Điều 35 đến 44
35太阳病,头痛发热,身疼, 腰痛,骨节疼痛,恶风,无汗而喘者,麻黄汤主之。 C36
Điều 35
Thái dương bệnh, đầu thống phát nhiệt, thân đông, yêu thống, cốt tiết đông thống, ố phong, vô hãn nhi suyễn giả, Ma hoàng thang chủ chi. C36
Dịch: Thái dương bệnh, đau đầu, phát nhiệt, thân thể đau nhức, đau eo, xương khớp đau nhức, ghét gió, không xuất mồ hôi mà suyễn, thang Ma hoàng trị bệnh này.
Phương thang Ma hoàng: Ma hoàng 2 lạng, bỏ đốt Quế chi 2 lạng, bỏ vỏ Cam thảo 1 lạng, nướng Hạnh nhân 70 hạt, bỏ vỏ đầu nhọn
Bốn vị thuốc trên dùng 9 thăng nước, trước tiên nấu Ma hoàng, cạn 2 thăng, vớt bỏ bọt, bỏ hết thuốc vào, nấu còn 2 thăng rưỡi, bỏ bã, uống ấm 8 hợp, uống lại để ra chút mồ hôi, không ăn cháo, còn lại làm theo phép của thang Quế chi.
Điều 35 thảo luận trị liệu của chứng Thái dương thương hàn biểu thực. Nên tham khảo hỗ tương với điều thứ 3 “Thái dương bệnh, hoặc dĩ phát nhiệt, hoặc vị phát nhiệt, tất ố hàn, thể thống ẩu nghịch, mạch âm dương câu khẩn giả, danh vi thương hàn” (Thái dương bệnh, hoặc đã phát nhiệt, hoặc chưa phát nhiệt, tất ghét lạnh, đau người, oẹ ngược, mạch âm dương đều khẩn, gọi là thương hàn).
Đoạn văn đề xuất 8 chứng như đau đầu, phát nhiệt, thân thể đau nhức, đau eo lưng, đau xương khớp, sợ gió, không xuất mồ hôi, khí suyễn. Vì chúng là biểu hiện lâm sàng điển hình của bệnh thương hàn, lại dùng thang Ma hoàng trị liệu, vì thế gọi là “Thương hàn bát chứng” hoặc “Ma hoàng bát chứng”. Đối với bát chứng tiến hành tóm tắt mà nói, có thể phân thành 3 nhóm gồm các loại: Đau, lạnh nóng (hàn nhiệt) và không mồ hôi mà suyễn.
Trúng phong là phong tà gây tổn thương vệ phận, tổn thương trên cơ thể khá nông. Thương hàn là hàn tà gây tổn thương cho doanh phận, tổn thương khá sâu trên cơ thể, tính của hàn rét buốt, có thể từ vệ phận thấu vào doanh phận, đã bao phủ vệ dương, bên trong lại gây tổn thương doanh huyết. Tính của hàn ngưng trệ, co lại, chủ về đau. Hàn tà xâm phạm biểu, doanh huyết vận hành không dễ dàng, thông sướng, kinh mạch gân cơ thắt chặt, vì thế xuất hiện cảm giác đau (không thông thì đau). Đầu thống là gọi tắt của“Đầu gáy cứng đau” không giống với đau người, đau xương khớp (thân đông, cốt tiết đông thống) nên chú ý phân biệt. Đầu gáy, eo lưng là những nơi kinh Thái dương đi qua, hàn gây tổn thương kinh Thái dương, nên kinh mạch vận chuyển không thuận lợi, vì thế đầu gáy cứng đau, eo lưng đau. Như 《Linh Khu kinh Kinh Mạch》 viết : “Bàng quang Túc Thái dương chi mạch,….thị động tắc bệnh xung đầu thống, mục tựa thoát, hạng như bạt, lưng đau eo như chiết” (Bàng quang mạch Túc Thái dương,…chính là động khiến bệnh xung lên gây đau đầu, mắt như bóc ra, gáy như bị rút lại, lưng đau eo như gẫy). Gân chi phối sự liên kết của xương và có lợi cho các cơ quan, Thái dương chủ gân mà sinh bệnh, vì thế Thái dương cảm lạnh thì thân thể đau nhức, đau xương khớp. “Ghét gió” chính là từ hỗ trợ của ghét lạnh, tham khảo ở điều 3, có thể biết là chứng phải có của thương hàn. Vì hàn là âm tà, rất dễ gây tổn thương dương khí ở người, vệ dương sau khi bị tổn thương sẽ xuất hiện ghét lạnh, hàn chủ về thu dẫn bế liễm, có thể gây bế tắc lỗ chân lông thớ thịt toàn thân, nên không xuất mồ hôi. Khí vệ dương bị hàn tà bế uất, không thể tuyên tiết (lan toả, bài tiết), nên thấy bn phát nhiệt. Tạng phế hợp với bì mao mà làm chủ biểu (bên ngoài), biểu bế tắc không xuất mồ hôi, ảnh hưởng công năng tuyên phát (Thăng phát lên trên và lan toả ra ngoại vi) của phế, nên phát bệnh suyễn. “Vô hãn nhi suyễn” (Không mồ hôi mà suyễn) đã đề ra được hai chứng trạng đơn độc, đồng thời cho thấy quan hệ nhân quả giữa không có mồ hôi và chứng suyễn. Một khi hãn xuất biểu giải, công năng tuyên giáng của phế khí hồi phục, suyễn tự nhiên cũng hết. Đồng thời, “Vô hãn nhi suyễn”(Không xuất mồ hôi mà suyễn) cũng tiện dùng để phân biệt với “Hãn xuất nhi suyễn” (Xuất mồ hôi mà suyễn) của phế nhiệt. Điều này nói rõ về chứng nhưng chỉ nói sơ lược về mạch, tham khảo với điều 3 có thể biết chứng Thái dương thương hàn nên thấy mạch phù khẩn, mà cả ba bộ Thốn Quan Xích đều phù khẩn, phương thuộc hội chứng chính của Thái dương thương hàn. Điều trị nên phát hãn tán hàn, chỉ có thang Ma hoàng mới có thể hoàn thành nhiệm vụ này.
Thang Ma hoàng có tác dụng phát hãn tán hàn, giải biểu trục tà mạnh mẽ, chính là phương chủ yếu để điều trị chứng Thái dương thương hàn. Ma hoàng phát hãn tán hàn, mở lỗ chân lông, mở bế tắc trị suyễn; Quế chi thông dương, hỗ trợ Ma hoàng phát tán phong hàn; Hạnh nhân lợi phế trị suyễn, đồng thời có thể hỗ trợ Ma hoàng giải biểu phát hãn, Cam thảo điều hoà trung châu, bảo hộ chính khí. Khi dùng phương này nhất định phải nắm vững tỉ lệ lượng thuốc thích hợp, ở tình huống thông thường nên dùng các vị thuốc với tỉ lệ là Ma hoàng: Quế chi: Cam thảo = 3:2:1. Nếu tỉ lệ không thích đáng, có thể ảnh hưởng hiệu quả trị liệu của phát hãn giải biểu. Phương thang có lực phát hãn mạnh mẽ, sau khi uống thuốc chỉ cần trùm mền cho ấm là có thể xuất mồ hôi, không cần ăn cháo nóng. Ngoài ra nên chú ý, yêu cầu và cấm kỵ của phát hãn, giống với thang Quế chi. Khi sắc thuốc cần chú ý sắc vị Ma hoàng trước và phải vớt bỏ bọt để tránh cho bệnh nhân tâm phiền.
