Điều 94 đến điều 97 (C98-C102)
94太阳病未解,脉阴阳俱停,必先振慄,汗出而解。但阳脉微者,先汗出而解;但阴脉微者,下之而解。若欲下之,宜调胃承气汤主之。C98
Điều 94
Thái dương bệnh vị giải, mạch âm dương câu đình, tất tiên chấn lật, hãn xuất nhi giải. Đãn dương mạch vi giả, tiên hãn xuất nhi giải; Đãn âm mạch vi giả, hạ chi nhi giải. Nhược dục hạ chi, nghi Điều vị thừa khí thang chủ chi. C98
Dịch: Bệnh ở Thái dương chưa khỏi, mạch âm dương đều ngừng, đầu tiên bệnh nhân rét run, xuất mồ hôi và khỏi bệnh. Nếu dương mạch vi (nhỏ yếu), xuất mồ hôi thì khỏi bệnh, nhưng nếu âm mạch vi thì công hạ để giải bệnh. Nếu muốn công hạ, nên dùng thang Điều vị thừa khí.
Đoạn văn trình bày cơ chế điều trị chứng chiến hãn (Ngoại cảm nhiệt bệnh, rét run rồi xuất hãn).
Trong quá trình bệnh của kinh Thái dương, đột nhiên thấy “Mạch âm dương câu đình” (Mạch âm dương cùng ngừng). đối với chữ “Đình”, có nhà chú thích cho rằng có ý nghĩa đình chỉ, cũng có nghĩa là mạch ngừng đập. Cũng có nhà chú thích cho rằng đây là điều đình, cũng có ý là mạch điều hoà, cả hai ý kiến đều có tính gán ghép khiên cưỡng. Trong bản của họ Triệu ghi “Nhất tác vi”, cũng chính là mạch âm dương cùng nhỏ yếu (vi), hoặc là mạch âm dương đều trầm. Trước khi xuất mồ hôi giải bệnh phần nhiều đều xuất hiện mạch trầm, thậm chí tựa như có mạch tựa như không, huyết áp cũng theo đó mà hạ thấp. Tại sao mạch âm dương đều vi hoặc đều trầm? Vì bệnh cơ là dương khí bị ảnh hưởng bởi tà khí, chính khí chống lại tà bên ngoài, sẽ trải qua quá trình “Tiên khuất hậu thân” (先屈而后伸) trước khó khăn sau thuận lợi. Giống như kỹ thuật đánh quyền lúc đầu thu quyền lại để súc tích sức mạnh, sau đó đánh ra sẽ có nhiều tác dụng hơn.
“Tất tiên chấn lật”. “Chấn” , “Lật” là hai chứng trạng. “Chấn” là toàn thân run rẩy, “Lật” là lạnh từ trong tim, tương tự như sốt rét. Rét, run, sợ, chính là sự miêu tả của cơn ớn lạnh rùng mình. Loại lạnh rùng minh này mạnh hơn so với hội chứng của thang Chân võ “Chấn chấn dao dục tị địa” (Run rẩy như muốn ngã ra). Tại sao xuất hiện “Chấn lật” (run sợ)? Cơ chế tương tự như “Mạch âm dương câu đình” (脉阴阳俱停), cũng như chính khí khi tích luỹ lực lượng, sau khi rét run sẽ phát nhiệt đồng thời “Xuất hãn giải bệnh”, cũng chính là “chiến hãn”(rét run xuất mồ hôi). Lúc này mạch tượng không còn Trầm. Thời gian rét run dài hay ngắn có liên quan với tình trạng mạnh yếu của chính khí, thời gian ngắn chỉ khoảng 10 phút.
Chiến hãn giải bệnh, là chính tà tương tranh, là chính thắng tà, {Y Tôn Kim Giám} “Chính thắng tà khước chiến hãn bình” (正胜邪却战汗平) Chính thắng tà lui chiến hãn dẹp yên (bệnh tật). Cũng có trường hợp hàn chiến mà không xuất hãn, Nguyên nhân vì chính khí không thể thắng tà, sẽ cần dùng một số thuốc để phụ trợ chính khí. Hoàn cảnh cũng là yếu tố quan trọng đối với “Chiến hãn”, nhiệt độ trong phòng bệnh nhân quá lạnh hoặc quá nóng đều bất lợi cho chứng hãn chiến. Nếu như thời gian lên cơn rét mà xuất hiện khát nước, hoặc cảm thấy trống vắng có thể cho bệnh nhân ăn một chút gì đó. Trương Cảnh Nhạc tiên sinh đã ghi lại trong y án, Bệnh nhân rét run mà không xuất hãn, có thể dùng thịt dê thái nhỏ như hạt đào, nấu chín nhừ cho bệnh nhân ăn có tác dụng bổ ích khí huyết, bệnh nhân sẽ xuất hãn. Còn có thể uống nước, uống rượu nho, ăn cháo nóng, để tăng hãn nguyên (nguồn mồ hôi). Ngoài ra Ôn bệnh cũng có chiến hãn, ôn dịch cũng có chiến hãn, trong Ôn dịch chiến hãn càng nhiều hơn, vì thế ngoại cảm nhiệt bệnh đều có vấn đề chiến hãn. Chiến hãn còn có thể xuất hiện sau khi uống thuốc, như sau khi uống thang Tiểu sài hồ sẽ xuất hiện chiến hãn, cơ chế chung chính là chính thắng tà lui.
Khi người viết còn trẻ khám điều trị cho một bệnh nhân tại Đại Liên, là vợ của người đàn ông họ Khương, sau khi sanh con thì sốt cao không hạ, đó là giữa mùa hè, để tránh gió sau sinh, mẹ già của anh chặn cửa ra vào và cửa sổ, và yêu cầu con dâu mặc quần cotton, áo khoác bông nên rất nóng. Người viết khám lần 1, bệnh nhân sốt cao, mạch hồng đại, rêu lưỡi vàng. Kể lại là khát nước nhưng mẹ chồng không cho uống. Người viết cho phép bệnh nhân uống nước, đồng thời mở cửa sổ thông khí. Không lâu sau, bệnh nhân xuất hiện cơn rét run (hàn chiến), mạch chuyển sang trầm, sau đó xuất hãn toàn thân, thân nhiệt hạ. Đây là do tân dịch không đủ, chiến hãn không có nguồn, khi được uống nước bổ sung hãn nguyên (nguồn mồ hôi) là có thể chiến hãn để giải bệnh.
