Điều 24 đến điều 34
24太阳病,初服桂枝汤,反烦不解者, 先刺风池、风府,却与桂枝汤则愈。 C25
Điều 24
Thái dương bệnh, sơ phục Quế chi thang, phản phiền bất giải giả, tiên thích Phong trì, Phong phủ, khước dữ Quế chi thang tắc dũ.
Điều 24
Dịch: Thái dương bệnh, đầu tiên uống thang Quế chi, bệnh nhân lại phiền muộn và bệnh không giải, châm huyệt Phong trì, Phong phủ, lại uống thang Quế chi thì khỏi bệnh.
Điều này nói về khi bệnh nặng thuốc nhẹ không đủ lực trị bệnh thì có thể dùng kết hợp hai phép châm và thuốc để điều trị bệnh.
Đối với Thái dương trúng phong, nên dùng thang Quế chi để trị liệu. “Sơ phục” chính là uống lần thứ nhất, sau khi uống lại tiếp tục ăn cháo, đắp mền để xuất hãn. Nếu như không phát hãn, phong tà không giải, thì nên theo đúng phép uống lần hai. Hiện tại sau khi uống thuốc lần thứ nhất, không những không thấy xuất hãn bệnh giảm, ngược lại lại thấy chứng trạng phiền nóng tăng lên. Phiền giả, nhiệt dã. “Phản phiền bất giải”, chính là ngược lại nhiệt càng nặng. Là Thái dương trúng phong, dùng thang Quế chi để điều trị là phương dượctrị liệu thoả đáng, nhưng vì sao sau khi uống thang Quế chi bệnh lại tăng lên? Đây chính là phong tà quá nhiều trong kinh mạch, mà sức thuốc của thang Quế chi khá nhẹ, sau khi uống thuốc không thể xuất hãn, lại còn tăng thế lực của phong tà. Đối với tình huống này, không thể chiếu theo phép cũ để dùng thuốc, mà nên châm huyệt trước khi dùng thuốc, châm các huyệt Phong trì và Phong phủ. Hai huyệt này có tác dụng rất rõ rệt trong việc khai thông kinh mạch và phát tán phong tà, châm vào có thể khai mở bế tắc của Thái dương kinh khí, tiết phong tà trong Thái dương kinh, làm suy yếu thế lực của tà khí trong kinh mạch. Sau đó uống lại thang Quế chi, ăn cháo nóng, trùm mền để xuất hãn.
Điều này đề xuất phép dùng hỗn hợp châm và dược, có thể nói đây là pháp trong pháp. Sau khi trình bày trường hợp sau khi uống thuốc không xuất hãn, điều kế tiếp lại nói về sau khi uống thuốc xuất đại hãn (xuất rất nhiều mồ hôi).
25 服桂枝汤,大汗出,脉洪大者,与桂枝汤如前法;若形如疟,日再发者,汗出必解,宜桂枝二麻黄一汤。C26
Điều 25
Phục Quế chi thang, đại hãn xuất, mạch hồng đại giả, dữ Quế chi thang như tiền pháp; Nhược hình như ngược, nhật tái phát giả, hãn xuất tất giải, nghi Quế chi nhị Ma hoàng nhất thang. C26
Dịch: Uống thang Quế chi, xuất rất nhiều mồ hôi (đại hãn), mạch hồng đại, uống thang Quế chi theo phép đã nêu ở phần trên; Nếu tựa như sốt rét, ngày phát hai lần, mồ hôi xuất ra bệnh tất giải, nên uống Quế chi nhị Ma hoàng nhất thang.
Phương thang Quế chi nhị Ma hoàng nhất thang:
Quế chi 1 lạng 17 thù bỏ vỏ
Thược dược 1 lạng 6 thù
Ma hoàng 16 thù, bỏ đốt
Sinh khương 1 lạng 6 thù, thái miếng
Hạnh nhân 16 hạt, bỏ đầu nhọn
Cam thảo 1 lạng 2 thù
Đại táo 5 quả, bổ đôi
7 vị thuốc, dùng 5 thăng nước, nấu vị Ma hoàng trước, nấu sôi một hai dạo, vớt bỏ bọt, cho hết vị thuốc vào, đun cạn còn 2 thăng, bỏ bã, uống lúc thuốc còn ấm 1 thăng, uống lần nữa trong ngày.