Ma hoàng thang chứng điển hình không gặp nhiều ở địa khu Bắc kinh, phương này sử dụng trên lâm sàng tương đối ít. Nhưng là một đất nước có lãnh thổ mênh mông bát ngát, khí hậu khác biệt, đặc biệt là những địa khu cao và lạnh, chứng thương hàn không ít, vì thế không nên coi thường mà bỏ qua phương này. Đồng thời, ứng dụng của thang tễ Ma hoàng không chỉ giới hạn ở đó. Trước hết, thuốc Ma hoàng có hiệu quả để trị các chứng đau, đặc biệt là các chứng đau do lạnh. Các phương thang trị đau nhức do chứng Tí (tê bại) như thang Tiểu tục mệnh, Quế chi Thược dược Tri mẫu thang trong phương đều có vị Ma hoàng. Tiếp nữa, vị Ma hoàng điều trị suyễn cũng có hiệu quả rất rõ rệt. Ngoại trừ thang Ma hoàng, các thang như Tiểu thanh long, thang Ma hạnh Cam cao đến Định suyễn thang của hậu thế sau này là những phương thang trị suyễn hiệu quả, đều dùng vị Ma hoàng là chủ dược. Y học hiện đại dùng Ma hoàng tố tức là Ma hoàng kiềm (ephedrin) để trị suyễn, mà cách nay 1700 năm trong “Thương hàn luận” đã ứng dụng rộng rãi vị Ma hoàng để điều trị bệnh suyễn, đây là một đóng góp lớn. Thêm nữa, Ma hoàng còn có khả năng trị liệu một số bệnh chứng do hàn tà bế tắc gây ra. Có y án ghi chép lại một lương y trị chứng đẻ khó cho một bệnh nhân Thái dương thương hàn, dùng một thang Ma hoàng, theo hãn xuất mà anh nhi được sinh ra. Điều này cho thấy đẻ khó có liên quan với hàn tà bế tắc, doanh vệ khí huyết không thông sướng. Phát hãn khiến hàn tà bị trừ khứ, bế tắc khai mà thai nhi tự thuận. Do đó có thể thấy, là chứng thương hàn rất ít khi gặp ở địa khu Bắc kinh, việc dùng Ma hoàng trị cảm hàn dẫn đến đau nhức và suyễn, đến những nguyên nhân do hàn tà bế tắc dẫn đến các bệnh chứng khác, và đây cũng chính là vùng đất dụng võ to lớn của thang tễ Ma hoàng.
36太阳与阳明合病,喘而胸满者,不可下,宜麻黄汤主之。C37
Điều 36
Thái dương dữ Dương minh hợp bệnh, suyễn nhi hung mãn giả, bất khả hạ, nghi Ma hoàng thang chủ chi.
Dịch: Thái dương và Dương minh hợp bệnh, suyễn mà lồng ngực trướng đầy, không thể hạ, nên dùng thang Ma hoàng để trị bệnh này.
Điều 36 trình bày nhị dương hợp bệnh, nặng về chứng trị ở kinh Thái dương.
Biểu chứng của kinh thái dương và kinh dương minh đồng thời tồn tại, khi tà khí nặng ở kinh dương minh, có thể thấy tự hạ lợi (tiết tả) hoặc không hạ lợi, nhưng lại ẩu thổ, trị liệu dùng Cát căn thang hoặc Cát căn gia Bán hạ thang, như đã đề cập ở trên. Đoạn văn này trình bày chính là trọng điểm hợp bệnh ở kinh Thái dương. Thái dương tà khí nhiều, khí bên ngoài (biểu khí) bế uất, phế không tuyên giáng, nên xuất hiện chứng suyễn. Phế khí bất lợi, nên thấy lồng ngực trướng đầy. Bệnh cơ chủ yếu của chứng này là khí Thái dương bị uất, vì thế dùng thang Ma hoàng phát hãn tán hàn, mở bế tắc có thể thu được hiệu quả. Vì phế và Đại tràng có quan hệ biểu lý, phế không tuyên giáng, cũng có thể ảnh hưởng bất lợi đến phủ khí của Đại tràng mà làm cho đại tiện khó khăn, nhưng không vì thế mà dùng phép tả hạ. Vì xuất hiện chứng ngực trướng đầy nhưng bụng không trướng đầy, đồng thời không có chứng lý thực (thực chứng ở bên trong), một khi hạ nhầm sẽ khiến cho biểu tà hãm vào trong mà sinh biến chứng.
Cùng là Thái dương và Dương minh hợp bệnh, do trọng tâm của bệnh biến khác nhau, mà điều khiển phương và dùng dược cũng khác nhau. Bệnh tà ở Thái dương kinh biểu nặng hơn, với chứng suyễn là chủ yếu, dùng thang Ma hoàng; Bệnh tà ở dương minh kinh biểu nặng hơn, với chủ yếu là hạ lợi (tiết tả) thì dùng thang Cát căn. Giới hạn phải phân minh không thể lẫn lộn.
37太阳病,十日以去,脉浮细而嗜卧者,外已解也。设胸满胁痛者,与小柴胡汤。但脉浮者,与麻黄汤。C38
Điều 37
Thái dương bệnh, thập nhật dĩ khứ, mạch phù tế nhi thị ngoạ giả, ngoại dĩ giải dã. Thiết hung mãn hiếp thống giả, dữ Tiểu sài hồ thang. Đãn mạch phù giả, dữ Ma hoàng thang.
Dịch: Thái dương bệnh đã qua 10 ngày, mạch phù tế thích nằm là bệnh ở ngoài đã giải trừ. Ngực trướng đầy đau cạnh sườn, uống thang Tiểu sài hồ. Nếu mạch phù, dùng thang Ma hoàng.
(Phương thang Tiểu sài hồ: Xem ở điều 100 phần sau) Điều 37 trình bày một số kết cục của Thái dương thương hàn lâu ngày.
Ở đây là “Thái dương bệnh”, theo đoạn văn sau “Mạch đãn phù giả, dữ Ma hoàng thang”, có thể biết chính là Thái dương thương hàn. Thái dương thương hàn đã qua 10 ngày, mạch từ phù khẩn biến thành “phù tế”, cũng chính là mạch tuy phù nhưng không khẩn cấp hữu lực, đồng thời lại thấy yếu sức thích nằm “thị ngoạ”, mà ghét lạnh phát nhiệt, đầu gáy cứng đau đã trừ (không còn). Mạch chứng trên cho thấy, biểu tà đã trừ khứ, chính khí đang dần hồi phục, đã không còn khổ, gọi là “Ngoại dĩ giải dã” (外已解也)bên ngoài đã giải. Ngoại tà đã giải, tuy nhiên còn cảm giác có chút không thoải mái, nhưng cũng không cần uống thuốc, chỉ cần an tâm tĩnh dưỡng là được, chính là loại kết cục thứ nhất. “Mạch đãn phù giả, dữ Ma hoàng thang”, chính là Thái dương thương hàn tuy đã qua 10 ngày, nhưng còn thấy mạch phù khẩn của thương hàn, và điều này cho thấy bằng chứng về cơn sốt và ghét lạnh của bệnh Thái dương thương hàn và các chứng như đau đầu, thân thể đau vẫn còn đó. Bởi vì mạch chứng còn đó, bệnh còn ở Thái dương, thuộc chứng thương hàn biểu chưa giải, vì thế trị pháp và phương dược cũng cần phải bất biến (không thay đổi), và vẫn nên cân nhắc sử dụng thang Ma hoàng. Nhưng do “thập nhật khứ”(đã qua 10 ngày), quá trình mắc bệnh lâu ngày, cho dù các chứng của thương hàn còn đó, có thể dùng lại thang Ma hoàng để phát hãn, nhưng cũng nên cẩn thận khi sử dụng, vì thế không nói “Chủ chi” (có tính chắc chắn) mà nói “dữ” (với), đó chính là sự khác biệt. Trên đây thuộc về biểu tà lưu luyến chưa giải, chính là loại kết cục thứ hai. Nếu như có chứng trạng “hung mãn hiếp thống” (ngực đầy đau cạnh sườn), phản ảnh xu cơ (Mấu chốt của mọi sự chuyển động), (như tai mắt là xu cơ của trái tim ) của thiếu dương không thuận lợi, cho thấy tà khí đã từ biểu truyền nhập vào kinh Thiếu dương, dùng thang Tiểu sài hồ để hoà giải Thiếu dương, để lợi cho xu cơ, là loại kết cục thứ ba.
