Từ Điều 02 đến điều 06
02太阳病,发热,汗出,恶风,脉缓者,名为中风。C2
Điều 02 Nguyên văn : Thái dương bệnh, phát nhiệt, hãn xuất, ố phong, mạch hoãn giả, danh vi trúng phong. C2
Ở phần sau của tổng cương thái dương bệnh lại chia thành hai chứng, một là chứng Thái dương trúng phong, hai là chứng Thái dương thương hàn. Tổng cương là nói về cộng tính, trúng phong và thương hàn là nói về cá tính.
Trúng phong, miêu tả kế thừa câu 1, đã là “Thái dương bệnh”, mạch hoãn chính là mạch phù hoãn. Trúng phong chính là phong tà gây tổn thương cho Thái dương của biểu. Chữ “trúng” tương đương với chữ “thương” (tổn thương), và chữ “thương” của thương hàn cũng có ý tứ tương đồng. Bất quá, trúng phong nhẹ hơn một chút so với thương hàn. Phong là dương tà, sau khi gây tổn thương cho người có vị trí bệnh khá nông, chỉ ở vệ phận mà không vào tới doanh phận. Nguyên nhân là phong tà gây tổn thương cho khí của vệ dương, chính là dương tà gây tổn thương cho dương khí, là dương cùng với dương, vì thế hội chứng phát sốt khá rõ rệt.
Vệ và Doanh trên phương diện sinh lý chính là hỗ tương hiệp điều, hỗ tương chi viện. Vệ đi ngoài mạch, doanh đi trong mạch, vệ thuộc dương mà doanh thuộc âm, vệ ở bên ngoài mà kiên cố, doanh ở bên trong mà phòng thủ, cả hai có quan hệ hỗ tương chi viện. Phong tà khách ở vệ dương, tà khí của vệ sẽ mạnh mẽ, gọi là vệ cường. Nói từ góc độ chính khí, tà khí ở vệ mạnh mẽ, công năng bản thân bị ảnh hưởng, sẽ không có khả năng bảo hộ và củng cố nghiêm mật doanh âm. Nói theo góc độ tà khí, đặc điểm của phong tà là thiện hành số biến (phát bệnh nhanh, tính di động cao), có tác dụng khai tiết, bức bách khiến doanh âm không thể phòng thủ, vì vậy mà xuất mồ hôi. Phát sốt và xuất mồ hôi hai chứng trạng này chính là hỗ tương nối tiếp. Tà phong dương gây tổn thương cho khí của vệ dương, là dương gặp dương, vì thế phát sốt khá nhanh, không giống như thương hàn là hàn tà bế uất (đè nén) khí của vệ dương, bế uất đến một mức độ sẽ phát sốt (uất hoá hoả). Do phát sốt, tà khí của phong, dương tà khai tiết (mở, tiết ra), cộng thêm vệ khí không kiên cố, vì thế nên xuất mồ hôi. Căn cứ theo quan sát lâm sàng, trúng phong đổ mồ hôi không quá nhiều, giống như mồ hôi của chứng dương minh lý nhiệt, không thể so sánh với chứng nhiều mồ hôi (đại hãn), mồ hôi chỉ đến mức làm cho da bệnh nhân ẩm ướt. Làm một lâm sàng với thày thuốc, nếu gặp bệnh nhân cảm mạo phát sốt, nhất định tiến hành thiết chẩn, dùng tay mạc chẩn (sờ ) xem da bệnh nhân khô khan hay ẩm ướt. Nếu da bệnh nhân nóng và khô, đó là phát sốt không đổ mồ hôi; Nếu phát sốt mà da ẩm ướt có mồ hôi, là phát sốt và có mồ hôi. Phát sốt, có mồ hôi đều là đặc điểm của chứng trúng phong. Ố phong, chính là sợ gió, cũng bao gồm sợ lạnh.
