vào khoảng từ 1 tiền đến 1 tiền bán (khoảng từ 4 đến 6 gram). Khi dùng cần dùng nước nóng để trụng vị Độc tất (gọi là chần qua nước nóng).
113 形作伤寒,其脉不弦紧而弱。弱者必渴, 被火者必谵语。弱者发热、脉浮,解之当汗出。愈。 C119
113 Hình tác thương hàn, kỳ mạch bất huyền khẩn nhi nhược. Nhược giả tất khát, bị hoả giả tất chiêm ngữ. Nhược giả phát nhiệt, mạch phù, giải chi đương hãn xuất. Dũ. C119
Điều này giảng về ôn bệnh không thể dùng hoả kiếp hãn (dùng lửa bức bách xuất mồ hôi). “Hình tác thương hàn”, là biểu hiện của chứng trạng tựa như thương hàn, trên thực tế không phải là chứng thương hàn. Không phải là thương hàn mà lại giống thương hàn, đây là chứng gần giống thương hàn, trước đây chúng ta đã nói đến thương hàn theo nghĩa hẹp, hiện tại bệnh này giống chứng thương hàn, trên thực tế là không phải. Vậy là bệnh gì? Như ôn bệnh lúc sơ khởi, có phát sốt, đau đầu, thậm chí ớn lạnh nhẹ, những chứng trạng nêu trên rất giống thương hàn, nhưng không phải là chứng thương hàn, chính là bệnh ôn. “Kỳ mạch bất huyền khẩn nhi nhược” (其脉不弦紧而弱), thương hàn mạch chính là huyền khẩn, mạch của bệnh ôn tương đối là mạch nhược, không huyền khẩn mà mạch nhược, nhược chính là từ đối chiếu so sánh của huyền khẩn. Không phải là chứng thương hàn nên mạch không khẩn, Quế chi nhị gia Việt tì nhất thang không giống như là một tài liệu để tham khảo ư, phát sốt sợ lạnh, nóng nhiều lạnh ít, mạch vi nhược, là không có dương nên không thể phát hãn. “Nhược giả tất khát” (弱者必渴) mạch nhược tất khát nước, “Nhược giả phát nhiệt” (弱者发热), mạch nhược thì khát và phát sốt và đây chính là bệnh ôn. Bệnh ôn thì phải chiếu theo phép trị liệu của bệnh ôn, dùng thuốc ngọt lạnh hay cay mát (Cam hàn hay tân lương), cần phải chiếu cố âm khí. “Bị hoả giả tất chiêm ngữ” (被火者必谵语) thêm hoả (vào ôn bệnh) tất nói nhảm, Nếu như dùng một số phương pháp điều trị bằng lửa, không phù hợp với phương pháp điều trị bệnh ôn, nếu bệnh tà ôn nhiệt gia thêm hoả liệu (liệu pháp bằng lửa), hoả có thể hỗ trợ dương, đều là bức bách xuất hãn (kiếp hãn), đã tổn thương âm lại tổn hại dương, bệnh nhân tất sẽ nói mê sảng, vì thuỷ trong vị bị suy kiệt, vì thế nên nói nhảm. Vừa rồi có một đồng chí đặt câu hỏi, những phương pháp trị liệu bằng lửa rất lợi hại, chẳng lẽ lại không có bệnh nào được dùng lửa để trị bệnh sao? Hoả liệu là liệu pháp vật lý, những phương pháp như đốt kim, nung ngói, hơ bằng ngải diệp, những thứ này không phải không sử dụng. Chúng ta nói không sử dụng , chính là đối với thương hàn hoặc biểu tà ôn bệnh, không nên sử dụng các phương pháp phát hãn này. Đối với các chứng hàn lãnh, lưng đùi đau vì lạnh, hoặc đau bụng tiêu chảy vì lạnh, dùng lửa hơ nóng, chườm nóng đều là những điều có thể làm, không sai, vì thế cần phải phân biệt để xử lý.