Có thể thấy một số loại kết cục của Thái dương thương hàn lâu ngày từ đoạn văn này, tuy nhiên “Thái dương bệnh, đã quá 10 ngày”, nhưng không nhất định bệnh tà sẽ phát sinh truyền biến. Trong đó có hướng khỏi bệnh, cũng có biểu tà vẫn chưa giải trừ, chỉ cần biểu chứng không giải, thì nên dùng lại phương pháp giải biểu để trị liệu. Dựa vào mạch và biện chứng chính là căn cứ chủ yếu để suy đoán tình trạng phát triển, biến hoá của bệnh, không thể căn cứ vào quá trình bệnh dài ngắn, và tinh thần này đã được thể hiện rất tốt ở đoạn văn này.
38太阳中风,脉浮紧,发热恶寒,身疼痛,不汗出而烦躁者,大青龙汤主之。 若脉微弱,汗出恶风者,不可服。服之则厥逆, 筋愓肉𥆧,此为逆也。C39
Điều 38
Thái dương trúng phong, mạch phù khẩn, phát nhiệt ố hàn, thân đông thống, bất hãn xuất nhi phiền táo giả, Đại thanh long thang chủ chi. Nhược mạch vi nhược, hãn xuất ố phong giả, bất khả phục. Phục chi tắc quyết nghịch, cân đãng nhục nhuận, thử vi nghịch dã. C39
Dịch: Thái dương trúng phong, mạch phù khẩn, phát nhiệt ghét lạnh, thân thể đau nhức, không xuất mồ hôi mà phiền táo (bực bội), thang Đại thanh long trị bệnh này. Nếu mạch vi nhược (nhỏ yếu), xuất mồ hôi sợ gió, không thể uống. Uống vào sẽ quyết nghịch, gân lơi ra thịt co giật, đó là nghịch.
Phương thang Đại thanh long:
Ma hoàng 6 lạng, bỏ đốt, Quế chi 2 lạng, bỏ vỏ, Cam thảo 2 lạng nướng Hạnh nhân 40 hạt, bỏ vỏ và đầu nhọn, Sinh khương 3 lạng, thái Đại táo 12 quả, bổ Thạch cao như quả trứng gà lớn, đập nát.
Tổng cộng 7 vị thuốc, dùng 9 thăng nước, đầu tiên sắc vị Ma hoàng, giảm 2 thăng, vớt bỏ bọt, cho tất cả thuốc vào, đun cạn còn 3 thăng, bỏ bã, uống ấm 1 thăng, tựa như có mồ hôi (ý là rất ít), nếu mồ hôi ra nhiều dùng bột gạo xoa trên thân thể để bịt lỗ chân lông. Uống một lần mà có mồ hôi thì không uống thêm. Nhiều mồ hôi vong dương, sẽ hư, ghét gió phiền táo, không ngủ được.
Điều 38 thảo luận trị liệu của chứng thương hàn biểu thực kiêm nội nhiệt phiền táo, các chứng cấm kỵ của thang Đại thanh long và những biến nghịch sau khi uống nhầm.
“Trúng phong” là từ hỗ tương bổ sung cho thương hàn, “Thái dương trúng phong” thực ra là chỉ về Thái dương thương hàn. Từ những chứng như mạch phù khẩn, phát nhiệt, ghét lạnh, thân thể đau nhức, cũng có thể xác định không nghi ngờ đây chính là thuộc chứng thương hàn biểu thực, nên dùng thang Ma hoàng để trị liệu. “Bất hãn xuất” (Không xuất mồ hôi) chính là một chứng, cũng có thể được coi là điều trị không đúng cách, hoặc dây dưa không có mồ hôi (chẳng hạn như không gặp bác sĩ, hoặc chưa sử dụng phương pháp đổ mồ hôi mặc dù điều trị), hoặc mặc dù sử dụng phương pháp đổ mồ hôi, nhưng bệnh nặng mà thuốc nhẹ nên không đạt được mục đích xuất mồ hôi. Mồ hôi xuất không đúng mức, hàn tà tại biểu không được giải, dương khí bế uất trở ngại, còn gọi là dương vi kết, tiến tới (phát triển) mà hoá nhiệt, nội nhiệt nhiễu tâm (nhiệt bên trong ảnh hưởng tạng tâm), nên sinh bực bội (phiền táo). Không xuất mồ hôi là nguyên nhân của bực bội, bực bội là kết quả của không xuất mồ hôi, vì thế nên viết: “Bất hãn xuất nhi phiền táo” (不汗出而烦躁). Tình huống này trên lâm sàng thường gặp ở bệnh nhân có thể chất cường tráng, có lực đề kháng mạnh mà tà khí cũng nhiều. Hàn tà bế uất ở biểu mà không thể xâm nhập vào trong, dương khí uất ở trong mà không thể tiết ra ngoài, chính là loại tình huống này. Nhưng chứng này chỉ do không xuất mồ hôi mà dẫn đến bực bội, đồng thời không có lý chứng của kinh dương minh là khát nước. vì thế thuộc tà tại biểu kèm theo bệnh chứng dương uất hoá nhiệt, dùng thang Ma hoàng tuy có lực tán hàn khai bế, nhưng không thể thanh lý giải nhiệt, không phải là phương thang nên dùng cho chứng này, vì thế dùng thang Đại thanh long có lực phát tán biểu tà mạnh mẽ để tuyên tiết nhiệt của dương uất, khiến biểu có thể giải mà trừ khứ phiền táo (bực bội). Nếu mạch không phù khẩn mà vi nhược, lại có các chứng như xuất mồ hôi, ghét gió, cho thấy vinh vệ đều hư hoặc vệ cường vinh nhược (vệ mạnh vinh yếu), mà không phải là vinh vệ đều thực. Nếu như sử dụng nhầm phương thang phát hãn mạnh như Đại thanh long, có thể do phát hãn quá mạnh mà vong dương, dương khí không thể thông ra tứ chi đầy đủ, xuất hiện tứ chi quyết nghịch (tay chân lạnh ngược lên); Xuất quá nhiều mồ hôi gây mất nước, âm dịch không đủ nuôi cân nhục, xuất hiện gân lỏng ra, da thịt co giật. Do trị liệu sai lầm mà dẫn đến bệnh tình biến hoại, cho nên gọi là “Thử vi nghịch dã”.
Thang Đại thanh long chính là thang Ma hoàng dùng nhiều Ma hoàng, gia thêm Thạch cao, Sinh khương, Đại táo, là thang thuốc phát hãn mạnh mẽ. Bội dụng vị Ma hoàng, Quế chi là tá dược, Sinh khương cay ấm phát hãn, tán hàn mở biểu; Thạch cao cay lạnh, có thể phối Ma hoàng để giải cơ khai dương bị uất, lại có thể thanh nhiệt trừ phiền táo (bực bội); Cam thảo, Đại táo hoà trung thêm cho nguồn mồ hôi (hãn nguyên). Phía dưới phương có chú thêm câu“Hãn xuất đa giả, ôn phấn phác chi” (Xuất nhiều mồ hôi, dùng bột gạo còn ấm xoa lên người) cho thấy phương này có lực phát hãn rất mạnh, không dễ khống chế. Khi mồ hôi xuất quá nhiều, phép phòng trị là dùng bột xoa lên người. Phấn ấm tức là bột gạo sao nóng lên. Cách này là phương pháp chỉ hãn (ngăn mồ hôi) từ thời nhà Hán. Dù như thế, vẫn do mồ hôi xuất ra nhiều gây tổn thương cho dương khí, tạo thành chứng dương hư ghét gió hoặc dương hư âm thịnh, phiền táo không ngủ được, phát sinh nhiều loại biến nghịch. Vì thế, nếu sử dụng thang Thanh long, cần đặc biệt chú ý khống chế phát hãn nhiều hay ít sau khi uống thuốc.