95 太阳病,发热汗出者,此为荣弱卫强,故使汗出,欲救邪风者,宜桂枝汤。C99
Điều 95
Thái dương bệnh, phát nhiệt hãn xuất giả, thử vi vinh nhược vệ cường, cố sử hãn xuất, dục cứu tà phong giả, nghi Quế chi thang. C99
Dịch: Thái dương bị bệnh, phát sốt xuất mồ hôi, đó là vinh yếu vệ mạnh, nên xuất mồ hôi, nếu muốn ngăn chặn phong tà, nên dùng thang Quế chi
Đoạn văn này bổ sung bệnh cơ của Thái dương trúng phong vệ cường doanh nhược.
“Vinh nhược vệ cường, cố sử hãn xuất”, vinh nhược vệ cường, vệ có phong tà gọi là vệ cường, vệ bị bệnh nên doanh không cẩn mật vững vàng, doanh sẽ yếu, vì thế phát nhiệt, xuất mồ hôi. Điều trị nên giải cơ khứ phong, dùng Quế chi thang. Thiên Thái dương bệnh đã có đầy đủ về điều này, liên quan đến thương hàn trúng phong, 5 phương pháp phát hãn như Ma hoàng, Quế chi, Đại Tiểu thanh long, Cát căn, Trương Trọng Cảnh Tiên sinh đã nói rõ về các vấn đề như biểu lý hoãn cấp, phép cấm hãn và phép phát hãn. Trừ chứng phủ súc huyết sẽ được đề cập ở phần sau, biểu chứng cũng đã trình bày hoàn tất. Phần sau sẽ giảng về tà khí từ Thái dương biểu truyền đến bán biểu bán lý, hội chứng thang Tiểu sài hồ. Đây là đoạn văn tổng kết ở phần trước, và chỉ đạo phần sau.
96 伤寒五六日,中风,往来寒热,胸胁苦满,默默不欲饮食,心烦喜呕,或胸中烦而不呕,或渴,或腹中痛,或胁下痞硬,或心下悸,小便不利,或不渴,身有微热,或咳者,与小柴胡汤主之。C100
Điều 96
Thương hàn ngũ lục nhật, trúng phong, vãng lai hàn nhiệt, hung hiếp khổ mãn, mặc mặc bất dục ẩm thực, tâm phiền hỉ ẩu, hoặc hung trung phiền nhi bất ẩu, hoặc khát, hoặc phúc trung thống, hoặc hiếp hạ bĩ ngạnh, hoặc tâm hạ quý, tiểu tiện bất lợi, hoặc bất khát, thân hữu vi nhiệt, hoặc khái giả, dữ Tiểu sài hồ thang chủ chi. C100
Dịch: Thương hàn 5,6 ngày, trúng phong, vãng lai hàn nhiệt (nóng lạnh thay nhau xuất hiện), ngực sườn trướng đầy, yên lặng không muốn ăn uống, bực bôi muốn nôn, hoặc bực bộ trong ngực mà không nôn, hoặc khát nước, hoặc đau bụng, hoặc bĩ cứng ở dưới cạnh sườn, hoặc hồi hộp dướn tim, tiểu tiện không thuận lợi, hoặc không khát, sốt nhẹ, hoặc ho, với thang Tiểu sài hồ trị bệnh này.
Phương thang Tiểu sài hồ
Sài hồ nửa cân Hoàng cầm 3 lạng Nhân sâm 3 lạng Cam thảo 3 lạng Bán hạ nửa thăng rửa sinh khương 3 lạng thái mỏng Đại táo 13 quả bổ
Bảy vị trên, dùng 1 đấu 2 thăng nước, nấu còn 6 thăng, bỏ bã, tiếp tục nấu, còn 3 thăng, uống ấm 1 thăng, ngày uống 3 lần.
Gia giảm: Nếu trong ngực phiền muộn mà không ẩu thổ, khứ Bán hạ, Nhân sâm, gia Quát lâu thực 1 quả.
Khát nước, khứ Bán hạ, gia Nhân sâm, hợp với trước thành 4 lạng rưỡi, Quát lâu căn 4 lạng.
Nếu đau bụng, khứ Hoàng cầm, gia Thược dược 3 lạng.
Nếu có khối cứng dưới sườn, khứ Đại táo, gia Mẫu lệ 4 lạng.
Nếu hồi hộp dưới tim, tiểu tiện không thuận lợi, khứ Hoàng cầm, gia Phục linh 4 lạng.
Nếu không khát, bên ngoài nóng nhẹ, khứ Nhân sâm, gia Quế 3 lạng, uống ấm xuất hãn nhẹ thì khỏi bệnh.
Nếu ho, khứ Nhân sâm, Đại táo, Sinh khương, gia Ngũ vị tử nửa thăng, can khương 2 lạng.
Đây là đoạn văn trình bày bệnh chứng và trị liệu bệnh ở kinh Thiếu dương.
“Thương hàn 5,6 ngày trúng phong”, là một câu tu từ để nhấn mạnh, là bút pháp thời nhà Hán. Có ý gì? Nó có nghĩa là sốt thương hàn hoặc trúng phong được đề cập ở trên, đều là bệnh ở Thái dương, là tổng kết của phần trên. Bệnh 5,6 ngày, bệnh tà không giải là sẽ có vấn đề về truyền biến của bệnh, tại sao nói thời gian 5,6 ngày, cũng có ý nghĩa của nó, là chỉ về thời gian chính và tà đấu tranh, tà khí có một quá trình phát triển. “Vãng lai hàn nhiệt, hung hiếp khổ mãn” (Lạnh nóng qua lại, ngực cạnh sườn buồn bực khó chịu); “Mặc mặc bất dục thực….” (Không cảm thấy muốn ăn uống, tim phiền muộn hay nôn, hoặc phiền muộn trong ngực nhưng không nôn, hoặc khát, hoặc đau bụng, hoặc nổi cục cứng dưới cạnh sườn, hoặc hồi hộp dưới tim (tâm hạ quý), tiểu tiện bất lợi, hoặc không khát, sốt nhẹ, hoặc ho, thang tiểu sài hồ trị bệnh này.)