Đây là đoạn văn phân tích sau khi uống thang Quế chi xuất rất nhiều mồ hôi (đại hãn) xuất hiện hai loại tình huống chứng trị khác nhau. Sau khi uống thang Quế chi, phát hãn cần phải “Toàn thân chỉ cần tựa hồ như có mồ hôi là tốt, không nên xuất nhiều mồ hôi như nước chảy”. Nếu như xuất hãn không đúng, tạo thành đại hãn (quá nhiều mồ hôi), không những không trừ được bệnh, mà còn khiến bệnh tật phát sinh biến hoá. “Mạch hồng đại giả” là mạch đang phù hoãn biến thành hồng đại. Nếu như mạch tuy biến mà chứng chưa biến, phải lưu ý là vẫn tồn tại chứng của Thái dương trúng phong. Nếu mạch biến đại mà xuất hiện chứng phiền khát, là thuộc tân dịch dương minh bị tổn thương sau đại hãn, là biểu nhiệt đã nhập lý. Hiện tại chính là chứng không biến mà mạch biến, cho thấy loại mạch hồng đại này là biểu hiện sau khi uống thuốc xuất quá nhiều mồ hôi (đại hãn) dương khí vẫn mạnh ở ngoài, tức là có thể gọi là biểu hiện của “Kỳ khí thượng xung”, nên vẫn có thể dùng thang Quế chi như phép trước. Thái dương trúng phong, xuất đại hãn, mạch hồng đại, dễ bị ngộ nhận là Bạch hổ thang chứng, sai nhầm ở đây là chỉ xem mạch mà không xét đến chứng, xem xét vấn đề một cách phiến diện. Khi chứng của Thái dương trúng phong chưa biến, còn quá sớm để dùng thang Bạch hổ, nếu dùng có thể khiến cho phong tà bị uất kết ngăn trở mà phát sinh hoại bệnh. Vì thế khi gặp chứng nhất định phải tham khảo kết hợp mạch và chứng, nắm vững toàn diện bệnh tình, để khắc phục tính phiến diện.
Còn có một loại tình huống là bệnh nhân sau khi uống thang Quế chi xuất đại hãn, xuất hiện ghét lạnh phát sốt giống như ngược tật (sốt rét), một ngày phát tác hai lần, cũng chính là “Nhất nhật tái phát”, điều này cho thấy giữa doanh và vệ còn một chút bệnh tà (tiểu tà) chưa giải, nhưng nhẹ hơn so với tình huống Quế chi Ma hoàng các bán thang là chứng một ngày phát 2,3 lần, hơn nữa lại đã xuất quá nhiều mồ hôi, vì thế dùng Quế chi nhị ma hoàng nhất thang, để điều hoà doanh vệ, kèm theo trừ khứ tiểu tà (chút tà khí còn sót lại).
Xét thành phần của phương thang có thể thấy, vị thuốc của Quế chi nhị Ma hoàng nhất thang tương đồng với Quế chi Ma hoàng các bán thang, chỉ là lượng thuốc ít hơn, dùng 5/12 của nguyên tễ lượng thang Quế chi, 2/9 của nguyên tễ lượng thang Ma hoàng. Trong phương có tác dụng điều hoà doanh vệ mạnh hơn nhiều so với với tác dụng phát hãn, và như vậy sẽ vô cùng thích nghi đối với trường hợp sau khi xuất nhiều mồ hôi chỉ còn một chút tà (tiểu tà) chưa giải. Quế chi nhị Ma hoàng nhất thang và Quế chi Ma hoàng các bán thang (đều nửa thang) trên lâm sàng có thể dùng để trị chứng biểu có tiểu tà mà có các chứng như phiền nhiệt, cơ thể bị ngứa. Nói chung, phàm là biểu tà không có mồ hôi mà cơ thể đau nhức, dùng thang Ma hoàng phát đại hãn; Thân thể không đau nhức mà ngứa thì không nên phát hãn mạnh, mà nên dùng 2 phương phát hãn nhẹ nhàng (tiểu hãn pháp), Chứng của hai phương này là hàn nhiệt giao nhau, tương tự như sốt rét, nhưng không phải sốt rét. Chẳng qua, tư tưởng của hậu thế sử dụng Quế chi thang trị sốt rét là phát triển từ đây.
Điều dưới đây thảo luận về tình huống thứ ba sau khi uống thang Quế chi xuất đại hãn.
