Điều 55 đến 64
55伤寒脉浮紧,不发汗,因致衄者,麻黄汤主之。C56
Điều 55
Thương hàn mạch phù khẩn, bất phát hãn, nhân chí nục giả, Ma hoàng thang chủ chi.
Dịch: Thương hàn mạch phù khẩn, không phát hãn, nguyên nhân chảy máu mũi, Ma hoàng thang chủ chi.
Đoạn văn này thảo luận điều trị bệnh bằng phát hãn thay thế cho nục huyết (chảy máu mũi), cần kết hợp tham khảo với điều 47, và điều 48 ở trên là nục huyết thay cho phát hãn.
“Thương hàn mạch phù khẩn”, chỉ ra chứng Thái dương biểu thực. “Bất phát hãn”, một là chỉ bệnh nhân không có mồ hôi, hai là có ý nói bệnh nhân không được điều trị kịp thời, hoặc tuy có điều trị, nhưng không dùng thang Ma hoàng để phát hãn. Biểu chứng không được xuất hãn, dương khí bị hàn tà bế uất, nếu bệnh nhân thân thể khoẻ mạnh, sẽ có biến chuyển là bệnh tà giải theo máu mũi. Nếu sau khi chảy máu mũi, mạch bệnh nhân an tĩnh, hạ nhiệt, thân thể mát mẻ, bệnh biến chuyển tốt thì không cần tái phát hãn. Nếu như tuy đã chảy máu mũi nhưng biểu tà không giải, có khả năng là do nục huyết không thông sướng, tương tự như phát hãn không triệt để, trọn vẹn, không đủ để giải biểu thông tà, không đạt được mức tác dụng nhiệt giảm theo huyết. Vì sao mà nục huyết (chảy máu mũi) không thông sướng? Chủ yếu là do tà khí ở trong kinh mạch quá nặng nên khó xuất ra. Nên dùng thang Ma hoàng phát hãn, để tiêu bớt tà khí trong kinh Thái dương, hãn xuất tà tán, chảy máu mũi tự đình chỉ, hạ nhiệt và khỏi bệnh. Vì vẫn cần theo hãn mà giải bệnh tà, vì thế thuộc phép “hãn dĩ đại nục”(Mồ hôi thay thế cho máu mũi).
56伤寒不大便六七日,头痛有热者,与承气汤。其小便清者,如不在里,仍在表也,当须发汗;若头痛者必衄,宜桂枝汤。C57
Điều 56
Thương hàn bất đại tiện lục thất nhật, đầu thống hữu nhiệt giả, dữ Thừa khí thang. Kỳ tiểu tiện thanh giả, như bất tại lý, nhưng tại biểu dã, đương tu phát hãn; Nhược đầu thống giả tất nục, nghi Quế chi thang.
Dịch: Bệnh Thương hàn không đại tiện 6,7 ngày, đau đầu có nhiệt, với thang Thừa khí. Nước tiểu trong, bệnh không ở trong lý, mà ở biểu, đáng nên phát hãn; Nếu đau đầu tất chảy máu mũi, nên uống thang Quế chi.
Đoạn văn này thông qua màu sắc nước tiểu trắng hoặc đỏ để phân biệt vị trí bệnh (biểu hoặc lý), đồng thời thảo luận điều trị khác nhau của biểu và lý.
“Thương hàn”, là chỉ chung ngoại cảm nhiệt bệnh. Trong quá trình phát bệnh của ngoại cảm nhiệt bệnh, 6,7 ngày không đại tiện, lại xuất hiện đau đầu có nhiệt, ở đây không nói cụ thể phát nhiệt như thế nào, hoặc nóng bốc lên (chưng chưng), hoặc nóng lúc xế chiều (nhật bô), để lưu lại nếu có sự khác biệt hơn nữa trong biện chứng. Theo “Kỳ tiểu tiện thanh giả, tri bất tại lý” (Nước tiểu có sắc trong là biết bệnh không ở trong lý) một câu có thể biết bệnh vẫn ở biểu. Nếu như đau đầu chính là do dương minh lý nhiệt thiêu đốt gây ra, thì nước tiểu tất nhiên sẽ có màu vàng đỏ, và phát nhiệt sẽ như bốc hơi nóng hoặc nóng vào xế chiều (15h- 17h) , điều trị sẽ ứng dụng thang Thừa khí để tả hạ. Hiện tại chính là màu nước tiểu trong, cho thấy bên trong không táo nhiệt, bệnh tà vẫn còn ở biểu, mà hội chứng tương ứng phải là đầu hạng cường thống (đầu gáy cứng đau), hấp hấp nhi nhiệt (nóng hầm hầm), sợ gió lạnh, mặc dù không đi đại tiện đã 6,7 ngày, nhưng bụng không có gì bất thường, vì thế không thể sử dụng phép tả hạ, mà nên cân nhắc dùng thang Quế chi để phát hãn. “Nghi Quế chi thang” nên tiếp theo sau khi chờ phát hãn“Đương tu phát hãn”. Nếu như kinh Thái dương bệnh tà không giải, đau đầu lâu ngày, dương bị uất quá nặng, cũng có thể xuất hiện tình huống chảy máu mũi thay cho mồ hôi để tự giải bệnh.