114 太阳病,以火熏之,不得汗,其人必躁, 到经不解,必清血,名为火邪。C120
115 脉浮热甚,反灸之,此为实。实以虚治, 因火而动,必咽燥唾血。C121
114 Thái dương bệnh, dĩ hoả huân chi, bất đắc hãn, kỳ nhân tất táo, đáo kinh bất giải, tất thanh huyết, danh vi hoả tà. C120
115 Mạch phù nhiệt thậm, phản cứu chi, thử vi thực. Thực dĩ hư trị, nhân hoả nhi động, tất yết táo thoá huyết. C121
Hai điều này trình bày về hoả tà có thể động huyết, hai điều này chính là đối nhau, một điều trình bày nhiệt gây tổn thương âm lạc, một điều trình bày nhiệt gây tổn thương dương lạc. Nhiệt gây tổn thương âm lạc, thì cần thanh huyết, đại tiện ra máu; Nhiệt gây tổn thương dương lạc, “tất yết táo thoá huyết” (必咽燥唾血) tất họng khô ọc ra máu, máu ra từ trên. Vì thế hoả tà thương nhân động huyết, động huyết ở âm lạc và động huyết ở dương lạc khác nhau. “Thái dương bệnh, dĩ hoả huân chi” (太阳病,以火熏之), thái dương bệnh là biểu chứng, dĩ hoả huân chi (dùng lửa hun xông), chính là để phát hãn (xuất mồ hôi). Một lần hun xông có thể xuất hãn, ở đây lại có tình huống “bất đắc hãn”, không xuất hãn, uất nhiệt của dương không xuất ra, lại tăng thêm sức mạnh của dương nhiệt. Kiếp hoả có thể khiến người ta xuất hãn (mồ hôi), có thể khiến xuất rất nhiều hãn, không phải đã được nói rõ ở tiết trước? “Thái dương bệnh nhị nhật, phản táo, phản uất kỳ bối, nhi đại hãn xuất” (太阳病二日,反躁,反熨其背,而大汗出), vì thế hoả kiếp khiến cho xuất đại hãn (nhiều mồ hôi). Nhưng ở tiết này lại hoàn toàn tương phản, “dĩ hoả huân chi, bất đắc hãn” (以火熏之,不得汗)dùng lửa hun xông, không xuất mồ hôi, xuất đại hãn (rất nhiều mồ hôi) là một loại hình thức, không xuất mồ hôi lại là một loại tình huống. Không xuất mồ hôi, nhiệt tà không thể thoát ra, nóng của lửa hun xông, lại hỗ trợ sức mạnh của dương tà, dương uất không tuyên phát, vì thế “kỳ nhân tất táo” (其人必躁)làm cho bệnh nhân nóng vội, nóng vội bất an. “Đáo kinh bất giải” (到经不解) đến vòng kinh không giải, vì là Thái dương bệnh, Thái dương bệnh khi đã dùng hoả hun xông, lại không xuất mồ hôi, đã qua 7 ngày, gọi là bảy ngày hết một vòng, “Thái dương bệnh, đầu thống chí thất nhật dĩ thượng tự dũ giả, dĩ hành kỳ kinh tận cố dã”( 太阳病,头痛至七日已上自愈者,以行其经尽故也)Thái dương bệnh, chứng đau đầu sau bảy ngày là tự khỏi, là do bệnh đi hết một vòng kinh mạch , sau 7 ngày lại trở lại thái dương kinh, là bệnh tà đi hết một vòng kinh, chính khí hồi phục, tà khí thoái lui, bệnh đã được giải trừ, hiện tại đã đến ngày thứ 7, vì tà khí không thể đi hết kinh mạch, cho nên các chứng trạng phát sốt, đau đầu, bực bội bất an không hết. Nhiệt không có đường ra, hoả nhiệt gây bệnh, gây tổn thương âm lạc ở dưới, “tất thanh huyết” (必清血), thanh cũng cùng ý là thanh “圊” là nhà vệ sinh, chính là đi đại tiện. Đại tiện ra máu, chứng đại tiện ra máu này, theo ý của Trương Trọng Cảnh là thày thuốc không cần điều trị, nên biết rằng “danh vi hoả tà” (名为火邪), tên của bệnh này là hoả tà; Do hun xông, khiến dương nhiệt bế uất, mồ hôi không xuất được, dương nhiệt không tuyên tán mà đi vào trong công lý (công kích vào trong), gây tổn thương âm lạc ở dưới, nhiệt bức bách huyết, khiến đại tiện ra máu. Đại tiện ra máu cũng là một bệnh, nguyên nhân ở đây là do hoả gây ra, ý tại ngôn ngoại (ẩn ý), chúng ta xử lý vấn đề này còn cần trị hoả tà, và cần phân biệt với chứng đại tiện ra máu. Đây chính là hoả nhiệt đã gây tổn thương âm lạc. Điều C121, “Mạch phù nhiệt thậm, thử vi thực” (脉浮热甚,此为实), mạch phù, còn phát nhiệt nhiều, là biểu hiện của chứng biểu thực, vì không xuất mồ hôi, là biểu tà thực của kinh thái dương. Biểu tà chống cự, dương khí không tuyên phát, vì thế bệnh nhân phát sốt mạch phù, nếu như, “thực dĩ hư trị” (实以虚治) Dùng phép bổ hư để điều trị thực chứng, là chứng biểu thực, dương khí uất kết, còn dùng phương pháp trị dương hư để trị liệu, “nhi phản cứu chi”
(而反灸之). Bản của họ Triệu có chữ “Nhi” (而), Bản của họ Thành thì mkhoong có chữ này (nhi) Khi cứu dùng ngải trụ, ngải là thuốc thông dương, khi hãm hạ thì dùng phép cứu, khi dương khí hư dùng phép cứu, cứu có thể sinh dương, thông dương. Hơ nóng (cứu), “Nhân hoả nhi động” (因火而动), vì hoả của ngải cứu mà động huyết, “tất yết táo thoá huyết” (必咽燥唾血), tất nhiên sẽ phát sinh họng khô, khạc huyết, đây chính là biểu hiện của dương lạc bị tổn thương.
Chúng ta kết luận. “Hình tác thương hàn, kỳ mạch bất huyền khẩn nhi nhược”, (形作伤寒,其脉不弦紧而弱)sốt thương hàn, mạch không huyền khẩn mà nhược, đây chính là ôn bệnh tựa như thương hàn, không thể dùng lửa để điều trị. Như vậy, Ma hoàng Quế chi những vị thuốc ôn nhiệt này có thể dùng hay không? Cũng không thể dùng, dùng Ma hoàng, Quế chi điều trị chứng phát sốt mà khát nước cũng giống như ngộ hoả (dùng nhầm hoả pháp). Hai tiết dưới đây, một tiết không xuất hãn, tiết thứ hai cũng không đề cập đến phát hãn, trong hai tiết có một tiết nói về tổn thương âm lạc, một tiết nói về tổn thương dương lạc, trọng điểm là tại động huyết, động huyết do ngộ hoả.