26服桂枝汤,大汗出后,大烦,渴不解,脉洪大者,白虎加人参汤主之。C27
Điều 26
Phục Quế chi thang, đại hãn xuất hậu, đại phiền, khát bất giải, mạch hồng đại giả, Bạch hổ gia Nhân sâm thang chủ chi . C27
Uống thang Quế chi, sau khi xuất nhiều mồ hôi, bệnh nhân rất phiền muộn, không hết khát nước, mạch hồng đại, thang Bạch hổ gia Nhân sâm trị bệnh này.
Phương thang Bạch hổ gia Nhân sâm: Trong phương thang Bạch hổ, gia Nhân sâm 3 lạng, còn lại làm theo như phép của thang Bạch hổ.
Đây là đoạn văn phân tích chứng và phương pháp trị liệu sau khi bệnh nhân uống thang Quế chi xuất đại hãn dẫn đến tổn thương tân dịch háo khí mà tà nhiệt truyền vào kinh dương minh.
Thái dương trúng phong, dùng thang Quế chi là chính xác, nhưng sau khi uống thuốc vì áp dụng không đúng phương pháp dẫn đến xuất quá nhiều mồ hôi. Ở đoạn văn trước mồ hôi xuất nhiều tuy mạch biến hồng đại, nhưng chứng không biến, vì thế phép trị liệu cũng không thay đổi, vẫn dùng thang Quế chi như trước. Còn ở điều này mạch biến hồng đại mà thấy chứng “Đại phiền khát bất giải” (Rất khát nước không giải được), cho thấy không còn biểu chứng, lại do sau khi xuất quá nhiều mồ hôi gây tổn thương tân dịch trong dạ dày làm cho dạ dày khô khan, dương tà hãm trong khí phận của kinh dương minh. Dạ dày nóng ảnh hưởng đến tâm, nên rất phiền muộn; Khí và tân dịch cả hai đều bị tổn thương, khí không hoá thành tân dịch, nên khát nước nghiêm trọng mà uống nước không giải được khát; Nóng bên trong bốc hơi, “Dương minh mạch đại”, nên thấy mạch hồng đại; Nếu kèm theo nhiệt thịnh mà khí âm cùng bị tổn thương, thì mạch hồng đại lại xuất hiện hình tượng mạch khâu. Đối với tình huống này, phải dùng thang Bạch hổ để thanh nhiệt ở khí phận của kinh dương minh, gia Nhân sâm ích khí sinh tân dịch để trị phiền khát.
Điều này chính là do uống thang Quế chi trợ nhiệt tổn thương tân dịch, dẫn đến xuất quá nhiều mồ hôi mà rất phiền khát, chuyển thành dương minh lý nhiệt, khí âm cùng tổn thương gọi là Bạch hổ gia Nhân sâm thang chứng. So sánh mà nói, Quế chi gia phụ tử thang chứng là do uống nhầm thang Ma hoàng sau khi xuất quá nhiều mồ hôi, dẫn đến mồ hôi ra không ngừng, dương hư không kiên cố.
Nói chung, sau khi dùng thang Quế chi xuất quá nhiều mồ hôi (phát đại hãn) thường dễ tổn thương âm; Sau khi dùng thang Ma hoàng phát đại hãn thường thấy vong dương. Trên lâm sàng tuy không tuyệt đối như vậy, nhưng cũng nên lưu ý. Chúng ta liên hệ so sánh phân tích ba điều:
“Lần đầu uống thang Quế chi, không giải được phiền”; “Uống thang Quế chi, xuất nhiều mồ hôi, mạch hồng đại”; “Uống Quế chi thang, sau khi xuất nhiều mồ hôi, phiền khát không giải”, đã có thể dựa theo bệnh tình biến hoá xuất hiện sau khi uống thang Quế chi của các trường hợp đề cử, và đề xuất nội dung biện chứng chủ yếu và trong phương pháp xử lý, nhận thức được tinh thần biện chứng luận trị của Trương Trọng Cảnh, những điều này có giá trị rất tốt đối với việc học tập và nghiên cứu.
27太阳病,发热恶寒,热多寒少,脉微弱者,此无阳也,不可更汗,宜桂枝二越 婢一汤方。C28
Điều 27
Thái dương bệnh, phát nhiệt ố hàn, nhiệt đa hàn thiểu, mạch vi nhược giả, thử vô dương dã, bất khả cánh hãn, nghi Quế chi nhị việt tì nhất thang phương. C28
Dịch: Thái dương bệnh, phát sốt ghét lạnh, nóng nhiều lạnh ít, mạch nhỏ yếu, đó là không có dương, không thể ra mồ hôi liên tục, nên dùng thang Quế chi nhị Việt tì nhất.