Trúng phong cũng được, thương hàn cũng được, tà khí đã qua 5,6 ngày chưa giải, từ kinh Thái dương sẽ truyền nhập vào Thiếu dương, đặc điểm nhiệt hình của kinh Thiếu dương không giống như hấp hấp phát nhiệt (sốt nhẹ ở phần da lông) của kinh Thái dương, cũng không giống như “chưng chưng phát nhiệt” (nóng từ trong bốc ra ngoài) của kinh Dương minh, mà là “vãng lai hàn nhiệt” là một loại nhiệt hình lạnh nóng thay nhau xuất hiện. Tại sao xuất hiện vãng lai hàn nhiệt? Điều này không thể tách rời với vị trí của kinh Thiếu dương. Thái dương chứng gọi là biểu chứng (chứng ở ngoài), kinh Thái dương tuần hành ở lưng; Kinh dương minh gọi là lý chứng (chứng ở trong), kinh dương minh tuần hành ở bụng, lưng là dương, bụng là âm, nhất biểu nhất lý (một ngoài một trong); Kinh Thiếu dương tuần hành ở cạnh bên của cơ thể, ở giữa hai kinh Thái dương và Dương minh, vì thế người xưa gọi là địa vị giáp giới. Câu ca viết : “Túc mạch Thiếu dương đảm chi kinh, thuỷ tòng lưỡng mục duệ tí sinh, để đầu tuần giác hạ nhĩ hậu, Não không Phong trì thứ đệ hành, giao thiếu dương hữu thượng Khuyết bồn.”( 足脉少阳胆之经,始从两目锐眦生,抵头循角下耳后,脑空风池次第行,手少阳前至肩上,交少阳右上缺盆)Mạch Túc Thiếu dương bắt đầu từ huyệt Đồng tử liêu ở đuôi mắt, chạy lên góc trán rồi vòng ra phía sau tai, qua hai huyệt Não không và Phong trì, xuống huyệt Khuyến bồn trên vai, đi xuống dưới theo lồng ngực vào cạnh sườn. Kinh Thiếu dương tuần hành ở phần bên cạnh của cơ thể, Thiếu dương đảm phủ phụ vào Can, cũng ở cạnh sườn. Vì thế người xưa gọi nó là bán biểu bán lý chứng (nửa ngoài nửa trong). Đây chính là vị trí bệnh của Túc Thiếu dương.
Bán biểu bán lý là chỗ nào? Là nơi chính tà tương tranh (tranh giành). Nói theo sinh lý (hoạt động của sự sống và cơ năng các khí quan trong cơ thể), Thiếu dương chủ Xu (xoay chuyển), Thái dương chủ về mở (Khai), Dương minh chủ đóng (Hạp). Khí Thái dương tuần hành ở thể biểu (phần ngoài cùng của cơ thể như da lông, cơ bắp) hướng lên trên, hướng ra ngoài bảo hộ toàn thân, hướng mở ra ngoài vì thế Thái dương chủ mở ( Khai); Dương minh chủ ở tràng vị (ruột, dạ dày), khí của nó hướng vào trong và xuống dưới lục phủ với Thông Giáng (thông và đi xuống) là thuận, vì thế dương minh chủ lý ở trong, chủ ở tràng vị (ruột, dạ dày); Kinh Thiếu dương ở giữa hai kinh Thái dương và Dương minh thuộc kinh Đảm, Đảm và Can là tạng phủ có tương quan biểu lý, vì thế, sẽ theo Thái dương bên ngoài để khai (mở), theo Dương minh bên trong để hạp (đóng), phân li ra vào ở giữa Thái dương và Dương minh là Thiếu dương chủ xu (là phụ trách trụ quay, bản lề), nó ở giữa biểu và lý, có nhiệm vụ xoay chuyển. Có khả năng mở lại có thể đóng, khí của Thiếu dương thuận lợi có ích lợi đối với khí của Thái dương và Dương minh. Khí của Thiếu dương bất lợi cũng có trở ngại đối với khí của Thái dương và Dương minh, phong hàn ở Thái dương không được giải trừ truyền vào Thiếu dương, chính tà phân tranh ở dưới cạnh sườn (hiếp hạ), không thuận lợi cho cơ quan chủ quản (xu cơ). Nếu tà khí chiếm ưu thế, tà khí sẽ tiến vào trong (lý), từ dương nhập vào âm, khi tiến công từ bên ngoài, bệnh nhân sẽ sợ lạnh. Vì thế cảm giác sợ lạnh là phản ảnh của tà khí hướng vào bên trong (lý). Khí Thiếu dương hướng ra ngoài đề kháng bệnh tà nên sẽ phát sốt. Chính tà tiến thoái ở giữa bán biểu bán lý, khiến cho mấu chốt (xu cơ) của âm dương bất lợi, xu cơ của biểu lý bất lợi, vì thế sẽ có một trận sợ lạnh rồi đến một trận phát nhiệt, gọi là vãng lai hàn nhiệt. Đây chính là một chủ chứng của Thiếu dương bệnh.
“Hung hiếp khổ mãn”, tuy nhiên ngực và sườn thường luận chung, nhưng chủ yếu là sườn. Vì kinh Thiếu dương tuần hành ở ngực và sườn, khi kinh khí của Thiếu dương không thuận lợi, ngực sườn sẽ khó chịu. Cảm giác khó chịu không bình thường mà là khó chịu khá nghiêm trọng, vì thế nên không viết là “Mãn” (mãn là khó chịu) mà viết là “khổ mãn”.