Sợ gió của trúng phong nhẹ hơn so với sợ lạnh của thương hàn, chính là khi gặp gió thì sợ, nếu như mặc nhiều quần áo, đắp chăn mền, thể biểu được bảo hộ, thì cảm giác sợ gió có thể giảm. Thương hàn thì không như vậy, tức là khi sử dụng các biện pháp như vừa nêu (mặc nhiều quần áo, đắp chăn mền), thì cảm giác sợ gió, sợ lạnh vẫn không giảm. Vì sao lại sợ gió? Thứ nhất, bị tổn thương vì phong tà, trúng phong sẽ sợ phong, thương hàn sẽ sợ lạnh; Thứ hai, bị tổn thương do phong tà, phong tà ở biểu, vệ khí bất lợi nên sợ gió. Mạch hoãn, chính là mạch đập khá chậm, không khẩn trương và không có lực, khác với mạch khẩn của thương hàn. Vì sao lại xuất hiện mạch hoãn? Vì xuất mồ hôi, doanh âm tiết ra ngoài. Nhìn chung, mạch phù phản ảnh bệnh tại Thái dương biểu, mạch hoãn là phản ảnh của doanh vệ bất hoà, doanh âm tiết ra ngoài. Người đời sau gọi loại bệnh này là chứng trúng phong biểu hư. Căn cứ các chứng trạng: Phát sốt, xuất mồ hôi, sợ gió, mạch hoãn, là có thể chẩn đoán là chứng trúng phong của Thái dương bệnh, gọi tắt là Thái dương trúng phong. Nó có hay không có đau đầu? có, vì điều thứ nhất đã nói rồi. Quan sát lâm sàng cho thấy, Trương Trọng Cảnh rất khoa học trong việc sắp xếp hội chứng của các tiết. Phàm Thái dương bệnh trúng phong đều đầu tiên là phát sốt, khi phát sốt sẽ có mồ hôi, thân thể hơi ẩm ướt. Lúc này bệnh nhân có cảm giác nóng ẩm khó chịu, nên bỏ chăn mền, cởi bỏ bớt y phục, nhưng nếu gặp gió mát, lại xuất hiện cảm giác sợ gió.Vì có xuất mồ hôi, nên các y gia đời sau đem bệnh này giám định phân biệt với thương hàn, đem bệnh trúng phong gọi là chứng biểu hư của Thái dương bệnh. Hiện tại vẫn còn một số người suy nghĩ đơn giản, cho biểu hư chứng chính là Quế chi thang chứng, điều đó không đúng. Nó không đơn giản là biểu hư, không phải dùng Hoàng kỳ thực biểu cho tạp bệnh biểu hư, mà chính là do phong tà gây tổn thương, biểu hư chứng của Thái dương trúng phong xuất hãn, chú ý để không lẫn lộn khái niệm.
03太阳病,或已发热,或未发热,必恶寒,体痛,呕逆,脉阴阳俱紧者, 名曰伤 寒。C3
Điều 03 Thái dương bệnh, hoặc dĩ phát nhiệt hoặc vị phát nhiệt, tất ố hàn, thể thống, ẩu nghịch, mạch âm dương câu khẩn giả, danh viết Thương hàn. C3
Điều này nói về thương hàn của Thái dương bệnh. “Thái dương bệnh” còn là nối tiếp điều thứ nhất. Hoặc đã phát nhiệt, hoặc chưa phát nhiệt, chữ “hoặc” là từ chưa xác định; Tất ố hàn, chữ “tất” là định từ tất nhiên chắc chắn. Một từ là chưa định, một từ là đã xác định. “Thể thống”, chính là đau toàn thân; “Ẩu nghịch”, là ói khan nghiêm trọng, không phải là ẩu thổ. “Mạch âm dương câu khẩn”, âm dương đại biểu cho Thốn Quan Xích, Thốn là dương, Xích là âm, Quan sẽ khái quát ở trong, cũng chính là toàn thể bộ mạch bao quát Thốn Quan Xích đều phù mà khẩn.
Bệnh thương hàn này trên cơ sở Thái dương bệnh đề cương chứng lại xuất hiện chứng trạng sợ lạnh nhiều, vì thế đề pháp không giống nhau. Thái dương bệnh trúng phong lấy phát nhiệt để ở trước mặt, mà thương hàn chính là “Tất ố hàn”, tất nhiên là sợ lạnh, lấy sợ lạnh để lên vị trí số 1. Đến như phát nhiệt, thương hàn đương nhiên cũng có phát nhiệt, nhưng hoặc đã phát nhiệt hoặc chưa phát nhiệt, chính là có hàm ý bất định.