Quế chi nhị Việt tì nhất thang phương: Quế chi bỏ vỏ , Thược dược, Cam thảo đều 18 thù, Sinh khương 1 lạng 3 thù, thái, Đại táo 4 quả bổ đôi, Ma hoàng 18 thù, bỏ đốt, Thạch cao 24 thù, đập nát
7 vị thuốc dùng 5 thăng nước, nấu Ma hoàng sôi một hai dạo, vớt bỏ bọt, cho tất cả vị thuốc vào, đun cạn còn 2 thăng, bỏ bã, uống lúc thuốc còn ấm 1 thăng, phương này là thang Việt tì, thang Quế chi uống chung một thăng, nay hợp thành 1 phương, Quế chi nhị Việt tì nhất.
Đoạn văn này thảo luận trị liệu chứng biểu uất sinh nhiệt nhẹ.
Thái dương biểu chứng, phát sốt nhiều mà ghét lạnh ít, cho thấy hàn tà xâm phạm thể biểu (phần bên ngoài của cơ thể) lâu ngày, tà khí đã ở thế hoá nhiệt. Nếu như hoàn toàn hoá nhiệt, sẽ xuất hiện chứng dương minh lý nhiệt là chỉ nóng không lạnh mà ngược lại lại ghét nóng. Hiện tại, bệnh còn ghét lạnh, từ đó cho thấy bệnh chưa hoàn toàn hoá nhiệt. “Mạch vi nhược” là có ý nói so sánh với mạch phù khẩn, cũng chính là thế của mạch phù khẩn đã giảm bớt, cũng phản ảnh hàn tà đã ở thế hoá nhiệt.
“Thử vô dương dã”, Thành Vô Kỷ ở điều C161 “Vô dương tắc âm độc” (无阳则阴独) chú thích viết: “Biểu chứng bãi vi vô dương” (表证罢为无阳)Hết biểu chứng là vô dương. Có thể thấy, “Vô dương” tại đây là nói về không có chứng thương hàn biểu thực, vì thế không thể dùng lại thang Ma hoàng để phát hãn. Hậu thế không ít nhà chú thích dùng điều này điều chỉnh câu trên, đổi là “Thái dương bệnh, phát nhiệt ố hàn, nhiệt đa hàn thiểu, Nghi Quế chi nhị Việt tì nhất thang. Mạch vi nhược giả, thử vô dương dã, bất khả cánh hãn.”Đổi mạch vi nhược thành mạch cực vi là mạch dương suy, lấy “Vô dương” giải thành vong dương. Bất quá, đây chính là đoạn thảo luận về chứng và trị liệu biểu lý nhiệt, không có quan hệ gì với vong dương, lấy vong dương giải thích ý ban đầu của Trương Trọng Cảnh là không phù hợp, vẫn nên tuân theo chú giải của Thành Vô Kỷ, chẩn đoán là biểu uất mà sinh nhiệt chứng nhẹ, dùng thang Quế chi nhị Việt tì nhất để điều trị.
Thang Quế chi nhị Việt tì nhất tức là thang Quế chi kết hợp với thang Việt tỳ, cũng có thể nói đó là thang Quế chi gia Ma hoàng, Thạch cao, đồng thời chế thành thang tễ nhỏ mà thành. Dùng thang Quế chi gia Ma hoàng giải biểu khai uất, gia Thạch cao thanh nhiệt của dương uất. Vì lượng dùng của chúng khá nhẹ, lực phát hãn và giải nhiệt khá yếu, vì thế vẫn thuộc phạm trù của phương tiểu hãn (ra ít mồ hôi). Khi bộ phận biểu hàn hoá nhiệt, xuất hiện nóng nhiều lạnh ít, thang Ma hoàng, thang Quế chi, thang Đại thanh long đều không phải là thời điểm ứng dụng thích hợp, chỉ có thể tuyển phương này tân (cay) để thấu biểu, lương (mát) để giải nhiệt, cũng là phép tân lương giải biểu. Tên phương “Việt tì” có hai loại giải thích: Một là, “Việt” có ý chỉ sự vượt qua; “Tì” Đồng nghĩa với ti, chỉ địa vị thấp kém, lực lượng yếu kém. Việt tì chỉ lực vượt qua thấp, không như tác dụng phát hãn thanh lý mạnh mẽ như thang Đại thanh long. Thứ hai, 《Ngoại Đài Bí Yếu》 gọi thang Việt tì là “Khởi tì thang”, cho rằng phương này có tác dụng phát việt tỳ khí, thông hành tân dịch.