“Măc mặc bất dục ẩm thực”, “Mặc mặc” chính là tĩnh mặc (yên lặng). Bệnh ở ba kinh dương luôn luôn có một chút khó chịu, bực bội (phiền táo), Thiếu dương bị bệnh, khí cơ Thiếu dương bất lợi nên khí Can Đảm sẽ uất ức, khí Can Đảm uất ức, biểu cảm trên mặt sẽ rất tĩnh lặng, mặc mặc là từ láy, đây cũng là một loại văn pháp, để tăng cường mô tả các đặc điểm của triệu chứng, ý tứ chính là biểu cảm trên mặt của người này rất tĩnh mặc, cũng không cao hứng, phản ảnh khí sắc của can đảm khí uất. Khi Can Đảm khí uất, công năng sơ tiết không thuận lợi vì thế “Bất dục ẩm thực” (不欲饮食)không muốn ăn uống. “Tâm phiền, hỉ ẩu” (心烦喜呕) Phiền muộn muốn nôn nhiều, thiếu dương chính là Đảm mộc, trữ tàng tướng hoả, khi khí uất tướng hoả sẽ uất mà hoá nhiệt, vì thế tâm phiền. “Hỉ”, là nói về chữ nhiều, “hỉ ẩu” là nôn nhiều, hoặc giả nói là hỉ ẩu, đây chính là chứng trạng chủ yếu hàng đầu của Thiếu dương chứng, số lần ẩu nghịch dồn dập. Thiếu dương bệnh chính là bệnh ở phủ liên luỵ đến tạng (cập), “Tạng phủ tương liên, kỳ thống tất hạ, tà cao thống hạ, cố sử ẩu dã” (脏腑相连,其痛必下,邪高痛下,故使呕也), bệnh ở kinh thiếu dương ảnh hưởng đến vị khí, vị khí thượng nghịch (trào ngược), vì thế ẩu thổ. Thiếu dương bệnh “Hỉ ẩu” chính là ẩu thổ nhiều. Ẩu (nôn) chính là chủ chứng của hội chứng Thiếu dương, trong tương lai khí giảng đến thiên ẩu thổ (nôn oẹ) trong {Kim Quỹ Yếu lược} sẽ nói về vấn đề trị chứng ẩu thổ của thang Tiểu sài hồ.
Vì sao trong Thiếu dương bệnh hoặc thấy các chứng trạng như thế là nhiều? “hoặc” là một từ chưa xác định, không thể nói là sự xuất hiện tất nhiên. Thiếu dương thuộc bán biểu bán lý, lục kinh là 12 kinh, kinh túc thiếu dương đảm và kinh thủ thiếu dương tam tiêu đều có những liên hệ, vì thế khi đảm khí uất, khí bán biểu bán lý cũng bất hoà, tà khí sẽ có cơ hội lúc tiến lúc thoái, thượng tiêu, trung tiêu, hạ tiêu sẽ xuất hiện tình huống bất lợi lúc ở trên, lúc ở dưới, do đó, hội chứng của chúng có thể khác nhau một cách tự nhiên hoặc không tự nhiên. Hoặc đã xuất hiện tim hồi hộp, hoặc tiểu tiện khó khăn, tiểu ít, những điều này đều có quan hệ với tam tiêu, và quan hệ với khí cơ của biểu lý.
Điều trị bệnh này phải dùng phương pháp gì? Bệnh tà ở bán biểu bán lý, chính tà phân tranh tiến thoái ở giữa bán biểu bán lý, phát hãn được không? Phát hãn có thể giải biểu của Thái dương nhưng không thể giải quyết bệnh tà ở Thiếu dương. Dùng phép tả hạ hoặc thanh pháp có được hay không? Cũng không được; Phép hạ, phép thanh có thể giải quyết lý (bên trong) của kinh dương minh nhưng cũng không thể giải quyết bệnh tà ở kinh Thiếu dương. Là bệnh tà ở bán biểu bán lý, giáp giới của Thái dương và Dương minh, muốn giải trừ tà khí ở kinh Thiếu dương, cần phải giải quyết tà khí của bán biểu bán lý. Vì bệnh này cũng phát nhiệt, phát ở dương, chính là bệnh ở kinh dương, vì thế cổ nhân phân biệt bệnh này không thể phát hãn, tả hạ hoặc dùng thổ pháp, đồng thời cũng có thể giải trừ vấn đề phát nhiệt, dùng thang Tiểu sài hồ gọi là phép hoà giải, tức là không thông qua các phương pháp phát hãn hay tả hạ, mà đạt được mục đích thanh nhiệt, khiến cho khí cơ Thiếu dương thông suốt, khí của bán biểu bán lý điều hoà thông sướng. Đồng thời xem xét từ thành phần của thang Tiểu sài hồ, gồm có các vị thuốc khứ tà thanh nhiệt, cũng có các vị thuốc phù chính bổ hư, tập trung hàn nhiệt bổ tả vào một khối.
Thành phần thang Tiểu sài hồ gồm 7 vị thuốc, bao gồm Sài hồ, Hoàng cầm, Nhân sâm, chích Cam thảo, Bán hạ, Sinh khương, Đại táo. Ở phương diện lượng thuốc sử dụng, “Sài hồ bát lạng Thiếu dương bằng, Táo thập nhị mai Hạ bán thăng, tam lạng Khương Sâm Cầm dữ Thảo, khứ tra trùng tiễn hữu kỳ năng”. Hoàng cầm, Nhân sâm, cam thảo, Bán hạ, Sinh khương lượng bằng nhau, đều có thể dùng khoảng 3 tiền, hiện tại bằng khoảng 10g. Duy có vị Sài hồ dùng lượng nhiều hơn, Sài hồ nửa cân, Sài hồ dùng 3 lạng sẽ không gọi là Tiểu sài hồ thang nữa.