Tại sao nhất thiết phải sợ lạnh? Vì hàn tà thuộc âm, rất tổn thương dương khí, khí của Vệ dương bị tổn thương, phần bảo vệ bên ngoài mất tác dụng bảo hộ, vì thế chứng trạng sợ lạnh trở nên rất rõ rệt, trong sợ gió của trúng phong cũng bao gồm sợ lạnh, nhưng mức độ tương đối nhẹ, có thể hoãn giải, mà sợ lạnh của thương hàn thì không thể hoãn giải, tức là làm cho nhiệt độ trong phòng ấm áp, đắp chăn mền dày, mặc nhiều y phục, vẫn sợ lạnh như cũ. So sánh, vị trí bệnh của Thái dương thương hàn sâu hơn so với trúng phong, phong tà của Thái dương trúng phong chỉ gây tổn thương ở Vệ phận, phát triển ảnh hưởng đến doanh khí, dẫn đến doanh vệ bất hoà; Hàn tà của Thái dương thương hàn không chỉ gây tổn thương ở vệ phận, mà còn tổn thương đến doanh phận, nặng hơn so với Thái dương trúng phong, vì thế cảm giác sợ lạnh cũng nặng.
Vì nguyên nhân là Thái dương thương hàn gây tổn thương cho cả Doanh và Vệ, cộng thêm hàn tính thu dẫn (thu liễm, khẩn bế), có khả năng khiến doanh vệ khí huyết ngưng trệ, cho nên thân thể bị đau, và chứng trạng đau khá rõ rệt.
Mạch âm dương đều khẩn, mạch thương hàn là mạch phù khẩn, phù chủ mạch của Thái dương. Khẩn chủ 3 loại bệnh, một là chủ hàn, thương hàn ứng với mạch này thấy mạch khẩn; Hai là chủ về đau đớn, thương hàn toàn thân đau đớn, bên dưới còn một điều, đau đầu, đau thân thể, đau eo lưng, đau xương khớp, càng chủ yếu là chứng đau, ứng với mạch khẩn; Ba là chủ thực, tà khí mạnh thuộc thực, thương hàn phù hợp với đặc điểm này, nên thấy mạch khẩn. Âm dương, chỉ mạch Thốn, mạch Xích, mạch Quan cũng tóm tắt ở trong đó. Mạch âm dương đều khẩn, mạch Thốn, Quan, Xích đều phải thấy mạch phù khẩn, thiếu một là không thể.
Vì thương hàn là chứng biểu thực, mạch của chúng có phản ứng là Phù Khẩn, điều này phù hợp với tình trạng của chứng biểu thực. Nếu như mạch Xích không khẩn, hoặc là mạch trì, hoặc là mạch nhược, hoặc là mạch vi, vì mạch xích là hậu của lý (để đón xem bên trong), những mạch này đều phản ảnh tình trạng lý hư, có khả năng chính là doanh khí, khí huyết hoặc thận khí hư suy. Tuy nhiên nếu là thương hàn, như quả xích mạch không nổi lên, không thấy Phù Khẩn, thì chính là thương hàn hiệp với hư chứng, như vậy không thể dùng thang Ma hoàng. Những vấn đề liên quan, sẽ giới thiệu ở những điều văn ở phần dưới. Chỉ khi nào xuất hiện mạch của chứng biểu thực điển hình, thì mới có thể dùng thang Ma hoàng để phát hãn.
