Từ điều 45 đến 54
45太阳病,先发汗不解,而复下之,脉浮者不愈。浮为在外,而反下之,故令 不愈。今脉浮,故知在外,当须解外则愈,宜桂枝汤主之。(C46)
Điều 45
Thái dương bệnh, tiên phát hãn bất giải, nhi phục hạ chi, mạch phù giả bất dũ. Phù vi tại ngoại, nhi phản hạ chi, cố linh bất dũ. Kim mạch phù, cố tri tại ngoại, đương tu giải ngoại tắc dũ, nghi Quế chi thang chủ chi.
Dịch: Thái dương bệnh, trước tiên phát hãn không giải, lại tả hạ, mạch phù bệnh không khỏi. Mạch Phù là bệnh ở bên ngoài, mà lại hạ, nên không khỏi. Nay mạch phù, biết là bệnh còn ở ngoài, nếu giải biểu bệnh sẽ khỏi, nên dùng thang Quế chi trị bệnh này.
Đoạn văn này trình bày Thái dương bệnh sau khi dùng hãn pháp, hạ pháp bệnh không được giải trừ vẫn có thể lại dùng hãn pháp.
Thái dương bệnh, bệnh này nên dùng phép phát hãn để giải trừ bệnh. Hiện tại chính là “Tiên phát hãn bất giải” (Trước tiên phát hãn không giải trừ được bệnh), điều này cho thấy có khả năng là biểu lý cùng bị bệnh, hoặc phát hãn không đúng phép, hoặc do bệnh nặng thuốc nhẹ, dẫn đến một lần phát hãn không thể giải trừ bệnh. Biểu tà đã không giải, nên phát hãn lại một lần nữa, tức là nếu có lý chứng cũng không công hạ. Nếu không, hạ nhầm sẽ gây tổn thương chính khí, dẫn đến biểu tà hãm vào trong, biến sinh bệnh khác. Hiện tại chính là biểu tà không giải mà lại công hạ, mạch vẫn thấy phù, cho thấy bệnh vẫn ở Thái dương, không truyền vào trong. “浮为在外,而反下之,故令不愈” “Phù vi tại ngoại, nhi phản hạ chi, cố linh bất dũ”(Phù là bệnh ở ngoài, nếu mà tả hạ, sẽ không khỏi bệnh) Chính là tập trung vào câu, chỉ ra nguyên nhân bệnh không được giải trừ chính là nên phát hãn mà không phát hãn, lại dùng phép công hạ. Vì hiện tại bệnh này phát sinh sau khi dùng hãn pháp và hạ pháp, tuy nhiên nên tái dụng hãn pháp, cũng không thể dùng thang Ma hoàng có tác dụng phát hãn mạnh mẽ, mà nên sử dụng thang Quế chi.
Thái dương bệnh, một lần phát hãn bệnh không giải có thể phát hãn lại; Dương minh bệnh hạ một lần dư nhiệt tụ lại, có thể tái dụng hạ pháp. Chứng cứ trên lâm sàng nên dùng biện chứng làm chuẩn mực, có chứng nào thì dùng phép đó, ngàn vạn lần không nên dao động.
46太阳病,脉浮紧,无汗,发热,身疼痛,八九日不解,表证仍在,此当发其汗。 服药已,微除,其人发烦目瞑。剧者必衄, 衄乃解,所以然者,阳气重故也。麻黄汤主之。(C47)
Điều 46
Thái dương bệnh, mạch phù khẩn, vô hãn, phát nhiệt, thân đông thống, bát cửu nhật bất giải, biểu chứng nhưng tại, thử đương phát kỳ hãn. Phục dược dĩ, vi trừ, kỳ nhân phát phiền mục minh. Kịch giả tất nục, nục nãi giải, sở dĩ nhiên giả, dương khí trọng cố dã. Ma hoàng thang chủ chi.
Dịch: Thái dương bệnh, mạch phù khẩn, không mồ hôi, phát nhiệt, thân thể đau nhức, 8,9 ngày không giải, biểu chứng còn đó, lúc này nên phát hãn. Đã uống thuốc, vi trừ, bệnh nhân phát phiền nhắm mắt. Nặng thì chảu máu mũi, máu mũi ngừng, nguyên cớ vì sao, dương khí trọng, Ma hoàng thang trị bệnh này.