Một sinh viên tốt nghiệp trong bệnh viện của chúng tôi đã từng điều trị một thành viên trung niên. Sau khi xuất rất nhiều mồ hôi vào mùa hè, thành viên đã xuống làm việc bên trong giếng. Cái lạnh dưới giếng giống như băng, và toàn thân đổ mồ hôi biến mất, và sau đó xuất hiện các chứng: Toàn bộ cơ thể bị đau và sợ lạnh, phát nhiệt, không có mồ hôi, phiền táo, uống thuốc không thấy hiệu quả. Y sinh đến khám, thấy bệnh nhân mặt đỏ hơi thở thô, mạch phù khẩn mà sác, không nghi ngờ là có liên quan với Đại Thanh long thang chứng. Nhưng lúc này là cao điểm của mùa hè, người này không dám tự tiện dùng thuốc, liền nhờ các thày thuốc khác ý kiến. Các y sinh đều cho rằng có thể, nếu như hãn xuất mà hư thoát thì có thể dùng tây dược cấp cứu. Vì thế, họ dùng nguyên phương Đại thanh long, chỉ uống một lần thuốc là hãn xuất nhiệt thoái, mọi chứng đều khỏi.
Kim Quỹ Yếu Lược lấy Đại Thanh long dùng vào “Ẩm thuỷ lưu hành, quy vu tứ chi, đương hãn xuất nhi bất hãn xuất, thân thể đông trọng” của “Dật ẩm” (chứng thuỷ thấp đang xuất hãn lại không xuất hãn khiến cơ thể đau nhức), chủ yếu dùng mồ hôi để giải thuỷ độc, trị thuỷ tà ở tay chân, dưới da. Người viết trị qua một bệnh nhân, người này hai tay ê ẩm sưng trướng, thân thể béo phì, uống Hoàng kỳ, Phòng kỷ là thuốc ích khí lợi thuỷ và tiêm B1, B12 đều không hiệu quả. Người viết bèn dùng thang Đại thanh long, Việt tì thang, sau khi uống thuốc bệnh nhân xuất mồ hôi và khỏi bệnh.
39伤寒脉浮缓,身不疼,但重,乍有轻时,无少阴证者,大青龙汤发之。C40
Điều 39
Thương hàn mạch phù hoãn, thân bất đông, đãn trọng, sạ hữu khinh thời, vô thiếu âm chứng giả, Đại thanh long thang phát chi. C40
Dịch: Thương hàn mạch phù và hoãn, thân thể không đau, nhưng nặng nề, chợt có lúc nhẹ, không có Thiếu âm chứng, thang Đại thanh long phát chi.
Điều 39 tiếp tục thảo luận trị liệu của thang Đại thanh long của điều 38 và giám định phân biệt với Thiếu âm chứng.
Thái dương thương hàn, mạch từ phù khẩn biến thành phù hoãn, chứng chuyển từ thân thể đau nhức biến thành thân thể nặng nề mà có lúc ngẫu nhiên giảm nhẹ, phản ảnh hàn tà tại biểu tuỳ theo xu hướng dương khí bế uất bất thân (co lại) hoá nhiệt. Hàn tà dần dần theo xu thế hoá nhiệt, mạch tự nhiên từ khẩn biến thành không khẩn, chứng cũng từ thân thể đau nhức chuyển thành không đau. Tuy hàn tà dần dần hoá nhiệt, nhưng chưa nhập lý (vào trong), vẫn ở ngoài biểu. Biểu còn đóng chưa mở, dương khí bế tắc, khí cơ toàn thân không thuận lợi, vì thế thân thể nặng nề. Tà khí có xu thế nhập lý, tiến lui vào giữa biểu và lý, nên thấy thân thể nặng nhưng cũng có lúc lại nhẹ. Khí bên ngoài (biểu) bị bế uất, lý có uất nhiệt, thì chứng phiền táo và uất nhiệt tất nhiên là ý tại ngôn ngoại (ngầm hiểu là có).
Chứng biểu hàn bế uất ở điều trước (điều38) khá rõ nét là hướng ra ngoài; Bộ phận biểu hàn hoá nhiệt của điều này (điều 39), có chiều hướng vào bên trong, nhưng đồng thời chưa thấy phiền khát muốn uống nước của Bạch hổ thang chứng, vì thế vẫn dùng thang Đại thanh long để phát (hãn). Vì dương của Thiếu âm suy sẽ xuất hiện chứng trạng thân thể nặng nề bực bội, nên cần chú ý phân biệt với chứng thân thể nặng nề của Đại thanh long thang chứng, tránh phạm vào điều cấm hư hư chi giới (không làm cho hư thêm hư). Dương của Thiếu âm suy phải có mạch vi tế, tứ chi quyết nghịch (lạnh), tinh thần không phấn chấn là những chứng trạng chân dương suy vi, khác với chứng dương nhiệt của thang Đại thanh long.
Đối với những đề cập của hai điều trên “Thái dương trúng phong, mạch phù khẩn”, “Thương hàn, mạch phù hoãn”, và ứng dụng của thang Đại thanh long, ý kiến của các nhà chú thích qua các thời đại rất khác biệt.
Trừ một bộ phận nhà chú thích cho rằng văn tự có khả năng lộn xộn và đơn giản, các quan điểm khác trên cơ bản có thể phân thành hai phái. Với Thành Vô Kỷ, Hứa Thúc Vi, Phương Hữu Chấp là đại biểu, cho rằng Quế chi thang chứng là phong thương vệ (phong gây tổn thương vệ phận), Ma hoàng thang chứng là hàn thương doanh (hàn gây tổn thương doanh phận), Đại thanh long chứng chính là phong hàn lưỡng thương, doanh vệ cùng bị bệnh. Đây chính là thuyết “Tam cương đỉnh lập” (三纲鼎立)trứ danh (Du Gia Ngôn tại Thượng luận thiên quyển I Luận Thái dương thương hàn chứng trị đại ý trung thuyết: “Phong thương vệ, tắc dụng Quế chi thang; Hàn thương doanh, tắc dụng Ma hoàng thang; Phong hàn lưỡng thương doanh vệ, tắc dụng Đại thanh long thang.” Luận thuyết này bị hậu thế gọi là thuyết “Tam cương đỉnh lập”). Với Vưu Tại Kính làm đại biểu, không đồng ý với quan điểm trên, cho rằng “Quế chi chủ phong thương vệ tắc thị, Ma hoàng chủ hàn thương doanh tắc phi. Cái hữu vệ bệnh nhi doanh bất bệnh giả hĩ, vị hữu doanh bệnh nhi vệ bất bệnh dã. Chí vu Đại thanh long chứng, kỳ biện bất tại doanh vệ lưỡng bệnh, mà tại phiền táo nhất chứng. Kỳ lập phương chi chỉ, dã bất tại tịnh dụng Ma Quế, mà tại độc gia Thạch cao. ”( 桂枝主风伤卫则是,麻黄主寒伤营则非。盖有卫病而营不病者矣,未有营病而卫不病也。至于大青龙汤证,其辨不在营卫两病,而在烦躁一证。其立方之旨,也不 在并用麻桂,而在独加石膏。)Quế chi chủ phong gây tổn thương vệ phận là đúng, Ma hoàng chủ hàn gây tổn thương doanh phận là không đúng. Vì có vệ bệnh mà doanh không bệnh. Còn như Đại thanh long chứng, phân biện không ở hai bệnh Doanh Vệ, mà là ở chứng phiền táo (bực bội). Mà mệnh lệnh lập phương, cũng không tại cùng dùng Ma Quế, mà tại gia thêm một vị Thạch cao. Quan điểm này của Vưu Tại Kính khá chính xác với thực tế lâm sàng, có điểm nên công nhận.