Cổ nhân rất coi trọng việc thiết mạch. “Thương Hàn Luận” giảng “Bình mạch biện chứng”, khi biện chứng đối với mạch cần có những chứng cứ “ Án thốn tất cập xích, ác thủ tất cập túc” Án mạch thốn tất phải án đến mạch xích, cầm tay tất phải cầm đến chân, ngón tay án đến mạch thốn, tất phải so sánh với mạch xích; Xem mạch ở tay còn cần phải xem mạch Điệt dương, mạch Thái xung (hai mạch ở chân)
Hai điều trên, một là chứng Thái dương trúng phong, một là chứng Thái dương thương hàn, ở phần dưới của tổng cương lại phân thành hai loại. Hai điều này cần liên hệ tại một chỗ để trải nghiệm. Thứ nhất, Thái dương trúng phong với phát nhiệt là chủ yếu, Thái dương thương hàn với sợ lạnh là chủ; Thái dương thương hàn chính là “Tất ố hàn” (必恶寒) tất nhiên là ghét lạnh, trúng phong chính là phát nhiệt trước tiên; Cảm giác sợ lạnh của Thái dương thương hàn nặng hơn so với sợ gió của Thái dương trúng phong, cảm giác này không thể hoãn giải. Thứ hai, Thái dương trúng phong có xuất mồ hôi, đồng thời với phát nhiệt là xuất mồ hôi, da ẩm ướt; Thái dương thương hàn cũng phát nhiệt, bất quá chính là nóng rát mà không có mồ hôi, da khô. Thứ ba, Thái dương trúng phong mạch phù mà trì hoãn; Thái dương thương hàn mạch phù khẩn, mà mạch thốn, mạch Xích và mạch Quan đều phù khẩn, khẩn chủ hàn, chủ đau, chủ thực.
Thông qua so sánh hội chứng, chúng ta có thể đưa ra các kết luận sau: Nói theo tính chất của tà khí, hàn tà thuộc âm, phong tà thuộc dương. Nhưng, không chỉ cần nhấn mạnh sự khác biệt của nguyên nhân bên ngoài, mà còn cần phải kết hợp với thể chất, thể chất của con người có hư và thực khác biệt, khi bị ngoại tà gây tổn thương cũng phân thành mạnh hay yếu, suy yếu sẽ dễ bị trúng phong, tức là nói đến chứng biểu hư; Mạnh mẽ sẽ dễ bị thương hàn, tức là chứng biểu thực. Điểm phân biệt then chốt của hai trường hợp nêu trên là có mồ hôi và không có mồ hôi, có mồ hôi là trúng phong, không có mồ hôi là thương hàn. Tuy còn có điểm phân biệt khác, nhưng tối quan trọng chủ yếu vẫn là có mồ hôi, không có mồ hôi. Trúng phong và thương hàn, một là chứng biểu hư, một là chứng biểu thực. Chỉ khi nắm vững và phân rõ chúng, khi tiến hành trị liệu sẽ tránh được những sai lầm đáng tiếc. Nếu như Thái dương bệnh trúng phong được chẩn đoán và trị liệu như Thái dương bệnh thương hàn, bệnh này căn bản đã xuất mồ hôi, bây giờ sử dụng thang Ma hoàng có tác dụng phát hãn mãnh liệt, sẽ dễ dàng xuất hãn vong dương; Nếu như thang Ma hoàng dùng nhầm thang Quế chi, chứng này căn bản không có mồ hôi, trong thang Quế chi có Táo và Thược là những vị thuốc dưỡng doanh phận, sẽ tạo ra chứng bế uất nặng hơn, có khả năng diễn biến thành Đại thanh long thang chứng là không xuất mồ hôi mà phiền táo.
04 伤寒一日,太阳受之,脉若静者为不传;颇欲吐,若燥烦,脉数急者,为传 也。C4
Điều 4 Thương hàn nhất nhật, Thái dương thụ chi, mạch nhược tĩnh giả vi bất truyền, pha dục thổ, nhược táo phiền, mạch sác cấp vi truyền dã. C4
05 伤寒二三日,阳明少阳证不见者,为不传也。C5
Điều 5 Thương hàn nhị tam nhật, Dương minh Thiếu dương chứng bất kiến giả vi bất truyền dã.