Tục Danh Y Loại Án ghi lại Lý Sĩ Tài điều trị một bệnh nhân bị bệnh thương hàn 6 ngày, cười nói như điên, đau đầu tự hãn, đại tiện không thông, nhiều đề nghị dùng thang Thừa khí để tả hạ. Mạch hồng mà Đại, nhân nghĩ đến lời của Trọng Cảnh: Bệnh thương hàn sáu bảy ngày chưa đại tiện, đau đầu, có nóng, nước tiểu trong, biết bệnh không ở trong (lý), vẫn ở ngoài (biểu). Hiện nay là trọng đông (tháng 11, tháng thứ hai của mùa đông), nên dùng thang Quế chi, mọi người đều líu lưỡi che miệng phỉ báng thật lực, với nhận xét đây là chứng dương thịnh, uống Quế chi là chết thôi. Lý viết: Nhiều mồ hôi, tinh thần hôn ám, lại nói sàm, tuy không đại tiện, nhưng bụng không đau, nên chỉ cần điều hoà doanh vệ, tất bệnh sẽ khỏi. Liền làm ngược lại lời đề nghị của số đông, đến đêm bệnh nhân không còn cười nói điên cuồng, sáng hôm sau đại tiện tự thông. Đây là một bệnh án có nhiều hội chứng phù hợp với chứng dương minh lý nhiệt và có thể dùng phép tả hạ như: Nói sàm, cười như điên cuồng, đau đầu có mồ hôi, đại tiện không thông, nhưng vì tiểu tiện không vàng đỏ và tiểu tiện dễ dàng, chính là biểu hiện của bên trong không nóng (lý vô nhiệt); Mạch không trầm thực mà Hồng Đại, chính là lý vô thực (không có thực chứng trong lý); Bụng không trướng đầy đau đớn, chính là không có chứng để có thể hạ. Lý Sĩ Tài nắm vững biện chứng nêu trên, quyết đoán sử dụng thang Quế chi điều hoà doanh vệ để giải biểu, khiến khỏi bệnh nhanh chóng, có thể nói là đã thâm hiểu được yếu lĩnh biện chứng của Trọng Cảnh, xứng đáng để chúng ta học tập và noi theo.
57 伤寒发汗,解半日许,复烦,脉浮数者,可更发汗,宜桂枝汤主之。C58
Điều 57
Thương hàn phát hãn, giải bán nhật hứa, phục phiền, mạch phù sác giả, khả canh phát hãn, nghi Quế chi thang chủ chi.
Dịch: Bệnh thương hàn phát hãn, bệnh tà giải tán nửa ngày, bệnh nhân lại phiền muộn, mạch phù sác, có thể phát hãn lần nữa, nên dùng thang Quế chi.
Đây là đoạn văn thảo luận điều trị của dư tà tụ trở lại sau khi phát hãn của bệnh thương hàn, nên tham khảo kết hợp với điều 46. Chứng Thái dương thương hàn biểu thực, dùng thang Ma hoàng phát hãn, sau khi phát hãn mạch an tĩnh, thân thể mát mẻ, cho thấy biểu chứng đã được giải, nhưng chỉ sau thời gian nửa ngày, lại xuất hiện các chứng trạng như phát nhiệt, mạch phù sác. Phiền là nhiệt, mạch phù sác, (tức là nói về mạch phù khẩn). Những chứng trạng này cho thấy bệnh tà vẫn ở bên ngoài. Thương hàn sau khi giải trừ lại xuất hiện biểu chứng, đây là biểu tà từ đâu mà đến? Thường cho rằng sau khi phát hãn đại tà đã được trừ khứ, nhưng chính là dư tà chưa hết, sau nửa ngày lại tụ tập gây bệnh, nhưng cũng không loại trừ khả năng là tái cảm thụ phong hàn. Bất luận là dư tà tái tụ tập hoặc do lại cảm thụ phong hàn, chỉ cần tái hiện biểu chứng, thì nên lập tức tiếp tục phát hãn giải biểu, vì thế nên viết: “khả cánh phát hãn” (可更发汗)Có thể phát hãn lần nữa. Nhưng trước mắt đã sử dụng thang Ma hoàng phát hãn, thấu lý (thớ thịt) đã mở, không thể chịu được lực phát hãn mạnh mẽ của thang Ma hoàng một lần nữa, vì thế chỉ nên tuyển dụng thang Quế chi để điều hoà vinh vệ, giải cơ, phát hãn giải biểu, trừ khứ tà khí để không gây tổn thương cho chính khí. Đây là phép tái phát hãn sau khi phát hãn một lần mà không giải hết được bệnh.