40伤寒表不解,心下有水气,干呕发热而咳,或渴,或利,或噎,或小便不利, 少腹满,或喘者,小青龙汤主之。C41
Điều 40
Thương hàn biểu bất giải, tâm hạ hữu thuỷ khí, can ẩu phát nhiệt nhi khái, hoặc khát, hoặc lợi, hoặc ế, hoặc tiểu tiện bất lợi, thiểu phúc mãn, hoặc suyễn giả, Tiểu thanh long thang chủ chi.
Dịch: Thương hàn biểu không giải, dưới tim có thuỷ khí, nôn khan phát nhiệt mà ho, hoặc khát, hoặc hạ lợi (tiết tả), hoặc nghẹn, hoặc tiểu tiện bất lợi, bụng dưới trướng đầy, hoặc suyễn, thang Tiểu thanh long trị bệnh này.
Phương thang Tiểu thanh long
Ma hoàng 3 lạng, bỏ đốt Thược dược 3 lạng Ngũ vị tử nửa thăng Can khương 3 lạng, Cam thảo 3 lạng, Quế chi 2 lạng, bỏ vỏ Bán hạ nửa thăng, rửa nước nóng Tế tân 3 lạng
Gồm 8 vị, dùng 1 đấu nước, trước tiên nấu vị Ma hoàng, giảm 2 thăng, vớt bọt, cho tất cả thuốc vào, đun cạn còn 3 thăng, bỏ bã, uống 1 thăng thuốc lúc thuốc còn ấm.
Phép gia giảm:
Nếu lợi nhẹ (tiết tả nhẹ), khứ Ma hoàng gia Hoàn hoa, bằng quả trứng gà lớn, nấu có màu đỏ. Nếu khát khứ Bán hạ, gia Quát lâu căn 3 lạng; Nếu nghẹn khứ Ma hoàng gia Phụ tử 1 củ (sao); Nếu tiểu tiện bất lợi, bụng dưới đầy, khứ Ma hoàng gia Phục linh 4 lạng; Nếu suyễn: Khứ Ma hoàng, gia Hạnh nhân ½ thăng, bỏ vỏ và đầu nhọn.
Điều 40 thảo luận trị liệu chứng ngoại hàn kiêm nội ẩm. “Thương hàn biểu bất giải, tâm hạ hữu thuỷ khí” (Thương hàn biểu không giải, dưới tim có thuỷ khí) là tóm tắt bệnh cơ ngoại hàn nội ẩm của Tiểu thanh long thang chứng. “Phát nhiệt”nhất định đại biểu cho “Biểu không giải”, còn cần các chứng của thương hàn biểu thực như ghét lạnh, vô hãn, thân thể đau nhức. Dưới tim, vị quản có hàn tà đình trệ lại (dạ dày có hàn tà đình trệ), cũng chính là “Tâm hạ hữu thuỷ khí”. Hàn ẩm quấy nhiễu vị (dạ dày), vị khí thượng nghịch (trào ngược), nên thấy oẹ khan, thuỷ hàn xạ phế (hàn thuỷ ảnh hưởng phế) khiến phế khí không tuyên giáng, nên xuất hiện chứng ho. Thuỷ ẩm biến động không ở yên, có thể tuỳ theo tam tiêu khí cơ thăng giáng xuất nhập, vì thế có thể thấy nhiều chứng hoặc một chứng. Thuỷ ẩm không hoá, tân dịch không thêm, nên thấy khát, nhưng không muốn uống nước; Nước xuống đại tràng, không phân trong đục, nên hạ lợi (tiết tả); Thuỷ hàn trệ khí, khí cơ không thông sướng nên nghẹn; Thuỷ ẩm đình trệ ở bên trong, khí hoá không thuận lợi, nên tiểu tiện bất lợi, trường hợp nặng bụng dưới trướng đầy; Hàn ẩm bức bách phế, phế khí nghịch lên trên, xuất hiện chứng suyễn. Ho, suyễn, khát, nghẹn đều chính là hội chứng của thượng tiêu; Nôn khan là chứng của trung tiêu; Tiểu tiện không thuận lợi, bụng dưới trướng đầy, tiết tả là chứng của hạ tiêu. Chứng tuy nhiều, then chốt đều chính là “thuỷ khí” gây ra.. Dưới tim có thuỷ ẩm, bên ngoài có biểu hàn, trị liệu dùng thang Tiểu thanh long bên ngoài tán hàn tà tại biểu, bên trong tiêu thuỷ ẩm dưới tim (tâm hạ). Đây chính là phát hãn tiêu ẩm, phép lưỡng trị biểu lý (điều trị cả trong và ngoài).
Thang Tiểu thanh long do thang Ma hoàng khứ Hạnh nhân, gia Can khương, Tế tân, Ngũ vị tử, Thược dược, Bán hạ mà thành. Phát hãn giải biểu, tuyên phế bình suyễn, kèm theo lợi thuỷ; Quế chi có thể tăng cường tuyên tán hàn tà, có tác dụng thông suốt dương khí; Can khương phối Bán hạ, ôn hoá thuỷ hàn tà của trung tiêu, trị thuỷ khí dưới tim; Tế tân có vị cay mà tán (tân tán), ôn tán thuỷ hàn tà ở tam tiêu (thượng tiêu, trung tiêu, hạ tiêu). Phân tích từ các vị thuốc, thang Tiểu thanh long thượng, trung, hạ tam tiêu ở bên trong lại ôn thông tam tiêu, có công hiệu thông trị hàn ẩm ở thượng, trung, hạ tam tiêu. Vì e ngại các vị thuốc tân tán thái quá, có thể háo âm động dương, tổn thương chính khí, nên dùng chích Cam thảo để thủ giữ trung tiêu phù trì chính khí (coi giữ trung tiêu và phụ trợ chính khí), Thược dược chua liễm để giữ gìn can âm, Ngũ vị tử toan liễm để bảo hộ thận âm, khiến cho phương thang này có đặc điểm là ôn tán hàn ẩm mà không tổn thương chính khí.
Xem xét quy luật trị liệu hàn ẩm của Trương Trọng Cảnh, khi trị liệu hàn ẩm ở phế vị, thường dùng phối hợp 3 vị Can khương, Tế tân, Ngũ vị tử, đối với chứng hàn ẩm ho suyễn thu được hiệu quả rất tốt. Can khương, Tế tân có thể trực tiếp nhập vào phế, tán thuỷ hàn tà, Ngũ vị tử cũng có thể nhập phế, thu liễm khí nghịch của phế. Một thu một tán, trong tán có thu, chính tà cùng chiếu cố, đối với tiêu tán hàn ẩm, trị ho định suyễn thập phần đắc lực. Vì thế khi sử dụng phương này cần đặc biệt chú ý đến phương pháp phối ngẫu. Trong《Kim Quỹ Yếu Lược Đàm Ẩm Khái Thấu Bệnh Mạch Chứng Tính Trị》có thang Linh Cam Ngũ vị Khương Tân, thang Quế Linh Ngũ vị Cam thảo khứ Quế gia Khương Tân Hạ, thang Linh Cam Ngũ vị gia Khương Tân Bán Hạ Hạnh nhân, thang Kim Cam Ngũ vị gia Khương Tân Bán Hạnh Đại hoàng, các phương trị đàm ẩm khái thấu vừa nêu, đều thoả đáng trong việc sử dụng phối ngẫu rất tốt giữa các vị thuốc Can khương, Tế tân và Ngũ vị.