Đoạn văn này trình bày Thái dương thương hàn, kéo dài lâu ngày, sau khi uống thang Ma hoàng có khả năng phát sinh tình huống hết chảy máu mũi, đồng thời chỉ ra dấu hiệu báo trước chứng chảy máu mũi (tỵ nục) và nguyên nhân giải trừ chứng chảy máu mũi (tỵ nục). “Ma hoàng thang chủ chi” nên tiếp vào phía sau của “Thử đương phát kỳ hãn”.
Thái dương bệnh, xuất hiện mạch phù khẩn, không mồ hôi, phát nhiệt, thân thể đau nhức, chính là điển hình của chứng Thái dương thương hàn biểu thực. Nếu như chứng này kéo dài 8,9 ngày chưa khỏi, thì vẫn phải dùng thang Ma hoàng để phát hãn. Nếu sau khi uống thuốc bệnh nhân xuất hiện không ra mồ hôi mà phiền táo (bực bội), thuộc chứng biểu tà bế uất quá nặng, dương nhiệt nội uất của chứng Đại thanh long thang. “Phục dược dĩ, vi trừ”, đúng là nói xuất một chút mồ hôi, hội chứng có chút giảm nhẹ, nhưng không triệt để. Tại sao không khai xuất ở thời điểm này để khỏi bệnh? Đó chính là do vệ bế doanh thực, lại không được trị liệu kịp thời, kéo dài 8,9 ngày, khiến dương khí bị ngăn cản đè nén quá mức, tức “Dương khí trọng cố dã”. Lúc này sử dụng thang Ma hoàng , cũng chỉ vỏn vẹn xuất được một chút mồ hôi, khiến cho tà ở vệ phận giảm nhẹ, mà tà khí trong doanh phận không thể hết được. Cho dù như thế, sau khi uống thuốc được sức thuốc trợ giúp, khiến dương khí mạnh mẽ, lại có khả năng xuất hiện tình huống chiến hãn (lạnh run và xuất mồ hôi) để giải bệnh hoặc chảy máu mũi để giải bệnh. Hai loại tình huống tự giải thường gặp ở trường hợp tà khí thịnh, bệnh nhân có thể chất khá cường tráng.
Đoạn văn trình bày tình huống chảy máu mũi (tỵ nục) làm giải cứu bệnh. Tỵ nục tác giải (Chảy máu mũi để giải bệnh), còn gọi là “Hồng hãn” (Mồ hôi đỏ), chính là tà khí không thể giải ra ngoài, dương khí uất trệ quá độ, bên trong bức bách doanh phận, bức bách huyết vọng hành (huyết đi không đúng đường) theo đường mũi xuất ra ngoài. Mồ hôi và máu đồng nguyên (có cùng nguồn), tà khí không thể giải theo mồ hôi, thì có thể giải theo máu mũi (nục). Trước khi giải bằng nục, do dương khí phát động, muốn trừ khứ tà khí ra ngoài, chính tà tương tranh, bệnh nhân thường xuất hiện các chứng báo trước như phiền nóng, sợ ánh sáng hoặc vựng đầu. Sau khi chảy máu mũi, hàn tà ở doanh phận theo đó mà được trừ khứ, mọi chứng theo đó mà khỏi. Quá trình này hoặc gọi là “Nục dĩ đại hãn” (衄以代汗)Máu mũi thay cho mồ hôi, hoặc “Xuất hồng hãn” (出红汗)Xuất mồ hôi đỏ, “Xuất đại hàn” (出大寒)Xuất lạnh.
47 太阳病,脉浮紧,发热身无汗,自衄者愈。
C48
Điều 47
Thái dương bệnh, mạch phù khẩn, phát nhiệt thân vô hãn, tự nục giả dũ.
Dịch: Thái dương bệnh, mạch phù khẩn, phát nhiệt không xuất mồ hôi, tự chảy máu mũi để khỏi bệnh.
Đoạn văn này trình bày tiếp theo điều tái luận chứng Thái dương thương hàn biểu thực có thể tự chảy máu mũi để giải bệnh.