58凡病若发汗、若吐、若下、若亡津液,阴阳自和者,必自愈。C59
Điều 58
Phàm bệnh nhược phát hãn, nhược thổ, nhược hạ, nhược vong tân dịch, âm dương tự hoà giả, tất tự dũ.
Dịch: Các bệnh nếu phát hãn, nếu thổ, nếu hạ, nếu mất tân dịch, âm dương tự hoà (thăng bằng), tất tự khỏi bệnh.
Đây là đoạn văn chỉ ra rằng phàm trị bệnh chỉ cần làm sao cho cơ thể đạt được âm dương tự hoà (âm dương thăng bằng) là sẽ khỏi bệnh.
“Phàm bệnh”, là chỉ chung mọi loại bệnh chứng, không chỉ là trúng phong hay thương hàn. Các phương pháp điều trị như hãn, thổ, hạ được sử dụng để đạt dược mục đích điều trị là trừ khứ bệnh tà và điều hoà âm dương. Nếu như sử dụng không thích đáng, lại có thể tổn thương chính khí, như tổn thương âm, tổn thương dương, huyết, khí v.v…. Nếu như bệnh tà đã được trừ khứ mà chính khí bị suy yếu, thì không cần tái sử dụng thuốc để điều trị, có thể thông qua ăn uống để điều bổ, nghỉ ngơi, đợi cho âm dương của cơ thể tự điều tiết mà đạt được mực độ thăng bằng mới, thì có thể tự khỏi bệnh. Đó còn gọi là không điều trị mà khỏi bệnh.
Năm đó trong thời gian học y ở Doanh khẩu, một vị lãnh bộ họ Trương bị thương hàn, thời gian bị bệnh khá dài, trước sau trải qua một số y sinh điều trị, tốt cũng có mà kém cũng không nhiều, nhưng chỉ thấy bn nấc không ngừng, điều trị lâu không khỏi. Sau đó có một vị lão y sinh của Tân Dân Quận đến điều trị, sau khi hỏi qua bệnh sử, ông ta dùng Cánh mễ chử thang uống chiêu bột Tây dương sâm 2,3 phân. Uống được 6,7 ngày, chứng nấc biến chuyển tốt. Các y sinh khác cảm thấy kỳ lạ, tìm hỏi xem sự việc như thế nào? Lảo y sinh nói: “Trọng Cảnh nói rằng: : Phàm bệnh, nếu phát hãn, nếu thổ, nếu hạ, nếu vong huyết, vong tân dịch, âm dương tự hoà, tất khỏi bệnh. Bệnh nhân này đã trải qua rất nhiều ngày điều trị, tà khí tuy đã được trừ khứ, nhưng khí âm trong vị đã suy, vị khí không điều hoà, cho nên bị nấc. Nếu tái dùng thuốc tổn thương vị khí, chỉ có hại mà vô ích. Dùng Mễ thang (nước cơm) điều dưỡng, mượn khí ngũ cốc để dưỡng thân thể, lợi ích hơn thuốc, lại gia thêm một ít dương sâm để phụ trợ khí âm của vị, hiệu quả càng thêm lý tưởng.” Các y sinh nghe xong đều rất thán phục. Nhận thức của vị lão y sinh này gọi là đã có những thu hoạch từ việc học của mình.
Đoạn văn này minh xác mục đích điều trị của Đông y chính là cần đạt đến âm dương tự hoà. Trên lâm sàng có thể thông qua việc dùng thuốc điều trị để đạt được mục đích đó, cũng có thể không dùng thuốc mà thông qua công năng khôi phục và điều tiết tự thân để đạt được mục đích này. Nhưng tuyệt đối không thể mù quáng lạm dụng thuốc để phá hoại việc thực hiện mục đích này, là đi ngược lại tôn chỉ của y học.
59大下之后,复发汗,小便不利者,亡津液故也,勿治之,得小便利,必自愈。 C60
Điều 59
Đại hạ chi hậu, phục phát hãn, tiểu tiện bất lợi giả. Vong tân dịch cố dã, vật trị chi, đắc tiểu tiện lợi, tất tự dũ.