C5
Phần dưới giới thiệu biện chứng truyền kinh và không tuyền kinh. Tà khí sau khi khách biểu không ngừng lại, nó sẽ biến hoá. Kết quả của đấu tranh giữa chính và tà, có khi tà khí truyền, có khi tà khí không truyền. Như thế nào để biết bệnh có truyền kinh hay không? Đây là một chẩn đoán rất quan trọng trên lâm sàng, có thể giúp thày thuốc nắm quyền chủ động, càng nhiều khả năng tích cực nghĩ ra biện pháp để tiến hành trị liệu.
Thương hàn 1 ngày, thương hàn là bao gồm trúng phong, là nói thương hàn biểu bệnh; “Một ngày” “ chính là giai đoạn bắt đầu, phong hàn tà từ bên ngoài bắt đầu xâm phạm thể biểu, lúc này đường kinh nào chịu áp lực? Là kinh Thái dương thụ tà.
Sau khi Thái dương thụ bệnh, tà ở Thái dương kinh, tà còn đến Dương minh, Thiếu dương, hoặc phát triển đến kinh khác? Đây là vấn đề cần biết. Nếu mạch tĩnh là không truyền, mạch sác cấp là bệnh truyền, mạch nhược tĩnh và mạch sác cấp chính là đối chiếu từ câu. Mạch nhược tĩnh là mạch không sác cấp. Đây chính là phương pháp hàng đầu để phán đoán bệnh truyền hay bệnh không truyền—–Bình mạch biện chứng.
“Pha dục thổ, nhược táo phiền”( 颇欲吐,若燥烦)Rất muốn nôn, như khô khan phiền muộn, như muốn ẩu thổ, hoặc giả xuất hiện phiền táo (Xem chú giải Thương Hàn Luận tác “Táo”)
Chính là dấu hiệu của truyền bệnh. Chữ “dục” (欲) là muốn và chữ “nhược” (若) là nếu, chính là xem xét tương lai (tương nhiên), không giống với ý tứ của“Mạch sác cấp giả, vi truyền dã”, chính là tương lai cần xuất hiện một vài hội chứng. “Táo phiền” là phản ảnh của dương nhiệt. Phong hàn tà tại biểu nhập lý hoá nhiệt, sẽ xuất hiện phiền táo,. Căn cứ lục kinh phân chứng để xét, “táo phiền” (燥烦) là rất phiền, luôn luôn phản ảnh nhiệt ở kinh dương minh. “Pha dục thổ”(rất muốn ẩu thổ), chính là có ý muốn thổ, thổ nhiều, luôn luôn thấy chứng trạng này ở Thiếu dương chứng. Nói tóm lại, “táo phiền” cũng được, “pha dục thổ”(rất muốn ẩu thổ) cũng được, bất luận tương lai phát hiện hội chứng nào, thì đều chứng tỏ tà khí đã ly khai Thái dương, không vào Thiếu dương thì cũng đến Dương minh, bệnh đã truyền vào trong. “Mạch sác cấp giả, vi truyền dã” (Mạch sác cấp là bệnh truyền), “Mạch sác cấp” là mạch dĩ nhiên, chính là mạch sác cấp đã xuất hiện rồi. Mạch phù biến thành mạch sác cấp, cho thấy phong hàn tà hoá nhiệt, đã truyền biến vào trong, cho nên nói “Vi truyền dã” (为传也). Xét từ điều này, biểu hiện của bệnh truyền kinh chủ yếu là biến hoá của mạch và các chứng trạng theo sau. “Mạch nhược tĩnh, vi bất truyền” (脉若静者,为不传) Nếu mạch tĩnh là không truyền, đây là một loại khả năng, luôn luôn là điều tốt. Một loại khả năng là Thái dương bệnh tuy không truyền vào trong nhưng vẫn tồn tại như cũ; Ngoài ra còn một loại khả năng khác là bệnh tà đã suy yếu, không đủ sức truyền, có thể giải trừ, có cơ hội khỏi bệnh.