“Mạch phù khẩn, phát nhiệt thân vô hãn” (脉浮紧,发热身无汗) Mạch phù khẩn, phát sốt, trên người không có mồ hôi, không nghi ngờ đây chính là thuộc Thái dương thương hàn biểu thực. Thái dương thương hàn biểu thực, nếu như chưa phát hãn, thì dương khí tất nhiên bị bế tắc đè nén khá nặng, tà khí bức bách bên trong doanh phận, đối với thân thể bệnh nhân khoẻ mạnh mà nói, cơ thể của người này phát huy năng lực kháng bệnh tự nhiên, sẽ có khả năng xoay chuyển trừ khứ bệnh tà ra ngoài, mà con đường thường là chảy máu mũi, thông qua nục huyết ( chảy máu mũi), có thể khu trừ hàn tà của doanh phận ra ngoài. Nếu như bệnh nhân không thể chảy máu mũi để tự khỏi bệnh, cũng có thể suy xét cân nhắc, đến biện pháp châm phóng huyết (châm nặn cho ra máu). Hiện tại trong dân gian vẫn còn sử dụng các phương pháp này để trị liệu các loại nhiệt bệnh, chính là đạo lý này. Thí dụ, đối với những bệnh nhân ngoại cảm sốt cao tỵ nục (chảy máu mũi), sử dụng tam lăng châm xuất huyết ở các huyệt như Khúc trì, Thiếu Thương, Thái dương, đều thu được hiệu quả trị liệu. Vì thế đối với bệnh nhân ngoại cảm sốt cao phát sinh tỵ nục trên lâm sàng, cũng nên nghĩ đến khả năng xoay chuyển tự giải, không nên khinh dị dùng thang Tê giác địa hoàng là thang thuốc lương huyết (mát máu) dẫn đến đóng băng tà khí.
48二阳并病,太阳初得病时,发其汗,汗先出不彻,因转属阳明,续自微汗出, 不恶寒。若太阳病证不罢者,不可下,下之为逆,如此可小发汗。设面色缘缘正赤者,阳气郁在表,当解之、熏之;若发汗不彻,不足言阳气怫郁不得越,当汗不汗,其人躁烦,不知痛处, 乍在腹中, 乍在四肢,按之不可得,其人短气,但坐,以汗出不彻故也,更发汗则愈。何以知汗出不彻,以脉涩故也。(C49)
Điều 48
Nhị dương tính bệnh, Thái dương sơ đắc bệnh thời, phát kỳ hãn, hãn tiên xuất bất triệt, nhân chuyển thuộc dương minh, tục tự vi hãn xuất, bất ố hàn. Nhược Thái dương bệnh chứng bất bãi giả, bất khả hạ, hạ chi vi nghịch, như thử khả tiểu phát hãn. Thiết diện sắc duyên duyên chính xích giả, dương khí uất tại biểu, đương giải chi, huân chi; Nhược phát hãn bất triệt, bất túc ngôn dương khí phất uất bất đắc việt, đương hãn bất hãn, kỳ nhân táo phiền, bất tri thống xử, xạ tại phúc trung, xạ tại tứ chi, án chi bất khả đắc, kỳ nhân đoản khí, đãn toạ, dĩ hãn xuất bất triệt cố dã, canh phát hãn tắc dũ. Hà dĩ tri hãn xuất bất triệt, dĩ mạch sáp cố dã.
Dịch: Hai kinh dương cùng bị bệnh, Thái dương khi mới bị bệnh, xuất mồ hôi, mồ hôi xuất không triệt để, là nguyên nhân chuyển bệnh thuộc dương minh, tiếp tục xuất mồ hôi nhẹ, không sợ lạnh. Nếu Thái dương bệnh chứng không ngừng lại, không thể dùng phép hạ, hạ là nghịch, như vậy có thể phát hãn nhẹ, sắc mặt xung quanh có màu đỏ, biểu hiện của dương khí uất tại biểu, nên giải, nên xông; Nếu phát hãn không triệt để, không đủ dương khí uất tức không vượt được, cần hãn lại không phát hãn, dễ gây bực bội, không biết đau ở đâu? Lúc đau trong bụng, lúc đau ở tứ chi, ấn nắn không thấy được, bệnh nhân hơi thở ngắn, chỉ ngồi, với chứng xuất hãn không triệt để, phát hãn thêm nữa thì khỏi bệnh, làm sao để biết hãn xuất không triệt để, thấy mạch sáp là biết.