Vì sao gọi là Tiểu sài hồ mà không gọi là Sài hồ thang? Vì còn có Đại sài hồ thang. Tiểu thanh long, Đại thanh long, Tiểu thừa khí, Đại thừa khí, có phân thành đại tiểu, đại có lực lượng lớn, tiểu có lực lượng nhỏ. Chủ dược trong thang Tiểu sài hồ chính là Sài hồ, vì thế trọng lượng Sài hồ sử dụng rất quan trọng. Có người cho rằng trên lâm sàng dùng thang Tiểu sài hồ hiệu quả không rõ ràng, thậm chí không có hiệu quả, trên thực tế điều này có quan hệ rất lớn với lượng Sài hồ sử dụng có thoả đáng, có đầy đủ hay không. Vì thế cần phải nhớ kỹ tễ lượng. Lý pháp phương dược cũng bao gồm tễ lượng. Sài hồ là chủ dược, tất nhiên phải trọng dụng, nhất là với Thiếu dương chứng cần sử dụng nhiều. Có rất nhiều y gia đề cập đến vấn đề Sài hồ có ảnh hưởng đến Can âm, nhất là một số y gia phương nam không dám mạnh dạn sử dụng vị Sài hồ. Làm sao để lý giải vấn đề này một cách chính xác? Chúng ta đã xem Hồng lâu mộng, khi Lâm Đại Ngọc bị bệnh, thân thể gầy yếu, gò má hồng, lúc lạnh lúc nóng, ho, ngực sườn khó chịu, cũng chính là yên lặng không muốn ăn uống, Vương thái y chẩn bệnh, mạch rất nhỏ rất nhanh, can khí còn ức uất, phải làm gì? Dùng Tiêu dao tán, trong phương cũng có Sài hồ, Miết giáp sao Sài hồ gọi là Hắc tiêu dao. Cần dùng 8 tiền Sài hồ, Lâm Đại Ngọc chịu được không? Hiện tại nói đích thị là Thiếu dương chứng, vãng lai hàn nhiệt, ngực sườn đầy ứ, rêu lưỡi vàng trắng, đó là đan điền có nhiệt, trong ngực có hàn, cũng không nói là chất lưỡi hồng, miệng lưỡi khô khan, tại sao không dám sử dụng Sài hồ? E ngại hại can âm thì cần phải có dấu hiệu của can âm hư. Không thể vì ngại Sài hồ ảnh hưởng can âm mà không dám dùng Sài hồ, Nếu như chúng ta dùng Sài hồ 3 tiền, bằng với lượng Cam thảo và Nhân sâm, thì thang Tiểu sài hồ sẽ thất bại rồi. Vì Sài hồ (Vị đắng tính bình, chủ trị khí kết trong tâm phúc tràng vị, ẩm thực tích tụ, hàn nhiệt tà khí, thôi trần trí tân (bài trừ cái cũ, sinh ra cái mới), đây là nguyên văn trong {Thần nông bản thảo kinh}. Trên phương diện thôi trần trí tân (thay cũ đổi mới), một là vị Đại hoàng, một là vị Sài hồ, vị trước nói theo huyết phận, vị sau nói theo khí phận. Dùng 3 tiền Sài hồ, còn phối với 3 tiền Nhân sâm, 3 tiền chích Cam thảo, thì Sài hồ không thể thôi trần trí tân (thay cũ đổi mới), sơ thông uất kết, thẩm thấu nhiệt ra ngoài. Tỉ như một nhóm người trẻ tuổi khoẻ mạnh, bị trói chân tay, sau đó bảo họ phát huy sức mạnh, và như vậy là không thể. Vì thế thang tiểu sài hồ sẽ vô hiệu, sau khi uống xong sẽ không hạ sốt.
7 vị thuốc này đối với ba phương diện, còn có liên hệ hữu cơ (Mối quan hệ ảnh hưởng và tương tác lẫn nhau gọi là liên hệ hữu cơ), vì thế gọi là phép hoà giải. Thứ nhất là vị Sài hồ phối hợp với vị Hoàng cầm; Thứ hai là Nhân sâm, Cam thảo phối Đại táo; Thứ ba là Sinh khương phối Bán hạ. Đầu tiên trị Đảm, với Sài hồ phối Hoàng cầm. Xét theo quân thần tá sứ, thuộc về quân thần, không phải tá sứ. Sài hồ có nhiều khả năng sơ thông giải trừ tà nhiệt trong kinh Thiếu dương, Hoàng cầm thanh tà nhiệt trong đảm kinh, đảm phủ. Nhưng tác dụng của Sài hồ không chỉ là đơn thuần giải nhiệt, mà còn có tác dụng sơ lợi can đảm (điều tiết và lợi gan mật). Vì Thiếu dương bệnh tuy là nhiệt tà truyền nhập Thiếu dương, Thiếu dương gọi là dương khí thứ nhất trong tam dương, cũng chính là khí sơ sinh. Bây giờ là mùa xuân, xa hơn một chút là khí Thiếu dương ngày giáp tý, Thiếu dương bắt đầu vào nửa đêm, dương bắt đầu sinh gọi là Thiếu dương, dương khí khởi đầu rồi, Thiếu dương chủ thăng phát. Cho nên khí thiếu dương này chính là tiểu dương, là dương non nớt, chỉ mới phát động, còn chưa mạnh. Lúc này, đã bị tà khí ngăn cản rồi, khả năng thăng phát điều đạt của dương khí bị trở ngại. Vì thế, chỉ dùng thuốc đắng lạnh đơn thuần thanh nhiệt ở thiếu dương thì không hiệu quả. Tại sao vậy? Vì trong bệnh cơ còn có tà nhiệt khiến cho khí cơ của Thiếu dương không thông suốt, đây là vấn đề bất lợi then chốt (xu cơ) của Thiếu dương. Sài hồ có tác dụng thanh nhiệt, cũng có tác dụng khai uất khiến cho khí cơ của can đảm thư sướng điều đạt (không bị gò bó). {Thương hàn luận} có bảy phương thuốc sử dụng vị Sài hồ, chúng tôi chỉ thừa nhận 6 phương thuốc thuộc nhóm Sài hồ, loại bỏ Tứ nghịch tán khỏi nhóm Sài hồ vì thang Tứ nghịch chỉ có vị Sài hồ mà không có vị Hoàng cầm.
Tiếp theo là điều trị bệnh ở vị phủ, Thiếu dương bệnh có vị khí nghịch, hỉ ẩu (nôn nhiều) “Ẩu nhi phát nhiệt giả Sài hồ thang chủ chi” (Sài hồ thang chủ trị chứng ẩu thổ mà phát sốt), vì thế dùng Bán hạ phối Sinh khương có tác dụng kiện vị trị ẩu thổ. Bán hạ, Sinh khương gọi là thang Tiểu bán hạ “Chỉ ẩu chi thánh dược mạc qua vu Bán hạ, Sinh khương dã” (止呕之圣药莫过于半夏、生姜也)thánh dược trị ẩu thổ không gì hơn Bán hạ, Sinh khương, Bán hạ, Sinh khương là thánh dược trị ẩu thổ, có thể kiện vị, lại có nhiều khả năng hạ khí, tán ẩm khứ đàm. Thiếu dương bệnh sẽ ảnh hưởng tỳ vị, vị khí bất hoà sẽ ẩu thổ. Xem xét so sánh Bán hạ , Sinh khương với Sài hồ, Hoàng cầm, Sài hồ Hoàng cầm là khổ dược (thuốc đắng), mà Bán hạ, Sinh khương là tân dược (vị thuốc cay). “Khổ dĩ tiết chi, tân dĩ tán chi” (苦以泄之,辛以散之)Đắng có tác dụng tiết nhiệt thanh nhiệt, vị cay có tác dụng tán kết, vì thế Bán hạ Sinh khương không những có nhiều khả năng điều trị bệnh ở dạ dày, ngừng ẩu thổ, đồng thời đối với chứng ngực sườn đầy trướng, vị khí bất hoà, đều có tác dụng tốt.