Dịch: Sau khi tả hạ mạnh, lại phát hãn, tiểu tiện không thuận lợi. Là do tân dịch bị hao tổn do hai phép hạ và hãn, không điều trị, tiểu tiện thông lợi, tất khỏi bệnh.
Đây là đoạn văn thí dụ về âm dương tự hoà tất khỏi bệnh.
Biểu lý cùng bệnh, điều trị nên giải biểu trước và công lý sau. Nếu như công hạ trước phát hãn sau, là điều trị không có thứ tự. Sau khi đại hạ lại phát hãn, xuất hiện tiểu tiện bất lợi, chính là vì phát hãn, tả hạ làm cho tân dịch bị tổn thương mà ra (mất nước), đồng thời không có thuỷ ẩm đình trệ bên trong. Vì thế, không thể thấy tiểu tiện bất lợi mà sử dụng nhầm các vị thuốc thấm lợi. Đối với những tình huống này, chủ yếu nên dùng ẩm thực thuỷ cốc để điều dưỡng, đợi tân dịch trong cơ thể dần dần hồi phục, tiểu tiện tự nhiên thông lợi. Tiểu tiện thông lợi phản ảnh âm dương đã tự hoà, vì thế nói rằng “Đắc tiểu tiện lợi, tất tự dũ” (Tiểu tiện thuận lợi, tất bệnh tự khỏi)
Đoạn văn này nói với chúng ta, không nên thấy tiểu tiện bất lợi mà dùng thuốc thấm lợi (lợi tiểu). Vì nếu chứng tiểu tiện bất lợi là do nguồn nước tiểu không đủ vì mất tân dịch, thì việc dùng các phương dược thấm lợi càng làm cho tân dịch bị tổn thương nhiều hơn, tiểu tiện càng thêm bất lợi. Vì thế, có thể thông qua ẩm thực thuỷ cốc điều dưỡng (ăn uống), “tư kỳ nguyên nhi khai kỳ lưu” (滋其源而开其流) thêm cho nguồn để mở dòng chảy, đợi tân dịch hồi sinh, nguồn sung túc, khi âm dương điều hoà, tiểu tiện tự nhiên sẽ thông lợi.
60下之后,复发汗,必振寒,脉微细。所以然者,以内外俱虚故也。C61
Điều 60
Hạ chi hậu, phục phát hãn, tất chấn hàn, mạch vi tế. Sở dĩ nhiên giả, dĩ nội ngoại câu hư cố dã.
Dịch: Sau khi dùng phép hạ, lại phát hãn, tất run rẩy, mạch vi tế. Sở dĩ như vậy, vì bên trong bên ngoài đều hư tổn.
Đoạn văn trình bày mạch chứng do điều trị nhầm làm tổn thương dương dẫn đến dương khí của Biểu và Lý (bên ngoài và bên trong) đều bị hư tổn.
Thái dương bệnh, nếu như sau khi dùng phép hạ lại phát hãn, điều trị không có trình tự, tà khí tuy được trừ khứ, nhưng chính khí cũng bị tổn thương. “Chấn hàn”(Run rẩy), đúng là hàn lãnh mà rét run, chính là chứng dương ở biểu không đầy đủ; “Mạch vi tế”, là mạch tượng của dương bên trong (lý) hư suy. Bệnh nhân sau khi đã trải qua tả hạ và phát hãn xuất hiện mạch chứng dương khí của biểu lý đều bị hư tổn, vì thế Trọng Cảnh đoán là chứng “Nội ngoại câu hư” (内外俱虚)Trong ngoài đều hư tổn. Căn bản của dương khí ở tạng thận, thiếu âm điều khiển toàn bộ dương khí trên cơ thể. Dương khí của biểu và lý đều hư, trên thực tế là dương của Thiếu âm đã suy.
Ở điều trước (60) là sau khi dùng phép hạ lại phát hãn mà làm tổn thương âm.
Trong điều này (61) sau khi hạ lại phát hãn mà tổn thương dương. Hai điều trước sau phối hợp, hỗ tương sáng tạo, chứng minh được nếu việc điều trị không thích đáng có thể dẫn đến rất nhiều biến chứng như tổn thương âm, tổn thương dương và mất điều hoà âm dương.
61下之后,复发汗, 昼日烦躁,不得眠,夜而安静,不呕不渴,无表证,脉沉微, 身无大热者,干姜附子汤主之。C62
Điều 61
Hạ chi hậu, phục phát hãn, trú nhật phiền táo, bất đắc miên, dạ nhi an tĩnh, bất ẩu bất khát, vô biểu chứng, mạch trầm vi, thân vô đại nhiệt giả, Can khương phụ tử thang chủ chi.