Quế chi ma hoàng các bán thang, Quế chi nhị Ma hoàng nhất thang, Quế chi nhị Việt tì nhất thang đều là những phương tễ phát hãn nhẹ (tiểu hãn), dùng cho trường hợp tiểu tà ở doanh vệ không giải. Tiểu tà ở doanh vệ không giải đều có tình huống hàn nhiệt giao tác như sốt rét, hoặc một ngày phát 2,3 lần, hoặc một ngày tái phát, hoặc nóng nhiều lạnh ít hoặc thân thể ngứa. Khác biệt với phát nhiệt ghét lạnh của Thái dương biểu chứng điển hình. Trên lâm sàng gặp những tình huống này, cần chú ý xem có phải là chứng thích ứng với ba phương tiểu hãn này hay không. Ba phương này vì là phương phát hãn nhẹ (tiểu hãn), nhất định cần chú ý đến lượng thuốc sử dụng phải ít và nhẹ, không thể làm mất đi bản ý của Trương Trọng Cảnh.
28服桂枝汤,或下之,仍头项强痛, 翕翕发热,无汗,心下满,微痛,小便不利 者,桂枝汤去桂,加茯苓白术汤主之。C29
Điều 28
Phục Quế chi thang, hoặc hạ chi, nhưng đầu hạng cường thống, hấp hấp phát nhiệt, vô hãn, tâm hạ mãn, vi thống, tiểu tiện bất lợi giả, Quế chi thang khứ Quế, gia Phục linh Bạch truật thang chủ chi. C29
Dịch: Uống thang Quế chi, hoặc dùng phép tả hạ, đầu gáy vẫn cứng đau, hấp hấp phát sốt, không mồ hôi, đầy ở dưới tim, đau nhẹ, tiểu tiện không thuận lợi, Quế chi thang khứ Quế, gia Phục linh bạch truật thang chủ trị bệnh này.
Phương Quế chi khứ quế gia Phục linh Bạch truật thang:
Thang Quế chi khứ quế , gia Phục linh, Bạch truật đều 3 lạng, còn lại làm theo phép trước, sắc uống. Tiểu tiện thuận lợi là khỏi bệnh. Đây là đoạn văn thảo luận cách trị liệu của thuỷ tà đình trệ bên trong sau khi dùng phép hạ.
Đối với đoạn văn này các nhà chú giải tranh luận khá nhiều, trọng điểm là ở chỗ có hay không có biểu chứng, đến việc bỏ vị Quế chi còn là vấn đề bỏ vị Thược dược. 《Y Tông Kim Giám》 cho rằng: “Khứ Quế đương nhiên là khứ Thược dược”. Thành Vô Kỷ thì mập mờ cả hai đều có thể, không nói bỏ Quế chi, còn chính là khứ bỏ Thược dược, đề xuất nên dùng thang Quế chi gia Phục Linh Bạch truật. Kha Vận Bá, Trần Tu Viên thì duy trì nguyên ý, chủ trương khứ Quế chi gia Phục linh Bạch truật.
Đoạn văn mở đầu viết “Uống thang Quế chi, hoặc hạ chi”, có thể thấy người làm thuốc trước đây cho rằng “Đầu hạng cường thống, hấp hấp phát nhiệt” là chứng của thang quế chi, có thể phát hãn, lại hoặc cho rằng “Tâm hạ mãn, vi thống”(đầy dưới tâm, đau nhẹ) là chứng có thể hạ, nhưng sau khi phát hãn và tả hạ, những chứng trước đó vẫn tồn tại, đó là vì nguyên nhân gì? Vì họ không biết “Tiểu tiện bất lợi ” chính là biện chứng chủ yếu ở đó. Tiểu tiện bất lợi là phản ảnh của khí hoá bất lợi, của thuỷ tà đình lại bên trong.