Cuối cùng là trị bệnh ở tạng tỳ, Nhân sâm, chích Cam thảo, Đại táo là những vị thuốc cam ôn, đều là những vị thuốc bổ trung ích khí. Tại sao trong thang Tiểu sài hồ lại gia thêm các vị thuốc bổ trung ích khí? Thông thường trong thang thuốc trị tà khí đều không sử dụng Nhân sâm, nếu gia Nhân sâm cần phải đắn đo cân nhắc. Nhân sâm là thuốc bổ khí, có tác dụng liễm tà, sử dụng không thích đáng sẽ giữ tà khí lại, gọi là đóng cửa giữ trộm. May mắn là Nhân sâm dùng trong thang Tiểu sài hồ, hiện tại trong đơn thuốc thường dùng Đảng sâm, Đảng sâm có hiệu lực kém hơn một chút. Vì sao? Thang Tiểu sài hồ gọi là phép hoà giải, dùng 8 lạng Sài hồ, 3 lạng Hoàng cầm, giải nhiệt khứ tà. Đồng thời gia thêm phép phù trợ chính khí, bảo dưỡng tỳ vị, cam ôn ích tỳ. Gia thêm các vị thuốc này, một là vì Thiếu dương là Tiểu dương, không giống như Dương minh và Thái dương, hai dương hoà hợp với nhau, minh là phát dương quang đại, dương khí hưng thịnh gọi là dương minh; Thái dương là cự dương (dương to lớn), chủ dương khí toàn thân, vững vàng chặt chẽ ở thể biểu. Năng lực đề kháng bệnh tà của Thiếu dương không đủ, tại bán biểu bán lý, là vị trí bất lợi. Thiếu dương là trụ xoay giữa Thái dương và Dương minh, cũng chính là trục xoay âm dương từ tam dương đến tam âm. Cũng có nghĩa là, tà khí của Thiếu dương tiếp tục vào trong sẽ nhập vào tạng, và tạng đầu tiên trong ngũ tạng bị xâm nhập là túc Thái âm tỳ ở trung châu. Đồng thời, người lặng lẽ không muốn ăn uống (Mặc mặc bất dục ẩm thực), là xác định công năng kiện vận của tạng tỳ đã không tốt.
Thấy bệnh ở tạng can, biết bệnh (ở can) sẽ truyền đến Tỳ, nên bổ tỳ (thực tỳ) “Kiến can chi bệnh, tri can truyền tỳ, đương tiên thực tỳ” (见肝之病,知肝传脾,当先实脾)Bệnh truyền theo tương khắc), tà khí ở can đảm ảnh hưởng tạng tỳ, mộc luôn khắc thổ. Để khí Thiếu dương mạnh mẽ và đấu tranh với tà khí, vì thế cần gia thêm Nhân sâm, Cam thảo, Đại táo để phù chính khứ tà. Thang Tiểu sài hồ nếu không gia thêm các vị thuốc cam ôn bổ khí, sợ rằng khí Thiếu dương không đủ lực kháng tà để xuất bệnh tà ra ngoài được. Ngoài ra, bổ tỳ cũng là một cách dự phòng, “Kiến can chi bệnh, tri can truyền tỳ” (见肝之病,知肝传脾)thấy gan bị bệnh, biết gan sẽ truyền bệnh cho tỳ, can đảm liên quan với nhau, đầu tiên việc bồi bổ cho tạng tỳ mạnh mẽ cường tráng, chính là ngăn chặn con đường xâm nhập của bệnh tà từ Thiếu dương truyền vào Thái âm tỳ.
Phương thang này có thuyết “khứ chỉ trùng tiễn”( 去滓重煎)bỏ bã nấu lại, khi dùng phép hoà giải thì sau khi sắc thuốc xong đều phải bỏ bã cô lại là cô nước thuốc lại thành cao lỏng, sau khi bỏ bã. “Dùng nước 1 đấu 2 thăng, nấu còn 6 thăng, bỏ bã nấu lại, lấy 3 thăng”, 6 thăng nước thuốc nấu lại (cô lại) còn 3 thăng. Vì sao phải bỏ bã nấu lại? Đây là kinh nghiệm của người xưa, khi dùng phép hoà giải đều bỏ bã nấu lại. Thang Tiểu sài hồ là thuốc hoà giải, bảy vị thuốc có khí riêng, có vị riêng, có vị ngọt, có vị đắng, có vị cay, nếu sắc thuốc theo phương pháp thông thường, tác dụng của thuốc sẽ có vị có tác dụng trước, có vị có tác dụng sau, có vị có tác dụng nhiều, có vị ít, có vị nồng hậu có vị nhạt, có vị bổ, có vị tả, vì thế không đạt đến tác dụng hoà giải, nên việc bỏ bã cô đặc nước thuốc lại, khiến cho nước thuốc không thiên về nhiệt, không thiên về hàn, để đạt được mục đích hoà giải.
Nói chung, thang Tiểu sài hồ có thể sử dụng điều trị bệnh thương hàn ngoại cảm nhiệt bệnh, cũng có thể dùng trị tạp bệnh, vì là thang dược hoà giải biểu lý, điều hoà âm dương, vì thế phạm vị trị liệu của thang Tiểu sài hồ rất rộng, gia giảm hoá tài (cắt giảm theo biến hoá của sự vật) cũng rất nhiều loại dạng. Mẹ một đồng chí trong nhóm chúng tôi, trước đây mấy ngày đến chỗ người viết để khám bệnh, trước đây bà ta có tiền sử viêm gan, đã hơn 50 tuổi. Chứng viêm gan tựa như đã khỏi hẳn, gần đây bị bệnh tiểu đường, đường niệu cao, đường huyết cũng cao, toàn thân không có sức, khát nước, trướng bụng, đại tiện không điều hoà. Khám lần 1, thấy mạch Huyền, là có vấn đề về gan mật; Tiểu tiện không thông sướng, lại có vấn đề về công năng khí hoá không tôt, là gan mật bị nhiệt, tỳ và tam tiêu hư hàn, vì thế người viết dùng sài hồ Quế chi Can khương thang. Sau khi uống thuốc đường huyết và đường niệu đều hạ xuống, tinh thần cũng tốt hơn.