Phương thang này có tác dụng tán biểu hàn ở ngoài, bên trong tiêu hàn ẩm, là phương điều trị bệnh ở cả biểu và lý (cả ngoài và trong). Bất quá, nếu không có biểu chứng thương hàn, chỉ cần là hàn ẩm đình lại bên trong phát sinh ho suyễn, cũng có thể sử dụng, như Kim Quỹ Yếu Lược lấy thang Tiểu thanh long dùng cho chứng “Dật ẩm” và “Chi ẩm” chứng ho phải ngồi không thể nằm. Căn cứ kinh nghiệm lâm sàng, phàm nếu bệnh nhân bên trong có hàn ẩm tạo thành chứng ho suyễn, thường có biểu hiện lâm sàng như sau: Thuỷ hàn ngăn cản dương khí, nên sắc mặt thường có màu xanh hoặc đen sạm, gọi là “Thuỷ sắc”; Hàn ẩm ngưng trệ cản trở, doanh vệ khí huyết vận hành không thuận lợi, thì trên mặt có thể xuất hiện sắc tố sậm có tính đối xứng, gọi là “Thuỷ ban”; Thuỷ khí đình trệ ở dưới da, sẽ thấy vùng mặt bị hư phù, bao mắt phù nhẹ, gọi là “Thuỷ khí”. Sự xuất hiện của thuỷ sắc, thuỷ ban, thuỷ khí chính là khi sử dụng nền tảng vọng chẩn của thang Tiểu thanh long. Ngoài ra, loại bệnh nhân này thường gặp mạch huyền với rêu lưỡi ướt và trơn.
Ho suyễn của Tiểu thanh long thang chứng có liên quan với hàn ẩm ảnh hưởng (xạ) phế gây ra, luôn luôn ho và nhiều đàm, với đàm của loại hàn ẩm này có đủ các đặc điểm sau: Một là ho thổ ra một lượng lớn bọt màu trắng dạng đàm, rơi xuống đất thành nước; Hai là thổ ra đàm lạnh, tự có cảm giác đàm mát lạnh như phấn, có màu tro tựa như lòng trắng trứng dạng nửa như trong suốt, mà lại liên tục không đứt. So sánh cho thấy, đàm khô, hoặc đàm keo dính khó khạc ra, không khó phân biệt. Ngoài ra, bệnh nhân thường thở ngắn, khó chịu, cảm giác nghẹt thở, trường hợp nặng bệnh nhân phải ngồi khi ho không thể nằm, càng nặng hơn khi bệnh nhân ho suyễn kèm theo chảy nước mắt nước mũi, nặng cực độ khi thuỷ khí thượng nghịch bệnh bị đột nhiên hôn quyết (đột nhiên ngã ra). Nguyên nhân bệnh thuộc hàn ẩm, khi thời tiết ấm áp thì bệnh tình hoãn giải, khi thời tiết lạnh lẽo thì bệnh tăng nặng.
Do thuỷ hàn tà gây bệnh nhiều biến động không cố định, nên thường trên cơ sở chủ chứng xuất hiện nhiều loại kiêm chứng khác nhau. Trị liệu kiêm chứng cần chú ý gia giảm vị thuốc theo chứng, linh hoạt biến thông, để có thể thu được hiệu quả tốt nhất. Dưới phương thang có kèm theo phép gia giảm, chính là bản mẫu của Trương Trọng Cảnh tuỳ theo chứng mà biến hoá lượng định.
Phương này sử dụng đồng thời Ma hoàng và Quế chi, lại phối với Tế tân, tuy có Thược dược, Cam thảo, Ngũ vị tử cùng là tá dược, cuối cùng cũng là thang tễ tân tán mãnh liệt. Vì thế, phép uống yêu cầu phân làm ba lần uống, để sức thuốc không quá mãnh liệt. Cho dù như thế, khi gặp bệnh, đối với bệnh nhân tuổi cao sức yếu, trẻ em nhi đồng, đặc biệt là những bệnh nhân công năng tâm thận hư suy yếu vẫn cứ phải thận trọng khi sử dụng, sợ ảnh hưởng thận khí, động xung khí, gây thành mối hại háo âm động dương. Đối với bệnh nhân thông thường, sử dụng phương này là phép cứu cấp dùng khi phát tác ho suyễn cấp tính, không thể uống lâu dài, uống nhiều. Khi bệnh hoãn giải, nên dùng các thang Linh Quế (như Linh Quế Truật Cam thang, Linh Quế Hương Cam thang, Linh Quế Vị Cam thang, Linh Quế Tuệ Cam thang, Linh Quế Cam thang.v.v…), ôn hoá hàn ẩm, để tốt về sau.
Người viết từng điều trị một bệnh nhân ho suyễn, bắt đầu bằng 3 thang Tiểu thanh long, sau khi uống chứng trạng giảm nhẹ, vốn từ đầu đã có ý đổi phương, nhưng bệnh nhân thấy uống thuốc có hiệu quả, không tái khám và tự ý uống thêm 12 thang, kết quả xuất hiện chảy máu mũi không ngừng. Sau đó phải nhập viện cấp cứu cầm máu, nhưng vẫn còn các chứng như mỏi mệt, yếu sức. Đây là một thí dụ về việc uống quá nhiều thuốc tân tán, tổn thương âm, động huyết. Diệp Thiên Sĩ trong 《Lâm Chứng Chỉ Nam Y Án Suyễn Môn》ghi lại 2 trang các bài thuốc trị suyễn, một trang dùng Ma hoàng mà không dùng Tế tân; Riêng một trang dùng Tế tân, Can khương, Ngũ vị tử mà không dùng Ma hoàng, nhưng lại gia thêm các vị thuốc như Phục linh, Nhân sâm. Vì sao Diệp Thiên Sĩ dùng riêng hai vị Ma hoàng Tế tân mà không dùng chung? Có thể vì ông hành nghề y ở phương nam, khí hậu ấm và ẩm ướt, thớ thịt con người lỏng lẻo, vì thế mà không dùng nhiều vị thuốc tân tán. Có thể thấy, danh gia hậu thế đã có những nhận thức sâu sắc đối với việc hợp dụng Ma hoàng Tế tân, có lực phát tán quá mạnh, dễ dẫn đến hậu quả tệ hại là tổn thương âm và động dương.
Đại, Tiểu thanh long thang có thể thấy là đều do Ma hoàng thang khai triển thành, cũng đều là phương lưỡng giải biểu lý. Nhưng Đại thanh long thang phát hãn tán hàn, kiêm thanh nhiệt uất của dương để trừ phiền táo, với chủ yếu là phát hãn; Tiểu thanh long thang phát hãn tán hàn, loại trừ hàn ẩm dưới tim để trị ho suyễn, với chủ yếu là trừ ẩm. Bất luận là {Thương hàn luận} hay Kim Quỹ Yếu Lược, sử dụng Đại thanh long thang đều cần ra mồ hôi, mà thang Tiểu thanh long trong {Thương hàn luận} được dùng để giải cả biểu và lý, trong Kim Quỹ Yếu Lược được dùng để ôn tán thuỷ ẩm dưới tim.