Dịch: Sau khi công hạ, lại phát hãn, ban ngày bực bội, không thể ngủ, ban đêm an tĩnh, không ẩu thổ không khát nước, không có biểu chứng, mạch trầm vi, thân không sốt cao, thang Can khương phụ tử chủ trị bệnh này.
Phương thang Can khương Phụ tử
Can khương 1 lạng.
Phụ tử 1 củ dùng sống, bỏ vỏ, bổ làm 8 mảnh hai vị thuốc trên dùng 3 thăng nước, đun cạn còn 1 thăng, bỏ bã, uống hết thật nhanh (đốn phục).
Đây là đoạn văn thảo luận điều trị chứng phiền táo (khó chịu bực bội) do dương hư âm thịnh.
Phàm các chứng biểu lý đồng bệnh, điều trị nên phát hãn trước tả hạ sau (tiên hãn hậu hạ). Nếu hạ trước phát hãn sau, thì gọi là điều trị sai lầm, bệnh không chỉ là không tốt, ngược lại còn khiến cho dương khí của Biểu và Lý (trong ngoài) đều bị tổn thương. Dương hư khiến cho âm thịnh, thịnh âm ảnh hưởng đến nhược dương (âm mạnh mẽ ảnh hưởng đến dương yếu nhược), nên xuất hiện phiền táo không yên tĩnh, dương vượng vào ban ngày, âm vượng vào ban đêm. Ban ngày nhược dương (dương yếu nhược) của cơ thể được dương của ngày tương trợ, nên có thể tương tranh với âm, vì thế xuất hiện phiền táo (bực bội) mà không ngủ được; Ban đêm là lúc âm khí nắm quyền nên dương yếu không thể đối kháng với âm thịnh, vì thế ban đêm bệnh nhân an tĩnh, chứng trạng phiền táo (khó chịu) thường gặp ở chứng dương nhiệt, như Thái dương bệnh có chứng phiền táo mà không xuất hãn hoặc phản phiền bất giải (uống thuốc không giải mà lại phiền táo), Dương minh bệnh có chứng rất phiền khát mà không giải, Thiếu dương bệnh có chứng tâm phiền ẩu thổ. Ở đây tuy thấy ban ngày phiền táo, nhưng không ẩu thổ, thì biết là không phải Thiếu dương bệnh; “Bất khát” là không có bệnh ở Dương minh; “Vô biểu chứng” là không có bệnh ở thái dương. Có thể nói ba kinh dương không có bệnh tà, mà lại thấy mạch “trầm vi”, mạch trầm chủ bệnh ở lý, vi chủ dương suy, chính là dương của Thiếu âm suy vi, trạng thái của âm hàn độc thịnh (âm mạnh một mình), cho thấy không còn nghi ngờ chứng ban ngày phiền táo không ngủ là thuộc về âm chứng. Tạng thận là gốc của âm dương, nếu âm thịnh dương suy quá độ, dương khí khó tàng trữ, sẽ có nguy cơ rời bỏ gốc rễ, hư dương vượt ra ngoài, bị bức lên trên gọi là “Đái dương” (đái = đội); bị đẩy ra ngoài, gọi là “Cách dương”, cả hai đều là triệu chứng báo trước của vong dương. Đái dương ở trên, mặt hồng như trang điểm; Cách dương ra ngoài, thân thể rất nóng mà thích mặc quần áo. Câu văn viết: “Thân vô đại nhiệt”, ẩn ý là còn một chút nhiệt, cho thấy còn lại một chút tàn dương may mà chưa hoàn toàn vượt ra ngoài. Vì thế, với thang tễ thuần cay nóng sắc gấp uống hết ngay (đốn phục), hết sức để có thể kéo lại tàn dương trong muôn một.
Thang Can khương Phụ tử gồm Can khương và Phụ tử, đều là hai vị thuốc rất cay nóng, có khả năng phục hồi dương tiên thiên và hậu thiên của tạng tỳ và thận. Vị phụ tử khi dùng sống tác dụng càng thêm mạnh mẽ. Một lần đốn phục (uống hết), khiến cho sức thuốc tập trung, thu được hiệu quả nhanh chóng. Phương này gia thêm Cam thảo có tên là thang Tứ nghịch. Gia thêm Thông bạch là Bạch thông thang, nếu không có triệu chứng âm thịnh dương uất, vì thế không dùng Bạch thông thang. Chứng này dương khí bạo hư (hư quá nhiều quá nhanh), âm hàn độc thịnh, hàn cực độ phát táo, tàn dương dục vong (Tàn dương muốn hết), nên không dùng Cam thảo ngại làm cho sức thuốc hoà hoãn, mà chỉ dùng Khương Phụ có tác dụng tấn mãnh (nhanh và mạnh) cấp tốc phù trợ dương để ức (chế) âm là ưu tiên quan trọng nhất.