Thang Tiểu sài hồ giải nhiệt hiệu quả rất tốt. Đời nhà Tống có {Tô Thẩm Lương Phương} rất coi trọng tác dụng giải nhiệt của thang Tiểu sài hồ, ông ta nói rằng thang Tiểu sài hồ có thể trị 5 loại nhiệt, vãng lai hàn nhiệt, triều nhiệt, sái hậu nhiệt (sốt sau khi khỏi bệnh). Phát sốt bệnh cấp tính, một vài loại sốt nhẹ không hạ của bệnh mạn tính, đôi khi sử dụng nó cũng rất hiệu quả. Trong {Y tôn Kim Giám} có một phương gọi là Sài hồ thanh cốt tán, trị chứng sốt nhẹ không lui hiệu quả rất tốt. Lâm sàng hiện đại có một số vô danh nhiệt (nóng không tên), chỉ cần có hội chứng can đảm thiếu dương, dùng thang Tiểu sài hồ sẽ thu được hiệu quả phi thường. Ngoài ra, thang Tiểu sài hồ trị chứng sốt nhẹ do tình chí uất ức cũng thu được hiệu quả rất tốt.
97 血弱气尽,腠理开,邪气因入,与正气相搏,结于胁下,正邪分争,往来寒热,休作有时,默默不欲饮食。藏府相连,其痛必下,邪高痛下,故使呕也。小柴胡汤主之。C101
Điều 97
Huyết nhược khí tận, thấu lý khai, tà khí nhân nhập, dữ chính khí tương bác, kết vu hiếp hạ, chính tà phân tranh, vãng lai hàn nhiệt, hưu tác hữu thời, mặc mặc bất dục ẩm thực, tàng phủ tương liên, kỳ thống tất hạ, tà cao thống hạ, cố sử ẩu dã. Tiểu sài hồ thang chủ chi. C101
Dịch: Huyết yếu nhược khí hết, da thịt lỏng lẻo, tà khí nhân cơ hội xâm nhập, tranh đấu với chính khí, kết ở dưới sườn, chính tà phân tranh, lạnh nóng thay đổi, lúc phát bệnh lúc không, có khi yên lặng không thiết ăn uống. Tạng phủ nối liền. tạng phủ cao ảnh hưởng đến thấp (tạng phủ tương khắc), nên khiến ẩu thổ. Thang Tiểu sài hồ chủ trị bệnh này.
Huyết nhược khí tận thấu lý khai Tà khí nhân nhập tiến hung hoài
Dữ chính tương bác kết hiếp hạ Chính tà phân tranh nhiệt vãng lai
Hưu tác hữu thời bất dục ẩm Tạng phủ tương liên tống hạ bài
Tà cao thống hạ cố sử ẩu Tiểu sài hồ thang dụng chi sai
Đoạn văn này bổ sung cho đoạn văn trên (96), phân tích bệnh ở kinh Thiếu dương, đặc biệt là nguyên nhân bệnh và cơ chế bệnh của hội chứng thang Tiểu sài hồ.
“Huyết nhược khí tận, thấu lý khai, tà khí nhân nhập”( 血弱气尽,腠理开,邪气因入)Khí huyết suy nhược, thở thịt lỏng lẻo, tà khí nhân cơ hội xâm nhập, đây là nói về nguyên nhân bệnh. Vì sao tà khí trực trúng Thiếu dương? Người này khí huyết hư suy, thớ thịt không chặt chẽ. “Thấu lý khai” là thớ thịt không vững vàng chặt chẽ, không có nhiều khả năng đề kháng tà khí, tà khí nhân cơ hội xâm nhập. “Nhập” là đi đến, tà khí sẽ xâm nhập. Tà khí tiến đến địa phương nào? Tại kinh nào, vị trí ở đâu? “dữ chính tà tương bác, kết vu hiếp hạ” (与正气相搏,结于胁下) chính tà giao tranh, kết ở dưới sườn, đây là nói về vị trí bệnh. Biện chứng lục kinh có phạm vi, có giới hạn, hạ sườn thuộc khu vực của Thiếu dương, do kinh Thiếu dương cai quản, vị trí của bệnh ở Thiếu dương.
Phần dưới sẽ nói về bệnh cơ (Cơ lý của sự phát sinh , phát triển, biến hoá và kết cục của bệnh), chứng trạng và ảnh hưởng của chúng. “Chính tà phân tranh, vãng lai hàn nhiệt, hưu tác hữu thời”, Chính khí và tà khí phân tranh ở hạ sườn, có lúc chính khí chiếm ưu thế, tà khí thoái lui, có lúc tà khí chiếm thượng phong, chính khí thoái lui. Hai phương chính tà đấu tranh thay đổi nhau tiến thoái, đây gọi là “chính tà phân tranh”. Khi tiến tới nhập vào âm, cho nên người bệnh sợ lạnh, tà khí thoái lui, chính khí hướng ra ngoài, cho nên bệnh nhân sẽ phát nhiệt, hàn nhiệt này gọi là “Vãng lai hàn nhiệt” (往来寒热); Chúng không kéo dài một mạch, sẽ hàn một trận, nhiệt một trận, chính là hàn nhiệt có tính luân phiên. “Hưu”(nghỉ) là hưu chỉ (ngừng lại), “Tác” (làm) là phát tác, hưu chỉ và phát tác là nói về sự xuất hiện khác nhau của hàn nhiệt. Bệnh này có điểm giống bệnh sốt rét. Vì hạ sườn là vị trí của Thiếu dương, tà khí tồn tại ở Thiếu dương, Thiếu dương kinh khí bất lợi, khí cơ uất trệ, ảnh hưởng tỳ vị, sẽ xuất hiện trạng thái lặng lẽ không muốn ăn uống.