Cấm kỵ sử dụng của Đại thanh long thang đã được nói đến trong {Thương hàn luận}, vì thế không nhắc lại trong {Kim Quỹ Yếu Lược}, đó chính là trước thì rõ ràng mà sau thì sơ lược. Cấm kỵ sử dụng của Tiểu thanh long không ghi lại trong {Thương hàn luận}, mà trong {Kim Quỹ Yếu Lược} lại nói rõ ràng đó chính là sau thì rõ ràng mà trước thì sơ lược. Kim Quỹ Yếu Lược Đàm Ẩm Khái Thấu Bệnh Mạch Chứng Tính trị nói: “Khái nghịch ỷ tức bất đắc ngoạ, Tiểu thanh long thang chủ chi. Thanh long thang hạ dĩ, đa thoá khẩu táo, thốn mạch trầm, xích mạch vi, thủ túc quyết nghịch, khí tòng tiểu phúc thượng xung hung yết, thủ túc tí, kỳ diện hấp nhiệt như tuý trạng, nhân phục hạ lưu âm cổ, tiểu tiện nan, thời phục mạo giả, dữ Phục linh Quế chi Ngũ vị Cam thảo thang, trị kỳ khí xung. ” (咳逆倚息不得卧,小青龙汤主之。青龙汤下已,多唾口燥,寸脉沉,尺脉微,手足厥逆,气从小腹上冲胸咽,手足痹,其面翕热如醉状, 因复下流阴股,小便难,时复冒者,与获苓桂枝五味甘草汤,治其气冲。)Khi ho phải ngồi thở không thể nằm, Tiểu thanh long trị bệnh này, đã uống Thanh long thang, khạc nhổ nhiều miệng khô, mạch thốn trầm, mạch xích vi, tay chân quyết lãnh, khí từ bụng xung lên ngực họng, tay chân đau, mặt nóng như người say rượu, vì lại chảy xuống âm cổ ( là phần gần âm đạo), tiểu tiện khó, khi bốc lên, dùng thang Phục linh Quế chi Ngũ vị Cam thảo, trị chứng khí thượng xung. Đây là đoạn văn trình bày chi tiết về cấm kỵ sử dụng và những biến chứng và phương pháp cứu trị sau khi sử dụng sai lầm thang Tiểu thanh long. Vưu Tại Kính có những giải thích thuyết minh đối với đoạn văn này rất tốt: “Phục Thanh long thang dĩ, thiết kỳ nhân hạ thực bất hư, tắc tà giải nhi bệnh trừ. Nhược hư tắc Ma hoàng Tế tân tân cam ôn tán chi phẩm tuy năng phát việt ngoại tà, diệc dị động nhân xung khí. Xung khí, xung mạch chi khí dã. Xung mạch khởi vu hạ tiêu giáp thận mạch thượng hành chí hầu lung. Đa thoá khẩu táo, khí xung hung yết, diện nhiệt như tuý, giai xung khí thượng nhập chi hậu dã. Thốn trầm xích vi, thủ túc quyết nhi tí giả, quyết khí thượng hành nhi dương khí bất trị dã. Hạ lưu âm cổ, tiểu tiện nan, thời phục mạo giả, xung khí bất quy, nhi nhưng thượng nghịch dã. Phục linh Quế chi năng ức xung khí sử chi hạ hành, nhiên nghịch khí phi liễm bất giáng, cố dĩ ngũ vị chi toan liễm kỳ khí, thổ hậu tắc âm hoả tự phục, cố dĩ Cam thảo chi cam bổ kỳ trung dã.” (服青龙汤已,设其人下实不虚,则邪解而病除。若虚则麻黄细辛辛甘温散之品虽能发越外邪,亦易动人冲气。冲气, 冲脉之气也。冲脉起于下焦,夹肾脉上行至喉咙。多睡口燥, 气冲胸咽,面热如醉, 皆冲气上人之候也。寸沉尺微,手足厥而痹者,厥气上行而阳气不治也。 下流阴股,小便难,时复冒者,冲气不归,而仍上逆也。获苓桂枝能抑冲气使之下行,然逆气非剑不降,故以五味之酸敛其气,土厚则阴火自伏,故以甘草之甘 补其中也。) Đã uống thang Thanh long, giả sử là người hạ thực (hạ tiêu thực chứng) không hư, thì tà giải mà bệnh được giải trừ. Nếu là hư chứng thì Ma hoàng Tế tân là những dược phẩm tân cam ôn (cay ngọt ấm) tuy có thể phát tán ngoại tà, cũng dễ động nhân xung khí . Xung khí, là khí của mạch xung. Xung mạch bắt đầu ở hạ tiêu, theo mạch thận đi lên họng. Khạc nhổ nhiều miệng khô, khí bốc lên ngực họng, sắc mặt như người say rượu, đều là hội chứng của khí bốc lên, mạch thốn trầm, mạch xích vi, tay chân quyết lãnh tê bại, quyết khí đi lên mà dương khí không trị được, vì lại chảy xuống âm cổ ( là phần gần âm đạo) tiểu tiện khó khăn, thỉnh thoảng tái phát, xung khí không trở về, mà lại nghịch lên. Thang Phục linh Quế chi có thể ức chế khiến xung khí đi xuống, khí nghịch không liễm không giáng xuống, nên Ngũ vị chua thu liễm khí, Thổ đầy đặn khiến âm hoả tự phục, nên Cam thảo vị ngọt có tác dụng bồi bổ trung châu ) Cho thấy người hạ hư dùng nhầm thang Tiểu thanh long sẽ dẫn đến động xung khí, hậu quả là ảnh hưởng thận khí, nhắc nhở mọi người khi sử dụng thang Tiểu thanh long nên nghiêm túc nắm vững chứng cấm kỵ của thang dược. Cho dù ngoại trừ thang Linh Quế Vị Cam thang trong {Kim Quỹ Yếu Lược} của điều này, còn thiết lập nhiều loại phương cứu trị sau khi dùng nhầm thang Tiểu thanh long, nhưng dù sao thì cẩn thận vẫn là cách tốt nhất. Chẳng qua, trị liệu là căn cứ vào biện chứng, chỉ cần biện chứng chuẩn xác, thì điều trị không cấm kỵ, và vì thế cũng không thể vì khó khăn mà không sử dụng.
Phương thang này thích hợp với chứng ho suyễn do hàn ẩm, không thể dùng cho chứng ho suyễn do Thái âm ôn bệnh, phong nhiệt phạm phế. Thang Tiểu thanh long gia Thạch cao trong {Kim Quỹ Yếu Lược}, trị liệu “Phế trướng, khái nhi thượng khí, phiền táo nhi suyễn, mạch phù, tâm hạ hữu thuỷ” (phế trướng, ho như khí nghịch lên, phiền táo mà suyễn, mạch phù, dưới tim có nước), chính là dùng trị tà ẩm thuỷ ở trong, ngăn cản dương khí mà xuất hiện chứng phiền táo (bực bội).
41伤寒,心下有水气,咳而微喘,发热不渴。服汤已渴者,此寒去欲解也。 青龙汤主之。C42
Điều 41
Thương hàn, tâm hạ hữu thuỷ khí, khái nhi vi suyễn, phát nhiệt bất khát. Phục thang dĩ khát giả, thử hàn khứ dục giải dã. Thanh long thang chủ chi.
Dịch: Thương hàn, dưới tim có thuỷ khí, ho mà suyễn nhẹ, phát nhiệt không khát. Uống thuốc rất khát, đó là trừ khứ hàn muốn khỏi bệnh. Thanh long thang trị bệnh này.
Điều này nối tiếp điều trên (40) nói thêm về chủ chứng và cơ chế chuyển biến sau khi uống thuốc trừ khứ hàn tà và bệnh chuyển biến tốt.
“Tiểu thanh long thang chủ chi” cần phải để tiếp sau “Phát nhiệt bất khát” (发热不渴) thuộc đảo trang câu pháp. “Thương hàn, tâm hạ hữu thuỷ khí”, với câu ở điều (41) “Thương hàn biểu bất giải, tâm hạ hữu thuỷ khí” có hàm nghĩa giống nhau, cũng chính là nói về cơ chế bệnh của thang Tiểu thanh long. Điều trên giảng về chứng chủ yếu là nôn khan, phát nhiệt mà ho, điều này nói thêm về chứng ho và suyễn nhẹ cũng chính là chứng thích ứng (hợp với điều kiện khách quan). Chứng khát nước ở điều trước hoặc là chứng tự nhiên chính là do thuỷ khí bất hoá, tân dịch bất tư (tăng thêm) gây ra, vì thế khi điều trị thì khứ Bán hạ gia Thiên hoa phấn để sinh tân dịch trị khát nước. Ở điều này sau khi uống thang Tiểu thanh long thì xuất hiện khát nước, chính là sau khi uống thuốc bệnh tà hàn ẩm đã bị trừ khứ, khí của Vị dương dần dần hồi phục, khí bên trong ấm áp, dấu hiệu của thuỷ khí phân tán vì thế Trương Trọng Cảnh viết: “Thử hàn khí dục giải dã.” (此寒去欲解也。)Đó là hàn khí muốn giải vậy. Tuy khát nhưng không quá khát, làm sao để trị nó? , có thể không trị cũng khỏi, uống từng chút nước là được. Nếu như khát nước và khát quá nhiều, thì sẽ uất át (cản trở) vị dương, dẫn đến tai hoạ là thuỷ khí tụ trở lại.