62发汗后,身疼痛,脉沉迟者,桂枝加芍药生姜各一两人参三两新加汤主之。 C63
Điều 62
Phát hãn hậu, thân đông thống, mạch trầm trì giả, Quế chi gia Thược dược sinh khương các nhất lạng Nhân sâm tam lạng tân gia thang chủ chi.
Dịch: Sau khi phát hãn, thân thể đau nhức, mạch trầm trì, Quế chi gia Thược dược Sinh khương đều 1 lạng Nhân sâm 3 lạng tân gia thang chủ trị bệnh này.
Phương Quế chi gia Thược dược Sinh khương Nhân sâm tân gia thang:
Trong phương thang Quế chi, gia thêm thược dược, Sinh khương đều 1 lạng, Nhân sâm 3 lạng, theo phép uống của thang Quế chi.
Đoạn văn này trình bày mạch chứng và trị pháp của trường hợp sau khi phát hãn doanh khí bất túc (không đầy đủ).
Phép phát hãn ban đầu chính là để điều trị biểu chứng. Biểu chứng thường thấy thân thể đau nhức, sau khi xuất hãn biểu tà được giải, thân thể đau nhức đúng ra là phải hết. Nếu như sau khi phát hãn mà thân thể vẫn đau, vậy nguyên nhân là gì? Cần dựa theo mạch để biện chứng. Nếu như mạch phù, chính là biểu chứng không giải, có thể tái phát hãn. Nếu như mạch trầm và trì, trầm chủ bệnh trong lý, trì là huyết hư, cho thấy thân thể đau nhức không do biểu chứng, mà do phát hãn thái quá, doanh khí bị tổn thương, làm cho tứ chi và các khớp xương không được nuôi dưỡng mà dẫn đến đau nhức. Cần phải điều bổ doanh vệ, dùng Quế chi gia Thược dược Sinh khương đều 1 lạng Nhân sâm 3 lạng tân gia thang. Gọi là “tân gia thang”, chính là Trọng Cảnh tiên sinh sáng tạo dựa trên cơ sở thang Quế chi, trọng dụng Thược dược, Sinh khương, lại gia thêm Nhân sâm mà thành. Do đó có thể biết 113 phương trong {Thương Hàn Luận}, tuyệt đại đa số là do sưu tập mà được, không phải do cá nhân sáng tạo. Phương này với thang Quế chi điều hoà doanh vệ, gia nhiều Bạch thược để dưỡng doanh huyết, gia nhiều Sinh khương để khiến thuốc ra đến biểu, chuyên trị doanh vệ khí huyết không đầy đủ dẫn đến thân thể đau nhức. Hoàng kỳ ngũ vật thang trong (Kim Quỹ Yếu Lược) trị chứng **“Huyết tí”, chính là Quế chi thang khứ Cam thảo gia Hoàng kỳ mà thành Hoàng kỳ ngũ vật thang. Phương này dùng lượng Sinh khương lớn nhất, nguyên nhân chính là vị cay thông ra ngoài, có thể dẫn dắt sức thuốc ra ngoài biểu để trị chứng thân thể đau nhức;Tái gia thêm Nhân sâm, có thể bổ hư tổn sau khi phát hãn, ích khí sinh tân dịch, dưỡng doanh là những nhiệm vụ cần thiết.
Phương này trị chứng thân thể đau nhức do doanh vệ khí huyết bất túc có hiệu quả rất tốt. Người viết từng trị bệnh một phụ nữ, sau khi sanh con được nửa tháng, thân thể đau nhức không ngừng, uống Sinh hoá thang vô hiệu. Học sinh thực tập cho cô ta uống thang Bát trân, tuy hữu hiệu, nhưng chứng đau người không hết hẳn, Người viết chẩn bệnh lần 1, thấy cô ta sáu mạch đều vô lực, liền dùng nguyên phương Quế chi tân gia thang, sau 3 thang khỏi hẳn chứng đau người.
(**Huyết tí là bệnh lý mạch máu xảy ra ở tứ chi, nguyên nhân phần lớn là do co thắt kịch phát các động mạch ở đầu tứ chi, làm da tái xanh do thiếu máu cục bộ hoặc tím tái do thiếu oxy cục bộ.)
63发汗后,不可更行桂枝汤。汗出而喘,无大热者,可与麻黄杏仁甘草石膏汤主之。C64
Điều 63
Phát hãn hậu, bất khả canh hành Quế chi thang. Hãn xuất nhi suyễn, vô đại nhiệt giả, khả dữ Ma hoàng Hạnh nhân Cam thảo Thạch cao thang chủ chi.