“Tạng phủ tương liên, kỳ thống tất hạ, tà cao thống hạ, cố sử ẩu dã” (脏腑相连,其痛必下,邪高痛下,故使呕也), tuy là bệnh của Đảm, Đảm thuộc về Can, lại nối liền với Can, Can Đảm là biểu lý. “Kỳ thống tất hạ”, “Thống” (đau) có ý nghĩa tương đương với “Bệnh” để tìm hiểu, tương đương với vị trí phát tác của bệnh để lý giải. Cũng chính là Đảm bị bệnh ảnh hưởng đến Can, khí của Can Đảm đã không thuận lợi. Bệnh không thể giới hạn ở một tạng phủ, nó sẽ ảnh hưởng, tạng phủ nào sẽ bị ảnh hưởng? Ảnh hưởng Phế? Không phải, nó sẽ ảnh hưởng đến tạng phủ mà nó khắc. Can đảm bị bệnh sẽ ảnh hưởng tỳ vị, căn cứ theo học thuyết ngũ hành, đây là mộc khắc thổ. “Tà cao thống hạ, cố sử ẩu dã”, “cao” là chỉ về bệnh của đảm, “thống hạ” là ảnh hưởng đến vị, vị khí bất hoà. Tà ở đảm lại ảnh hưởng đến vị khí bất hoà, hoặc can có bệnh ảnh hưởng tỳ khí bất hoà, đây đều gọi là “tà cao thống hạ”. Chiếu theo học thuyết ngũ hành, một cái khắc, một cái bị khắc. Can đảm bị bệnh, sẽ phạm tỳ vị, thế lực của nó sẽ ảnh hưởng đến tỳ vị, vì thế gọi là tà cao thống hạ. Tỳ vị chính là bị can đảm khắc chế, “tà cao thống hạ”(邪高痛下), vị khí bất hoà, tỳ khí cũng bất hoà, vị khí bất hoà cho nên khiến ẩu thổ, tỳ khí bất hoà nên không muốn ăn uống. Nguyên nhân bệnh, vị trí bệnh, biến hoá bệnh lý và chứng trạng đều có, tạng phủ bị nó ảnh hưởng cũng đã có, sự phát triển và ảnh hưởng của bệnh cũng đã được trình bày, cuối cùng là phương pháp trị liệu cụ thể, “Tiểu sài hồ thang chủ chi”., thang Tiểu sài hồ chủ trị bệnh này.
97 服柴胡汤已,渴者,属阳明也,以法治之。
C102
Điều 97
Phục sài hồ thang dĩ, khát giả, thuộc dương minh dã, dĩ pháp trị chi. C102
Uống thang Sài hồ, khát nước, thuộc Dương minh, dùng phép để trị.
Đây là điều kế tục 2 điều trên, thảo luận về khi tà khí ở thiếu dương không được giải trừ, tà khí có thể truyền vào kinh dương minh.
Điều này giải quyết được vấn đề gì? Một là thiếu dương có thể truyền dương minh, truyền vào dương minh rồi sẽ xuất hiện chứng khát, sau khi xuất hiện chứng khát, là biết tà của thiếu dương đã truyền vào dương minh rồi, ở đây có quan điểm biện chứng; Ngoài một vấn đề khác, liên quan với Thái dương, dương minh, thiếu dương, ấn tượng của các bạn là bệnh tà từ thái dương truyền dương minh, tà từ dương minh truyền thiếu dương, chính là thứ tự thuận, thực tế không bị ràng buộc bởi sự sắc xếp của thái dương, dương minh, thiếu dương, bệnh của thái dương có thể truyền thiếu dương, bệnh của thiếu dương có thể truyền dương minh. Ở điểm này có sự tranh luận, có người cho rằng thiếu dương chủ bán biểu bán lý, nên để thiếu dương ở trước dương minh, tại sao bây giờ dương minh lại đặt trước thiếu dương? Điều này mang lại một câu hỏi. Trên thực tế sắp xếp trong {Thương hàn luận} là như thế, khi phát bệnh, thái dương bệnh có khả năng truyền đến thiếu dương mà xuất hiện thiếu dương bệnh, thiếu dương bệnh cũng có thể truyền đến dương minh mà xuất hiện dương minh bệnh, không bị ảnh hưởng của sự sắp xếp(theo thứ tự). Chủ yếu là nói về biện chứng (phân biệt chứng).
“Phục sài hồ thang dĩ”, “dĩ” chính là bệnh khỏi rồi, uống thuốc rồi, thiếu dương chứng đã được giải trừ. Nếu tà khí của thiếu dương đã hoàn toàn giải trừ, tam tiêu thông sướng, tân dịch trải đều, sẽ không xuất hiện chứng trạng khát nước; Kiêm chứng hoặc chứng của thiếu dương bệnh, “hoặc khát giả, khứ bán hạ gia quát lâu căn”, có phải là khát nước? Không phải, tại sao không phải, vì là “phục sài hồ thang dĩ”(đã uống thang sài hồ), thiếu dương chứng đã được giải trừ, thời điểm này xuất hiện khát nước, thì chứng trạng khát không phải là kiêm chứng của thang sài hồ, mà chính là một vấn đề mới. “Thuộc dương minh dã” (属阳明也), đây là bệnh tà của thiếu dương không được giải trừ đã chuyển về dương minh, vì dương minh có nhiệt, tân dịch thụ thương, cho nên khát nước, đây chính là phản ảnh của nhiệt chứng ở dương minh. Từ thiếu dương truyền đến dương minh, ở giai đoạn chuyển tiếp, gọi là “thuộc”(属). Đã thuộc về dương minh rồi, không còn là vấn đề của thiếu dương nữa.
“Dĩ pháp trị chi” (以法治之)Điều trị theo phép, dùng lại thang sài hồ cũng giải quyết không hết vấn đề, nên dùng phép trị dương minh để trị liệu. Đây là điều tổng kết cho hai điều bên trên, nếu như uống thang tiểu sài hồ mà không giải trừ hoàn toàn tà khí, sẽ có vấn đề chuyển thuộc (chuyển về) dương minh, chứng cứ của bệnh đã chuyển về kinh dương minh là chứng trạng khát nước.