42太阳病,外证未解,脉浮弱者,当以汗解,宜桂枝汤。C43
Điều 42
Thái dương bệnh, ngoại chứng vị giải, mạch phù nhược giả, đương dĩ hãn giải, nghi Quế chi thang.
Dịch: Thái dương bệnh, chứng bên ngoài chưa giải, mạch phù nhược, cần dùng hãn để giải, nên dùng thang Quế chi.
Đây là đoạn văn trình bày Thái dương bệnh thấy mạch phù nhược, điều trị nên dùng thang Quế chi.
Điều này nên xét chung với điều 38 “Mạch đãn phù giả, dữ Ma hoàng thang” (Mạch vẫn phù, dùng thang Ma hoàng).
Thái dương bệnh ở điều 38 “Mạch đãn phù” (mạch vẫn phù), trên thực tế là chỉ mạch phù khẩn, là thuộc chứng thương hàn biểu thực, điều trị dùng thang Ma hoàng. Đây là điều nói về Thái dương bệnh mạch không phù khẩn mà thấy “Phù nhược”, nhược chính hoãn nhược (yếu và chậm), nên nghĩ đến chính là chứng trúng phong biểu hư, điều trị nên dùng thang Quế chi.
Tại 7 điều liên tiếp sau khi trình bày các chứng và trị liệu chứng thương hàn biểu thực của thang Ma hoàng và thang Đại, Tiểu thanh long , từ điều này bắt đầu tái thảo luận trị liệu của thang Quế chi, nơi đây sẽ có một sự so sánh giữa hư và thực, có thể làm sâu sắc thêm tư tưởng của biện chứng luận trị.
43太阳病,下之微喘者,表未解故也。桂枝加厚朴杏仁汤主之. C44
Điều 43
Thái dương bệnh, hạ chi vi suyễn giả, biểu vị giải cố dã. Quế chi gia Hậu phác Hạnh nhân thang chủ chi.
Dịch: Thái dương bệnh, hạ thì suyễn nhẹ, biểu chưa giải. Quế chi gia Hậu phác Hạnh nhân thang trị bệnh này.
Đây là đoạn văn thảo luận trị liệu của Thái dương biểu chứng không giải kèm theo tà hãm gây suyễn.
Thái dương bệnh, chỉ cần ngoại chứng còn, là khiến đại tiện không thuận lợi, dù đại tiện bất lợi cũng không được hạ trước, mà nên giải biểu trước, biểu giải rồi mới có thể tả hạ công lý. Đó gọi là “Hãn nghi tảo, hạ nghi trì”(hãn pháp nên sớm, hạ pháp nên chậm) “汗宜早,下宜迟”. Nếu như biểu chứng vẫn tồn tại mà dùng nhầm phép hạ, thì dễ tổn thương khí bên trong, khiến tà ở biểu thừa cơ hội hãm vào trong. Sau khi hạ nhầm, chỉ thấy suyễn nhẹ, cho thấy tà khí tại biểu đã dần dần xâm nhập vào trong (nhập lý), ảnh hưởng phế khí bất lợi mà nghịch lên. Vì phương diện mâu thuẫn chủ yếu còn ở biểu, tức “Biểu chưa giải”, vì thế trị liệu chủ yếu vẫn dùng thang Quế chi để giải cơ phát biểu, lại gia Hậu phác, Hạnh nhân để giáng khí trị suyễn. Vì sau khi dùng phép tả hạ thì chính khí sẽ bị tổn thương, vì thế không nên dùng thang Ma hoàng có lực phát hãn mạnh. Trên lâm sàng phàm là phong hàn ngoại cảm kèm chứng suyễn nhẹ, mạch phù có mồ hôi thì dùng Quế chi thang gia Hậu phác Hạnh tử thang có hiệu quả rất tốt. Ở điều 20 có viết: “Suyễn gia tác Quế chi thang, gia Hậu phác Hạnh tử giai” (喘 家作桂枝汤,加厚朴杏子佳) giải thích là bệnh cảm mới dụ phát bệnh suyễn vốn có từ trước, dùng phương này không trị bệnh suyễn mà chính là trị chứng trúng phong kèm theo chiếu cố bệnh có sẵn (túc tật), chính là phương pháp bệnh cấp thì điều trị ngọn, vì thế viết là “giai”(tốt đẹp). Điều này là bệnh cảm mới biểu tà không giải, tà hãm vào trong gây suyễn, chính là kiêm chứng của Quế chi thang chứng, dùng phương này có ý phát tán biểu tà kèm theo tuyên giáng phế khí, biểu lý cùng được chiếu cố khiến mọi chứng đều khỏi. Vì thế không gọi là “giai” , mà gọi là “chủ chi”.
Trên lâm sàng trị suyễn, do hàn ẩm ảnh hưởng phế dùng thang Tiểu thanh long, do phế nhiệt gây suyễn dùng thang Ma Hạnh Cam Thạch, có nhiều người dùng phương pháp trị suyễn này. So sánh mà nói, sử dụng thang Quế chi gia Hậu phác Hạnh tử trị suyễn tương đối ít, mà phương này cũng ít người xem trọng. Kỳ thực, đối với phong hàn ngoại cảm dẫn đến xuất hãn và suyễn, Ma hạnh Cam Thạch thang, Tiểu thanh long thang đều không thích hợp. Chỉ có phương này là có khả năng trị bệnh. Bồ Phụ Chu tiên sinh đã ghi lại trong y án trị suyễn, đã sử dụng bản phương và đã hiểu sâu sắc yếu lĩnh của phương thang. Phương này trị suyễn với tiêu chuẩn mạch chứng là mạch phù hoãn, có mồ hôi, dùng thang Quế chi gia Hậu phác, Hạnh tử. Diệp Thiên Sĩ tiên sinh chỉ gia Hạnh tử mà không gia Hậu phác, hiệu quả thu được cũng rất tốt.
44太阳病,外证未解者,不可下也,下之为逆。欲解外者,宜桂枝汤主之。 C45
Điều 44
Thái dương bệnh, ngoại chứng vị giải giả, bất khả hạ dã, hạ chi vi nghịch. Dục giải ngoại giả, nghi Quế chi thang chủ chi.
Dịch: Thái dương bệnh, ngoại chứng chưa giải, không thể hạ, hạ là ngược, nên dùng thang Quế chi trị bệnh này.
Đoạn văn này trình bày bệnh biểu lý cùng bị bệnh (biểu lý đồng bệnh), trước tiên nên giải trừ bệnh bên ngoài, điều trị nên dùng thang Quế chi.
Phàm là biểu chứng chưa giải, khi thấy lý chứng là đại tiện không thuận lợi, không được công hạ trước. Nếu công hạ trước, chính là phạm sai lầm trong trị liệu. Vì trong tình huống thông thường, bệnh tà khách ở biểu, nên dùng hãn pháp để giải; Tà khí kết ở trong (lý), nên công hạ để trị bệnh; Biểu lý cùng bị bệnh, phải giải biểu trước và công lý sau. Nếu như công lý trước, sẽ làm tổn thương khí bên trong, khí bên trong thụ thương, bệnh tà ở bên ngoài (biểu) rất dễ dàng thừa cơ hội thân thể hư tổn mà truyền vào trong, khiến cho bệnh trở nên phức tạp. Vì thế, khi biểu lý cùng bị bệnh, nhất định trước tiên giải trừ bệnh ở biểu, sau khi giải quyết biểu tà, nếu khí bên trong vẫn thực thì có thể công hạ. Đây chính là nguyên tắc trị liệu rất trọng yếu của thương hàn lục kinh. Còn như giải biểu, nên suy nghĩ sử dụng thang Quế chi. Vì ở đây là đại tiện không thuận lợi, vì thế dùng thang Ma hoàng có tác dụng phát hãn mạnh sẽ dễ gây tổn thương tân dịch, chỉ nên dùng thang Quế chi có tác dụng tư âm hoà dương, điều vinh hoà vệ là thích hợp.