Dịch: Sau khi phát hãn, không thể dùng lại thang Quế chi. Xuất mồ hôi mà suyễn, không nóng nhiều, có thể dùng Ma hoàng Hạnh nhân Cam thảo Thạch cao trị bệnh này.
Phương thang Ma hoàng Hạnh nhân Cam thảo Thạch cao :
Ma hoàng 4 lạng, bỏ đốt hạnh nhân 50 hạt, bỏ vỏ, đầu nhọn Cam thảo 2 lạng Thạch cao ½ cân, giã nhỏ bọc bằng bông tơ.
Bốn vị thuốc trên, dùng 7 thăng nước, đầu tiên đun vị Ma hoàng, cạn bớt 2 thăng, vớt bỏ bọt, cho hết thuốc vào, đun lấy 2 thăng, bỏ bãm uống lúc thuốc còn ấm 1 thăng. Bản gốc; Hoàng nhĩ bôi (một loại chén uống thuốc có hai tay cầm màu vàng)
Đoạn văn này thảo luận điều trị chứng suyễn do tà nhiệt tắc nghẽn ở tạng phế gây ra.
Phong hàn ở biểu, có thể dùng phép phát hãn. Nhưng nay ngoại tà bế uất, khi nhiệt tích chứa trong phế, nếu dùng các vị thuốc cay ấm để phát hãn, thường làm cho phế nhiệt tăng nặng. Tà nhiệt bức bách phế, phế không thanh túc (trong sáng nghiêm túc), nên xuất hiện chứng suyễn. Phế nhiệt bốc hơi, bức bách tân dịch tiết ra ngoài, nên thấy mồ hôi. Vì thế, xuất mồ hôi mà suyễn chính là một minh chứng của phế nhiệt. Xuất mồ hôi mà suyễn, nhưng không sợ gió lạnh, chính là biểu không có hàn tà, vì thế “bất khả canh hành Quế chi thang”(không thể dùng lại thang Quế chi); Hãn xuất mà suyễn, đồng thời không phải vô hãn mà suyễn, vì thế không thể dùng thang Ma hoàng. Như vậy là đem chứng suyễn của Thái dương biểu chứng loại bỏ ra ngoài. Xuất hãn mà suyễn, thân “vô đại nhiệt”, cũng không có chứng phiền khát, lại đem chứng suyễn của Dương minh nội nhiệt bức bách lên phế loại bỏ ra ngoài. Chẳng qua, cũng có những nhà chú thích đem “ vô đại nhiệt” coi như không có Thái dương biểu chứng để giải thích, cũng thông. Căn cứ vào quan sát trên lâm sàng, tà nhiệt tại phế gây suyễn, do phế hợp vệ mà chủ da lông, thường thường có thể thấy phát nhiệt, thậm chí sốt cao không hạ, vì thế không nên để câu “vô đại nhiệt” làm cho mê muội. Không có mồ hôi mà suyễn của Ma hoàng thang chứng đều chính là tà của Thái dương ảnh hưởng phế khí tuyên giáng gây ra (suyễn), mà chứng suyễn ở đây chính là tà nhiệt nghẹt tắc phế, phế không thanh túc (trong sạch nghiêm túc) mà thành suyễn, không có quan hệ với phong hàn. Trọng điểm của điều trị là ở thanh phế nhiệt, không ở phát hãn giải biểu, vì vậy phải dùng Ma Hạnh Cam Cao thang để điều trị bệnh.
Ma Hạnh Cam Cao thang gồm 4 thành phần: Ma hoàng, Hạnh nhân, Cam thảo, Thạch cao, chủ yếu để thanh phế nhiệt, trị suyễn. Trong phương Ma hoàng không phối với Khương Quế, chính là do không để phát hãn, mà chính là tuyên phế bình suyễn. Vô luận là hàn suyễn, nhiệt suyễn, chỉ cần phối ngẫu thoả đáng, Ma hoàng đều có thể sử dụng. Ma hoàng phối Thạch cao, thanh tuyên uất nhiệt trong phế, có thể trị chứng nhiệt suyễn. Lượng Thạch cao sử dụng đến nửa cân, nhiều hơn nhiều lần so với Ma hoàng, hiệu lực thanh phế nhiệt rõ rệt và rất dễ nhận ra; Hạnh nhân có tác dụng giáng phế khí, tá trợ Ma hoàng để trị ho suyễn; Cam thảo điều hoà chư dược, bổ trung ích khí.