Tác dụng khí hoá của khí Thái dương với chuyển hoá thuỷ dịch có quan hệ vô cùng mật thiết. Thuỷ tà lưu ở trong, dẫn đến thái dương phủ khí không thuận lợi, khí hoá mất kiểm soát, có thể xuất hiện chứng tiểu tiện bất lợi; Đè nén cản trở dương khí trong kinh Thái dương, kinh mạch bất lợi, có thể xuất hiện chứng đầu gáy cứng đau và phát sốt, tựa như biểu chứng mà không phải biểu chứng; Dẫn đến khí bên trong bất hoà, có thể xuất hiện các chứng đầy dưới tim, đau nhẹ, tựa như lý thực nhưng không phải lý thực. Vì thế hai phép hãn và hạ đều không thích nghi, chỉ dùng thang Quế chi khứ quế gia Phục linh Bạch truật để kiện tỳ lợi thuỷ. Thuỷ tà đã trừ, thái dương kinh phủ khí không còn uất, bệnh cũng biến chuyển tốt.
Sau phương thang lại có ghi chú :“Tiểu tiện lợi, tắc dũ” (Tiểu tiện thuận lợi, khỏi bệnh), cho thấy tác dụng của phương này không phải là phát hãn, mà chính là thông lợi tiểu tiện, không cần Quế chi đi ra biểu để giải cơ, vì vậy nên bỏ quế đi. Có người nói, đã không phát hãn, mà chuyên môn lợi tiểu tiện, thì tại sao không dùng Ngũ linh tán? Ghi chú sau phương Ngũ linh tán là “Đa ẩm noãn thuỷ, hãn xuất dũ” (uống nhiều nước ấm, xuất hãn khỏi bệnh), chứng chính là tiểu tiện bất lợi, nhiệt nhẹ khát nước, mạch phù, dùng phương pháp phát hãn lợi thuỷ, khiến khiếu bên ngoài được thông, nên khiếu bên trong thuận lợi, chính là phép biểu lý lưỡng giải. So sánh mà nói, phương này chỉ lợi thuỷ mà thôi, khiếu bên trong thông, thuỷ tà khứ, nên kinh mạch tự hoà, chính là phép lợi thuỷ để điều hoà bên ngoài. Đường Dung Xuyên viết: “Ngũ linh tán thị Thái dương chi khí bất ngoại đạt, cố dụng Quế chi, dĩ tuyên Thái dương chi khí, khí ngoại đạt tắc thủy tự hạ hành, nhi tiểu tiện lợi hĩ. Thử phương thị Thái dương chi thủy bất hạ hành, cố khứ Quế chi, trọng gia Linh Truật, dĩ hành Thái dương chi thủy, thủy hạ hành, tắc khí tự ngoại đạt, nhi đầu thống phát nhiệt đẳng chứng, tự nhiên giải tán. Vô hãn giả, tất vi hãn nhi dũ hĩ. Nhiên tắc Ngũ linh tán trọng tại Quế chi dĩ phát hãn, phát hãn tức sở dĩ lợi thủy dã; Thử phương trọng tại Linh Truật dĩ lợi thủy, lợi thủy tức sở dĩ phát hãn dã. Thực tri thủy năng hóa khí, khí năng hành thủy chi cố, sở dĩ tả nghi hữu hữu.” (五苓散是太阳之气不外达,故用桂枝,以宣太阳之气,气外达则水自下行,而小便利矣。此方是太阳之水不下行,故去桂枝,重加苓术,以 行太阳之水,水下行,则气自外达,而头痛发热等证,自然解散。无汗者,必微 汗而愈矣。然则五苓散重在桂枝以发汗,发汗即所以利水也;此方重在苓术以利水,利水即所以发汗也。实知水能化气,气能行水之故,所以左宜右有。)
Ngũ linh tán chính là khí Thái dương không thông ra ngoài, nên dùng Quế chi, để khai thông khí Thái dương, khí thông ra ngoài nên thuỷ tự hạ hành (đi xuống), mà tiểu tiện thông lợi. Phương này chính là thuỷ của Thái dương không đi xuống, nên khứ Quế chi, gia nhiều Linh Truật, để lưu thông thuỷ của Thái dương, thuỷ hạ hành thì khí thông ra ngoài, mà các chứng đau đầu, phát nhiệt sẽ tự giải. Nếu không có mồ hôi, sẽ xuất mồ hôi nhẹ và khỏi bệnh.
Vậy thì Ngũ linh tán chú trọng vào Quế chi để phát hãn, phát hãn cũng tức là lợi thuỷ; Phương này chú trọng vào Linh Truật để lợi thuỷ, lợi thuỷ tức là phát hãn vậy. Thực là biết thuỷ có thể hoá khí, khí có thể hành thuỷ, vì thế thích nghi thích hợp. Phân tích của họ Đường có thể nói là đã hiểu sâu sắc ý nghĩa trị liệu của phương thuốc này.