Đoạn văn này trình bày nguồn gốc, hội chứng và trị liệu của Thái dương Dương minh cùng lúc bị bệnh, có thể phân thành 3 đoạn để tiến hành phân tích. Đoạn thứ nhất từ “Nhị dương tính bệnh” (Hai kinh dương cùng bị bệnh)đến “Tục tự vi hãn xuất, bất ố hàn” (tiếp tục xuất mồ hôi nhẹ, không sợ lạnh), chủ yếu trình bày nguồn gốc của Thái dương Dương minh cùng bị bệnh. Thái dương bệnh mồ hôi xuất ra không triệt để, có thể chuyển thuộc Dương minh. Khi kinh Thái dương bị bệnh trong thời gian đầu, dùng phép phát hãn là rất chính xác. Nhưng nếu phát hãn không đủ triệt để, cũng không đạt được mục đích trừ khứ tà khí. Tà ở biểu không được giải trừ, sẽ có khả năng chuyển vào kinh Dương minh, kinh Dương minh là kinh nhiều khí nhiều huyết, dương khí hưng vượng. Nhiệt bên trong mạnh, bức bách tân dịch vượt ra ngoài, nên thấy xuất mồ hôi; Biểu tà đã hết, nên không còn sợ lạnh. Vì thế, xuất mồ hôi, không sợ lạnh chính là toàn bộ biểu tà đã vào trong (nhập lý), biểu hiện đã hình thành của chứng dương minh táo nhiệt, trị liệu nên dùng phép hạ.
Đoạn thứ hai từ “Nhược Thái dương bệnh chứng bất bãi giả” (Nếu bệnh chứng của kinh Thái dương ừkhông ngưng lại)đến “Đương giải chi huân chi”, chủ yếu trình bày về chứng và trị liệu hai kinh Thái dương và Dương minh cùng bị bệnh. Nếu chỉ có một bộ phận bệnh tà của Thái dương nhập lý mà bệnh chứng của Thái dương không ngừng, như thế gọi là “Nhị dương tính bệnh”(Hai kinh dương cùng bệnh). Nhị dương cùng bệnh, tà khí nhập lý cùng vào Dương minh, lại có sự khác nhau của nhập vào phủ với nhập vào kinh. Nếu như Thái dương biểu chứng không ngừng, tức là khiến cho Dương minh táo nhiệt đã được tạo thành, cũng không thể dùng ngay phép hạ, nếu không sẽ khiến biểu tà hãm vào trong mà phát sinh biến chứng, vì thế nên giải biểu trước công lý sau. Do một phần tà khí đã nhập lý rồi, nên tà khí ở biểu cũng đã giảm nhẹ, nếu như dùng phép phát hãn mạnh, sẽ khiến tân dịch xuất ra ngoài, lại hỗ trợ chứng táo nhiệt ở kinh Dương minh, vì thế chỉ nên dùng phép tiểu hãn (phát hãn nhẹ) là đủ. Nếu như biểu tà Thái dương không ngừng, một phần tà khí truyền vào Dương minh, sẽ xuất hiện “Diện sắc duyên duyên chính xích” (sắc mặt đỏ). Xích là màu đỏ đậm, chính xích là màu hồng sẫm. “Duyên duyên chính xích” là chỉ sắc hồng đầy mặt, mà từ ngoài da đến tầng sâu hơn đều rất hồng. Loại màu hồng này không phải là màu hồng cục bộ, cũng không phải phù hồng hoặc phiếm hồng, nộn hồng (hồng non), hoàn toàn khác với sắc mặt đỏ của hư dương thượng phù. Đồng thời, loại màu hồng này cũng tương tự “Dĩ bất đắc tiểu hãn xuất”(Không xuất được chút mồ hôi) mà có sắc mặt hồng sẫm như mặt có sắc nóng vì tiểu tà không được giải. Vì tà khí trong kinh Dương minh bế uất không tán, khiến dương khí không thể vượt ra, cho nên. còn ứng kèm một số chứng như ghét lạnh, phát nhiệt. “Đương giải chi huân chi” (Nên giải nên xông), đều là nói về hãn pháp, có thể dùng thang Cát căn thanh giải Dương minh kinh nhiệt, kiêm giải Thái dương biểu tà.