Lâm sàng sử dụng phương này trị chứng phế nhiệt suyễn có hiệu quả rất tốt, nhất là đối với trẻ bị bệnh sởi biến chứng viêm phổi thuộc chứng phế nhiệt thì càng có thể tin vào hiệu quả điều trị. Căn cứ kinh nghiệm lâm sàng, với phế nhiệt nặng, có thể gia Linh dương giác phấn; Nhiều đàm nhiệt nghẹt tắc, thở gấp có tiếng rít của đàm, có thể gia Đại cáp tán, hoặc Tì bà diệp tươi; Suyễn mà đại tiện khó xuống, có thể gia Qua lâu bì, Tang bì nướng; Đại tiện phân khô cứng, có thể gia Đại hoàng, làm cho hạ khiếu thông thì thượng khiếu thuận lợi mà chứng suyễn tự khỏi; Phế khí không thuận lợi, ngột ngạt lồng ngực phiền muộn, có thể gia Đình lịch (ngọt) để trừ đàm nhiệt, nếu sởi không lộ ra, chẩn độc hãm ở trong, đến nỗi suyễn súc bất an, cánh mũi phập phồng, môi móng tím tái, có thể dùng thang Ngũ hổ, chính là Ma hạnh Cam thang gia trà lá thượng đẳng, đồng thời dùng kim tam lăng châm vào mạch máu màu tím phía sau tai cho xuất huyết, luôn luôn hữu hiệu. Tóm lại, chỉ cần theo chứng mà biến hoá gia giảm, có nhiều khả năng thu hoặch được kết quả điều trị tốt.
64发汗过多,其人叉手自冒心,心下悸,欲得按者,桂枝甘草汤主之。C65
Điều 64
Phát hãn quá đa, kỳ nhân thoa thủ tự mạo tâm, tâm hạ quý, dục đắc án giả, Quế chi Cam thảo thang chủ chi.
Dịch: Phát hãn quá nhiều, bệnh nhân hai tay ôm lấy tim, tim hồi hộp, thích ấn nắn, thang Quế chi Cam thảo trị bệnh này.
Phương thang Quế chi Cam thảo : Quế chi 4 lạng bỏ vỏ, Cam thảo 2 lạng, hai vị thuốc trên dùng 3 thăng nước, nấu còn 1 thăng, bỏ bã, uống hết (đốn phục).
Đoạn văn này thảo luận điều trị chứng sợ hãi do tâm dương bất túc gây ra.
“Dương gia vu âm vị chi hãn” (阳加于阴谓之汗)Dương thêm vào âm gọi là hãn, mồ hôi là chất dịch của tâm, do dương khí chưng hoá mà thành. Vì thế, xuất quá nhiều mồ hôi tất nhiên tâm dương sẽ bị tổn háo, tâm dương bị tổn thương, tạng tâm mất đi sự che chở của dương khí, trống rỗng không vững vàng, nên trong tim hồi hộp và thích đè giữ, để an định chứng hồi hộp, chính là “Ngoại hữu sở hộ, tắc nội hữu sở thị” (外有所护,则内有所恃)bên ngoài có bảo hộ, bên trong có nương dựa, cũng chính là câu :“Kỳ nhân thoa thủ tự mạo tâm, tâm hạ quý, dục đắc án”(Dùng tay ôm lấy vùng tim, tim đập nhanh muốn được ấn giữ ). Căn cứ vào những quan sát trên lâm sàng, bệnh nhân còn có những hội chứng như phiền muộn không thoải mái ở tâm tiền khu (vùng ngực trái phía trước tim). Thang Quế chi Cam thảo do hai vị Quế chi và Cam thảo hợp thành, Vị Quế chi cay ngọt có tác dụng bổ tâm dương, Cam thảo ngọt ấm tư bổ tâm dịch, hai vị thuốc hợp lại, cay và ngọt hợp lại hoá thành dương, để chủ yếu bổ dương, dương sinh âm hoá cung cấp cho tâm. Tâm dương sung mãn thì chứng hồi hộp tự an. Thang Quế chi khứ Thược dược điều trị chứng Thái dương bệnh sau khi dùng phép hạ bị đầy ngực, mạch súc, ngoại trừ hai vị thuốc trên còn có Sinh khương, Đại táo, có ý điều hoà vinh vệ; Thang Quế chi Cam thảo dùng đơn độc cay ngọt hợp lại hoá trợ dương (tân cam hoá dương), không dùng Sinh khương, Đại táo, chính là có ý muốn sức thuốc truyền nhanh đến thẳng vị trí bệnh. Tuy nhiên chứng này trên lâm sàng cũng có thể xuất hiện chứng trạng tức ngực, đây là do dương hư không kiện vận gây nên không phải do tà khí gây trở ngại, vì thế trong điều trị chỉ nên ôn bổ tâm dương.