Trần Thận Ngô Tiên sinh từng điều trị cho bệnh nhân bị sốt nhẹ một vài năm, chứng chủ yếu là hấp hấp phát nhiệt, tiểu tiện không thuận lợi. Ông sử dụng nguyên bản phương để điều trị, chỉ dùng 2,3 thang là nhiệt thoái bệnh khỏi. Có thể thấy, kinh phương chỉ cần dùng thoả đáng là có thể thu được hiệu quả rất tốt. Trần Tu Viên dùng phương này trong nghiệm án trị liệu sứ bộ Tạ Chi Điền cũng rất trứ danh, cũng không cần nói lại.
Tóm lại, từ phân tích lý luận đến nghiệm chứng lâm sàng, đều khứ Quế chi là đúng. Vị Thược dược trong phương có thể hỗ trợ sơ tiết để trị chứng tâm hạ mãn, Linh Truật đi vào trong để kiện tỳ lợi thuỷ, Khương (gừng) kiện tỳ hoà trung, điều hoà doanh vệ, cộng lại cùng có công hiệu kiện tỳ khí và lợi thuỷ tà.
29 伤寒脉浮,自汗出,小便数,心烦,微恶寒,脚挛急,反与桂枝汤,欲攻其表, 此误也。得之便厥,咽中干,烦躁吐逆者,作甘草干姜汤与之,以复其阳。若厥愈、足温者,更作芍药甘草汤与之,其脚即伸。若胃气不和,谵语者,少与调胃 承气汤。若重发汗,复加烧针者,四逆汤主之。C30
Điều 29
Thương hàn mạch phù, tự hãn xuất, tiểu tiện sác, tâm phiền, vi ố hàn, cước luyên cấp, phản dữ Quế chi thang, dục công kỳ biểu, thử ngộ dã. Đắc chi tiện quyết, yết trung can, phiền táo thổ nghịch giả, tác Cam thảo Can khương thang dữ chi, dĩ phục kỳ dương. Nhược quyết dũ, túc ôn giả, cánh tác Thược dược Cam thảo thang dữ chi, kỳ cước tức thân. Nhược vị khí bất hoà, thiềm ngữ giả, thiểu dữ điều vị thừa khí thang. Nhược trọng phát hãn, phục gia thiêu châm giả, tứ nghịch thang chủ chi.
Dịch: Thương hàn mạch phù, tự xuất mồ hôi, tiểu tiện nhiều lần, tâm phiền, ghét lạnh nhẹ, chân co lại, lại cho uống thang Quế chi, muốn công biểu, đó là sai lầm. Uống vào liền quyết, cổ họng khô, phiền táo thổ nghịch, dùng Cam thảo Can khương để phục dương. Nếu khỏi chứng quyết, chân ấm, lại cho uống thang Thược dược cam thảo, chân duỗi được. Nếu vị khí bất hoà, nói lảm nhảm, một ít thang Điều vị thừa khí. Nếu trọng phát hãn, thêm thiêu châm, Tứ nghịch thang trị bệnh này.
Phương Cam thảo Can khương thang: Cam thảo 4 lạng, Càn khương 2 lạng, sao, làm nát, dùng 3 thăng nước, đun cạn còn 1 thăng 5 hợp, bỏ bã, phân hai lần uống.
Thang Thược dược Cam thảo: Thược dược 4 lạng, Cam thảo 4 lạng, nướng, dùng 3 thăng nước , nấu cạn còn 1 thăng rưỡi, bỏ bã, phân hai lần uống.
Phương thang Điều vị thừa khí: Đại hoàng 4 lạng, bỏ vỏ, tẩm rượu Cam thảo 2 lạng, nướng, Mang tiêu nửa cân, dùng 3 thăng nước, nấu còn 1 thăng, bỏ bã, rồi cho Mang tiêu vào nấu lửa nhỏ, khi sôi, uống ấm ít một.
Phương thang Tứ nghịch: Cam thảo 2 lạng, nướng, Can khương 1 lạng rưỡi, Phụ tử 1 củ, dùng sống, bỏ vỏ, bổ làm 8 miếng. Dùng 3 thăng nước, nấu cạn còn 1 thăng 2 hợp, bỏ bã, phân 2 lần uống ấm, người khoẻ mạnh dùng 1 củ phụ tử to, Can khương 3 lạng.