Đoạn thứ 3 từ “Nhược phát hãn bất triệt” (Nếu phát hãn không triệt để) đến cuối, tiến thêm một bước trình bày nguồn gốc và chủ chứng của hai kinh dương cùng bị bệnh. Tạo thành nguyên nhân hai kinh dương cùng bị bệnh, chính là Thái dương bệnh phát hãn không triệt để gây ra. Cần phát hãn lại không phát hãn, không chỉ không có khả năng khiến biểu tà phát tán, mà còn khiến dương khí ứ đọng không thể vượt phát. Dương khí bế uất tiến thêm một bước mà hoá nhiệt, nên xuất hiện bực bội. Tà khí bế tắc bên ngoài, phế khí không thuận lợi, nên xuất hiện “Đoản khí, đãn toạ”(hơi thở ngắn, chỉ ngồi), mà không thể nằm ngửa. Thái dương chủ da lông, Dương minh chủ cơ nhục, hai kinh này tà khí không giải, khí doanh vệ trệ sáp không thuận lợi, sẽ xuất hiện đau bất định, lúc thì đau ở bụng, lúc lại đau ở tứ chi, như nếu có ấn nắn cũng không tìm được điểm đau rõ ràng. Nghiên cứu nguyên nhân, những chứng trạng trên đều chính là hãn xuất không triệt để, kinh khí của hai kinh dương bế uất mà ra. Làm sao để biết chính là do hãn xuất không triệt để? Ngoài những chứng trên, còn có thể thấy mạch sáp trệ. Mạch sáp phản ảnh tà khí ngưng trệ chưa tan, doanh vệ bị chèn ép không thông sướng. Trị liệu nên tái phát hãn, để sơ giải biểu tà của hai kinh dương, có thể điều trị tốt bệnh này.
49脉浮数者,法当汗出而愈。若下之,身重心悸者,不可发汗,当自汗出乃解。所以然者,尺中脉微,此里虚,须表里实,津液自和,便自汗出愈。(C50)
Điều 49
Mạch phù sác giả, pháp đương hãn xuất nhi dũ. Nhược hạ chi, thân trọng tâm quý giả, bất khả phát hãn, đương tự hãn xuất nãi giải. Sở dĩ nhiên giả, xích trung mạch vi, thử lý hư, tu biểu lý thực, tân dịch tự hoà, tiện tự hãn xuất dũ.
Dịch: Mạch phù sác, lẽ ra xuất hãn là khỏi bệnh. Nếu dùng phép tả hạ, thân thể nặng nề hồi hộp, không thể phát hãn, nên để tự hãn là giải. Vì sao như thế, mạch vi ở xích bộ, là lý hư, đợi đến biểu lý thực, tân dịch tự hoà, liền tự hãn xuất ra mà khỏi bệnh.
Đây là đoạn văn thảo luận trị liệu của thương hàn xen lẫn hư chứng.
“Mạch phù sác”, hàm chứa ý của mạch phù khẩn. Thông thường, mạch phù khẩn có hàm chứa hình tượng sác, mạch phù hoãn hàm chứa ý của mạch trì. Mạch phù khẩn, chứng minh chính là chứng Thái dương thương hàn, nên cần dùng thang Ma hoàng phát hãn. Nếu như dùng lầm phép hạ, sẽ gây tổn thương khí ở trong. Chính khí bị tổn thương, khí hư không có lực nên thân thể nặng nề. Khí hư nên tâm không có nơi làm chủ, xuất hiện tâm hồi hộp. Nếu như biểu tà còn đó, chính là thương hàn xen lẫn hư chứng, không thể tái sử dụng phép phát hãn. Sau khi hạ nhầm làm cho chính khí hư tổn, không chỉ có biểu hiện là thân thể nặng nề, hồi hộp, mà còn từ “Xích trung mạch vi” (mạch vi ở bộ xích) cũng có thể chứng thực. “Xích trung mạch vi”, chỉ về xích mạch vi. Xích bộ là tình hình của bên trong (hậu lý), là tình hình của thận, vi là mạch hư chứng, xích mạch vi phản ảnh khí bên trong đã bị hư tổn, lúc này lại phát hãn nhầm cho người hư tổn, sẽ làm cho tà khí chưa bị trừ khứ, mà chính khí đã bị tổn hại, khiến cho tình trạng bệnh xấu đi (ác hoá). Như vậy phải xử lý thế nào cho tốt? Một mặt có thể dùng ẩm thực để điều dưỡng, chờ đợi chính khí hồi phục, âm dương tự hoà, chính khí của biểu lý đầy đủ, có khả năng trừ khứ tà ra ngoài, là có thể tự hãn xuất mà khỏi bệnh. Trên phương diện khác, nếu không có khả năng tự khỏi bệnh, tuy chờ đợi lâu ngày, chính khí không thể hồi phục, biểu tà cũng không thể tự giải, căn cứ vào chủ trương của các y gia hậu thế, có thể dùng thang Tiểu kiến trung để phù trung bổ hư, điều hoà vinh vệ, đó gọi là “Thực nhân thương hàn phát kỳ hãn, hư nhân thương hàn kiện kỳ trung” (实人伤寒发其汗,虚人伤寒建其中)Người khoẻ mạnh bị bệnh thương hàn thì phát hãn, người hư yếu thương hàn thì bổ trung.