Phần tiếp theo “Thương hàn một ngày”( 伤寒一日) nói về thời gian bắt đầu của bệnh thương hàn chính là “Thái dương thụ chi”( 太阳受之)Thái dương bị bệnh, nếu như trải qua “Thương hàn nhị tam nhật”(thương hàn 2,3 ngày) mà không xuất hiện dương minh chứng và Thiếu dương chứng là bệnh không truyền. “Thương hàn nhị tam nhật” ở đây chỉ lấy làm thí dụ, không giới hạn trong 2,3 ngày. Dương minh chứng là gì? Thiếu dương chứng là gì? Điều này cần phải liên hệ với “pha dục thổ”(rất muốn ẩu thổ), “nhược táo phiền”(Khô khan phiền muộn) ở câu trước để lý giải. Thiếu dương chứng chính là “Pha dục thổ” Dương minh chứng chính là “táo phiền”. Đối với việc chẩn đoán bệnh có truyền kinh hay không, đều chủ yếu dựa theo biện chứng nêu trên, có tính hợp lý và khoa học. Không nên máy móc cho là bệnh một ngày là bệnh tà ở Thái dương, Cự dương, hai ngày là Dương minh, ba ngày là Thiếu dương. Nếu như đã xuất hiện chứng trạng truyền kinh, mạch tượng truyền kinh, thì đó chính là bệnh đã truyền kinh; Nếu như “Mạch nhược tĩnh giả”(Nếu mạch yên tĩnh), cũng không thấy(Táo phiền) của Dương minh bệnh, không thấy “pha dục thổ” (rất muốn ẩu thổ) của Thiếu dương bệnh, thì dù bệnh đã trải qua nhiều hay ít ngày, vẫn là bệnh không truyền.
Sau khi thể biểu bị bệnh tà xâm phạm, trúng phong cũng được, thương hàn cũng được, thế bệnh phát triển, tình huống chính tà đấu tranh, có thể thông qua bệnh truyền kinh, hay không truyền kinh thể hiện ra. Tại sao bệnh không truyền kinh? Vì chính khí đề kháng bệnh tà có lực, nên tà khí không thể truyền biến. Tại sao lại xuất hiện bệnh truyền kinh? Vì chính khí kháng bệnh tà vô lực, tà nhiệt khá mạnh.
06太阳病,发热而渴,不恶寒者,为温病。C6
Điều 6: Thái dương bệnh, phát nhiệt nhi khát, bất ố hàn giả, vi ôn bệnh.
Sau đây sẽ trình bày về hai loại chứng, một là ôn bệnh, một là phong ôn. “Thương Hàn Luận” chính là thảo luận nghĩa hẹp của thương hàn, chủ yếu giảng về ngoại cảm phong hàn. Ở đây đề xuất phong ôn và ôn bệnh, để làm một loại Thái dương bệnh, có ý nghĩa chẩn đoán phân biệt rất quan trọng.
Điều thứ 6 trình bày về ôn bệnh. Ôn bệnh và ngoại cảm phong hàn của Thái dương không giống nhau, trúng phong cũng được, thương hàn cũng được, những Thái dương biểu bệnh này đều không khát nước, nếu như đến mức độ khát nước, nhất định là bệnh đã truyền đến kinh Dương minh, hoặc giả chính là đã truyền đến kinh Thiếu dương. Cũng có thể nói, chỉ khi nào tà khí nhập lý hoá nhiệt mà xuất hiện truyền biến, thì sẽ xuất hiện chứng trạng khát nước.
Ôn bệnh không như vậy. Ôn bệnh do một loại tà ôn nhiệt gây ra, ở giai đoạn bắt đầu của “Thái dương bệnh” , cũng có thể gọi đây là giai đoạn vệ phận, sẽ xuất hiện một số chứng trạng nhiệt tà gây tổn thương âm, tổn thương tân dịch, chính là đặc điểm của nó. Ngoài ra, vì nó là tà ôn nhiệt (ấm nóng), không phải là tà phong hàn, vì thế không sợ lạnh. Căn cứ theo quan sát trên lâm sàng, ôn bệnh trong thời kỳ đầu cũng có sợ lạnh nhẹ, nhưng thời gian sợ lạnh rất ngắn, chứng trạng cũng rất nhẹ.