Trong {Thương hàn luận} có phương xung phong hãm trận, có thuốc mạnh mẽ cường liệt, như đao búa tấn công bệnh trục tà, cũng chu toàn tỉ mỉ, vô cùng cẩn thận trong việc khiển phương dụng dược, còn dùng phép điều dưỡng để hy vọng chính khí hồi phục. Đó chính là dựa theo tình huống bệnh, tình huống của cơ thể mà có những phương pháp, phương thức chế định và thích nghi, ước lượng hư, thực để dụng phương, những sự việc này được gọi là mô hình mẫu mực của biện chứng luận trị.
50脉浮紧者,法当身疼痛,宜以汗解之。假令
尺中迟者,不可发汗。何以知之然?以荣气不足,血少故也。C51
Điều 50
Mạch phù khẩn giả, pháp đương thân đông thống, nghi dĩ hãn giải chi. Giả linh xích trung trì giả, bất khả phát hãn. Hà dĩ tri chi nhiên? Dĩ vinh khí bất túc, huyết thiểu cố dã.
Dịch: Mạch phù khẩn, cùng với thân thể đau nhức, nên phát hãn để giải. Giả như mạch xích trì, không thể phát hãn. Vì sao biết như vậy? Nguyên nhân là do vinh khí không đủ và huyết ít.
Đây là đoạn văn tiến thêm một bước phân tích nguyên tắc thương hàn xen lẫn hư chứng không thể phát hãn.
“Mạch phù khẩn”, nếu như mạch âm dương đều khẩn, thì đúng là mạch của chứng Thái dương thương hàn biểu thực. Thương hàn biểu thực, hàn tà ngưng trệ, doanh vệ không thuận lợi, tất nhiên cơ thể sẽ đau nhức, nên phải dùng thang Ma hoàng để phát hãn. Đây chính là có ý “Mạch phù khẩn giả, pháp đương thân đông thống, nghi dĩ hãn giải chi”. Nhưng nếu người này mạch âm dương đều không khẩn, mà trong bộ xích có mạch trì, bộ xích là biểu hiện của tình hình bên trong, trì là trạng thái của doanh huyết sáp trệ bất túc (không đầy đủ), do đó đây là hiện tượng của lý hư. Người hư yếu bị ngoại cảm, tuy có biểu tà, cũng kỵ dùng phép phát hãn. Nếu không, phát hãn mạnh cho người hư yếu là phạm vào điều cấm kỵ “Đoạt hãn giả vô huyết” (Phát hãn mạnh sẽ ảnh hưởng đến máu), sẽ càng tổn thương doanh huyết và bức bách chân âm.
Hứa Thúc Vi ghi lại trong《Phổ Tế Bản Sự Phương》 dưới dạng một y án : Có một người ở quê cũ bị bệnh thương hàn, chẩn bệnh bệnh nhân phát nhiệt đau đầu, phiền khát, mạch tuy phù sác nhưng vô lực, xích bộ trì mà nhược. Ta viết: Tuy thuộc Ma hoàng chứng, mà xích bộ trì nhược. Trọng Cảnh viết: Xích trung trì giả, vinh khí không đủ, huyết khí vi thiếu (rất ít), vị khả phát hãn (尺中迟者,荣气不足,血气微少,未可发汗) Mạch xích trì, là biểu hiện của vinh khí không đầy đủ, huyết rất ít, chưa thể phát hãn. Ta cho uống Hoàng kỳ kiến trung thang gia Đương quy Hoàng kỳ. Ngày hôm sau mạch vẫn thế, gia đình thúc ép, ngày đêm hối thúc uống thuốc phát hãn, lời nói không nể nang kiêng dè. Ta nhẫn nại, vẫn chỉ dùng Kiến trung điều doanh mà thôi. Đến ngày thứ 5, xích bộ mới ứng, liền dùng thang Ma hoàng, uống lần thứ 2, bệnh nhân phát cuồng, một lát sau thì ổn định, ngủ và xuất hãn. Tin và hiểu sự việc này là rất khó. Trọng Cảnh tuy nói rằng không kiêng ngày đêm, tức là điều trị khi thuận tiện; Thày thuốc phải xem xét biểu lý hư thực, chờ đợi lâu dài. Nếu không theo trình tự, tạm thời được bằng an, nhưng ngũ tạng bị tổn hại, rút ngắn tuổi thọ, là thứ không gì quý bằng. Có thể thấy Hứa thị có nhận thức rất sâu sắc đối với nguyên tắc “Hư nhân thương hàn kiện kỳ trung” (虚人伤寒建其中)Người hư yếu bị bệnh thương hàn nên bổ trung). Tuy nhiên hậu thế đối với những phương pháp trị liệu cho người hư yếu bị ngoại cảm có không ít phát triển mới, như trợ dương giải biểu, ích khí giải biểu, tư âm giải biểu v.v…, nhưng khi sử dụng những phương tễ phát hãn cho người hư yếu nên chú ý cẩn thận. Còn như sử dụng thang Ma hoàng để phát hãn (cho người hư yếu) là điều tuyệt đối cấm kỵ.
51「脉浮者,病在表,可发汗,宜麻黄汤。(C52)
52脉浮而数者,可发汗,宜麻黄汤。C53
Điều 51
Mạch phù giả, bệnh tại biểu, khả phát hãn, nghi Ma hoàng thang.
Dịch: Mạch phù, bệnh tại biểu, có thể phát hãn, nên dùng thang Ma hoàng.
Điều 52
Mạch phù sác giả, khả phát hãn, nghi Ma hoàng thang.
Dịch: Mạch phù sác, có thể phát hãn, nên dùng thang Ma hoàng.
Đây là 2 điều tiếp nối và so sánh với điều trước, chỉ ra rằng phàm là Thái dương biểu thực chứng, mà mạch xích không vi, không trì thì có thể cân nhắc dùng thang Ma hoàng để phát hãn.
Mạch phù chủ biểu, sác có ý của khẩn. Xét theo câu “Có thể phát hãn, nên dùng Ma hoàng thang”, chứng đương thuộc Thái dương thương hàn biểu thực, nên phát hãn để giải biểu, dùng thang Ma hoàng. Nhưng nhất định phải là mạch âm dương đều khẩn thì mới có thể dùng, Nếu như xích mạch vi hoặc trì thì cấm dùng phép phát hãn. Vì thế, ở đây viết là mạch phù hoặc mạch phù sác, ý ở ngoài lời nói (ý tại ngôn ngoại), đúng là xích mạch không vi không trì, thì mới “nên dùng thang Ma hoàng”, mà không cấm.
53病常自汗出者,此为荣气和。荣气和者,外不谐,以卫气不共荣气和谐尔。以荣行脉中,卫行脉外,复发其汗,荣卫和则愈,宜桂枝汤。(C54)
Điều 53
Bệnh thường tự hãn xuất, thử vi vinh khí hoà. Vinh khí hoà giả, ngoại bất hài, dĩ vệ khí bất cộng vinh khí hoà hài nhĩ. Dĩ vinh hành mạch trung, vệ hành mạch ngoại, phục phát kỳ hãn vinh vệ hoà tắc dũ, nghi Quế chi thang.
Dịch: Bệnh thường tự hãn, đó là vinh khí hoà. Vinh khí hoà, bên ngoài không hài hoà, vì vệ khí không cùng vinh khí hài hoà. Vì vinh tuần hành trong mạch, vệ tuần hành ngoài mạch, lại phát hãn, vinh vệ hoà thì khỏi bệnh, nên dùng thang Quế chi.
Đây là đoạn văn phân tích chứng và trị liệu của Vinh Vệ bất hoà, thường tự xuất mồ hôi(tự hãn).