Nhận thức của Trung y đối với ôn bệnh có các phương diện sau:
Thứ nhất, “Đông thương vu hàn, xuân tất bệnh ôn” (冬伤于寒,春必病溫), ôn bệnh chính là do phục tà gây ra. Cũng có thể nói, tuy mùa đông cảm thụ hàn tà, nhưng bệnh không phát tác, mà lại tiềm phục bên trong, khi dương khí của mùa xuân dẫn ở ngoài, hoặc một nguyên nhân bên ngoài dụ phát, dương khí của cơ thể sẽ hoá nhiệt, xuất hiện một số hiện tượng ôn nhiệt.
Thứ hai, “Đông bất tàng tinh, xuân tất bệnh ôn” (冬不藏精,春必病溫), chính là âm tinh trong cơ thể không đủ, tất nhiên sẽ dẫn đến dương nhiệt có thừa, cảm thụ tà khí rồi sẽ hoá nhiệt, xuất hiện một số hiện tượng ôn nhiệt.
Thứ ba, “Tiên hạ chí nhật vi bệnh ôn, hậu hạ chí nhất vi bệnh thử” (先夏 至日为病温,后夏至日为病暑)Trước ngày hạ chí là bệnh ôn, sau ngày hạ chí là bệnh thử. Bệnh hoá nhiệt trước ngày hạ chí gọi là ôn bệnh, bệnh hoá nhiệt sau ngày hạ chí gọi là thử bệnh (bệnh nắng). Đến đời nhà Thanh, nhận thức về ôn bệnh càng tiến bộ hơn, cho rằng ôn bệnh chính là “Ôn tà thượng thụ, thủ tiên phạm phế” (温邪上 受,首先犯肺) ôn tà phạm ở trên, đầu tiên xâm phạm phế, chính là gây tổn hại cho Thủ Thái âm phế kinh, gọi là Thái âm ôn bệnh. Nhiệt tà tất gây tổn thương âm, chủi yếu là với kinh Thái âm.
Tóm lại, tuy thuyết pháp khác biệt, nhưng nhận thức thì nhất chí (giống nhau), ôn bệnh gây tổn thương nhiều nhất cho âm khí và tân dịch của cơ thể. Đây chính là quan điểm củaTrương Trọng Cảnh. Vì ôn tà háo thương tân dịch, hoá nhiệt cực nhanh, vì thế xuất hiện “phát nhiệt nhi khát”( 发热而渴)phát sốt mà khát. Vì nhiệt thế khá mạnh, vì thế sợ lạnh nhẹ, thậm chí không sợ lạnh. Để ôn bệnh lẫn lộn với thương hàn, luôn luôn tạo thành điều trị nhầm đối với ôn bệnh, thí dụ như dùng Ma hoàng, Quế chi trị liệu ôn bệnh phát sinh ngộ trị (điều trị nhầm) được ghi lại rất nhiều. Ôn bệnh chính là bệnh ôn nhiệt gây tôn thương âm, dùng Ma hoàng, Quế chi là hai vị thuốc tân ôn (cay ấm) không những không trị được ôn tà, còn trợ nhiệt gây tổn hại âm khí, hậu hoạn vô cùng.
Trong xã hội cũ, khoảng tháng tư, tôi thấy một bệnh nhân bị bệnh ở Đại Liên, trước đó có một y sinh cho anh ta uống thang Cửu vị khương hoạt, sau khi uống thuốc, mặt đầy mồ hôi, đau đầu như muốn vỡ ra, sốt cao không hạ, nói năng hồ đồ. Hiển nhiên là ngộ trị. Vì thế, ôn nhiệt tổn thương âm và phong hàn tổn thương dương tuyệt nhiên là khác nhau. Trương Trọng Cảnh sau khi luận phong hàn yêu cầu đề xuất ôn bệnh và phong ôn, chính là vì những loại bệnh này có vẻ bề ngoài giống Thái dương bệnh, những chứng gần giống Thái dương bệnh, cũng có khả năng có đau đầu, phát nhiệt, thời điểm bắt đầu phát bệnh cũng có khả năng sợ lạnh nhẹ, nhưng chính là do ôn tà gây ra, sẽ xuất hiện một số chứng trạng tổn thương âm như khát nước, vì thế ngàn vạn lần không nên lẫn lộn.