“Bệnh” là chỉ chung những người đã bị bệnh, Có chứng thường xuyên tự xuất hãn, Chính là do vinh khí không bị bệnh mà do vệ khí ở ngoài không hài hoà với vinh khí. Trong tình huống sinh lý bình thường, Vinh khí tuần hành trong mạch là giữ gìn Vệ khí, vệ khí tuần hành ngoài mạch là sai khiến của vinh khí, vinh thêm cho vệ mà khiến vệ khí không vượt quá, vệ bảo hộ vinh khiến cho vinh âm không thoát ra, cả hai hỗ tương sử dụng, hỗ tương chế ước. Nếu vệ khí bên ngoại và vinh khí chia lìa không cùng nhau, vệ khí mất đi tác dụng bảo hộ bên ngoài cho vinh, khiến cho vinh khí không thể giữ gìn bên trong (nội thủ), nên thường tự hãn. Tuy nhiên bản thân vinh khí không bị bệnh, nhưng vệ khí không kín đáo vững vàng. Cả hai vẫn tiếp tục không thể hỗ tương hài hoà, tức là “Vì vệ khí không cùng vinh khí hài hoà mà thôi”. Đây là loại tự hãn do doanh vệ bất hoà, có thể dùng thang Quế chi để điều trị. Vì bệnh này là tự hãn xuất, lại dùng Quế chi thang phát hãn, cho nên nói “Phục phát kỳ hãn”(Lại phát hãn). Thang Quế chi có tác dụng tư âm hoà dương, điều hoà vinh vệ, với việc phát hãn có thể khiến vinh vệ hoà hợp, vệ ngoại là kiên cố bền vững, vinh âm coi giữ bên trong, thì chứng xuất mồ hôi tự khỏi. đây chính là phương pháp dùng phát hãn để chỉ hãn (cầm mồ hôi).
Đối với đoạn văn viết về chứng tự hãn của vinh vệ bất hoà, các nhà chú thích có hai loại giải thích khác nhau. Một loại ý kiến cho rằng nguyên nhân của vệ khí bất hoà chính là bị tổn thương do phong tà, dùng thang Quế chi tái phát hãn, để trừ khứ phong tà mà hoà vinh vệ. Một loại ý kiến khác thì cho rằng, nguyên nhân của vệ khí bất hoà chính là bản thân vinh vệ mất hài hoà cân đối, không liên quan đến phong tà. Căn cứ vào đoạn văn, không thấy nói đến Thái dương bệnh, cũng không có các biểu chứng như sợ lạnh, phát nhiệt, mạch phù, vì thế ý kiến vinh vệ bất hoà không phải của Thái dương chứng là khá thoả đáng. Trên lâm sàng đối với bệnh nhân tự hãn không có biểu chứng như hàn nhiệt đầu thống, dùng thang Quế chi đều thu được hiệu quả, cũng chính là một minh chứng rất tốt.
54病人脏无他病,时发热,自汗出,而不愈者,此卫气不和也。先其时发汗则愈,宜桂枝汤主之。(C55)
Điều 54
Bệnh nhân tạng vô tha bệnh, thời phát nhiệt, tự hãn xuất, nhi bất dũ giả, thử vệ khí bất hoà dã. Tiên kỳ thời phát hãn tắc dũ, nghi Quế chi thang chủ chi.
Dịch: Bệnh nhân nội tạng không có bệnh khác, khi phát nhiệt, tự hãn xuất, mà không khỏi, là do vệ khí bất hoà. Lúc này phát hãn thì khỏi bệnh, nên dùng thang Quế chi để điều trị bệnh này.
“Bệnh nhân tạng vô tha bệnh”, chính là chỉ về việc ăn uống, đại tiểu tiện, ngủ đều bình thường, không có chứng gì ở bên trong, cho thấy khí ở trong thuận hoà. Trong đoạn văn cũng không đề cập đến Thái dương bệnh hoặc biểu chứng như mạch phù, sợ gió, cho thấy cũng không thuộc Thái dương trúng phong. Bệnh nhân chỉ là khi xuất hiện thì có các chứng trạng như phát nhiệt, xuất hãn, mà còn kéo dài không khỏi, uống một số thuốc cũng không hiệu quả . Đó chính là vệ khí bất hoà, biểu hiện của vinh vệ mất điều hoà. Vinh vệ phân biệt là thuộc âm và thuộc dương, âm không chế ngự được dương thì dương quá mạnh mà phát nhiệt, dương không bảo hộ âm, thì vinh âm vượt ra ngoài mà xuất hãn. Trên phương diện trị liệu cũng nên tuyển dụng thang Quế chi điều hoà vinh vệ, nhưng nhất định phải uống thuốc trước khi phát nhiệt và xuất hãn, âm dương vinh vệ lúc này khá thăng bằng ổn định và dễ điều tiết, mà còn có thể tránh được khi bệnh phát tác mà uống thuốc dẫn đến hãn xuất quá nhiều mà tổn thương chính khí. Loại tật hoạn này cũng thường gặp trên lâm sàng, hay gặp nhất là ở những phụ nữ trong thời kỳ mãn kinh, khi sử dụng các phương pháp trị liệu như tư âm, trợ dương, thanh nhiệt, liễm hãn đều khó thu được hiệu quả, có thể dùng thang Quế chi thường thu được hiệu quả.