Đoạn văn này đưa ra hình thức làm mẫu để phân tích biến chứng của chứng thương hàn kèm theo hư tổn mà phát hãn nhầm và phương pháp cứu trị tuỳ theo chứng.
Người âm dương khí huyết đều hư lại thêm cảm hàn, dương không giữ được âm, nên tự đổ mồ hôi (tự hãn), tiểu tiện nhiều lần; Âm huyết không đủ, tâm thần không được nuôi dưỡng, nên tâm phiền; Biểu có hàn tà, nên mạch phù, ghét lạnh nhẹ; Âm huyết hư và ít, cân mạch không được nuôi dưỡng, nên chân co quắp, co lại, đau nhức, cũng chính là “Cước luyên cấp” (chứng chuột rút) ở bắp chân.
Đối với loại tình huống này, có thể cân nhắc dùng thang Quế chi gia Phụ tử, giải biểu kèm theo củng cố dương để giữ âm. Nhưng thày thuốc ngộ nhận là “Vệ cường doanh nhược” (Vệ mạnh doanh yếu) của chứng Thái dương trúng phong, lại dùng thang Quế chi phát hãn, đã phạm vào điều cấm hư hư chi giới (làm hư càng thêm hư) dẫn đến âm dương càng hư, xuất hiện dương hư chân tay lạnh, âm bị tổn thương gây khô khan bên trong cổ họng, hư dương nhiễu động nên phiền muộn, âm dịch khuy háo nên táo (nóng nảy), khí bất hoà nên thổ nghịch, dần dần bệnh tình ngày càng phức tạp, chỉ có thể tuỳ theo chứng mà điều trị.
Trường hợp âm dương đều hư, khí dương không giữ được âm, mâu thuẫn chủ yếu thường ở phương diện dương hư. Dương vững chắc thì âm tồn tại, dương sinh sẽ khiến âm lớn mạnh (Dương sinh tắc âm trưởng). Hơn nữa âm hữu hình không thể sinh nhanh chóng (tốc sinh), mà dương vô hình có nguy cơ biến mất trong khoảnh khắc. Vì thế, trước tiên dùng thang Cam thảo Can khương để phục hồi dương khí, đợi sau khi dương hồi phục, chứng quyết khỏi, chân ấm áp, nếu chân còn co rút chưa hoãn giải, lại dùng thang Thược dược Cam thảo tư âm hoà huyết, giải trừ chứng co cứng, chân có thể duỗi ra dễ dàng. Nếu có chứng âm dịch không đầy đủ, sau khi dùng thang Cam thảo Can khương để phù dương, vì dương phục hồi thái quá, khiến cho âm dịch càng bị tổn thương, trong dạ dày khô nóng, làm cho trong dạ dày bất hoà mà nói sàm, có thể dùng thang Điều vị thừa khí với lượng ít, có mục đích là hoà vị táo (khô ráo) điều vị khí, mà không hề có mục đích tả hạ.
Nếu như căn bản là dương khí không đủ, trong trị liệu lại sử dụng thuốc phát hãn mạnh như thang Ma hoàng, hoặc phát hãn nhiều lần, dùng thiêu châm ép buộc xuất hãn, tức là “Trọng phát hãn, cộng thêm thiêu châm”, có thể dẫn đến dương bị tổn thương nặng mà xuất hiện quyết nghịch thổ lợi.v.v… Phương pháp cứu trị nên cấp thời dùng thang Tứ nghịch để hồi dương cứu nghịch. Đối với loại dương hư trọng chứng này, thang Cam thảo Can khương không thể đảm nhiệm được.
Đây là đoạn văn nói về trường hợp sau khi ngộ trị phát sinh biến chứng đa dạng, hư thực hàn nhiệt cùng tồn tại, âm dương chuyển hoá thất thường, trên phương diện trị liệu hoặc là phù dương, hoặc là tư âm, hoặc hoà vị, hoặc hồi dương, trị pháp biến hoá theo chứng, Trương Trọng Cảnh đối với nguyên tắc trị liệu ở đây là “Quan kỳ mạch chứng, tri phạm hà nghịch, tuỳ chứng trị chi” (Quan sát mạch chứng, để biết điểm phạm nghịch, tuỳ theo chứng mà trị liệu) làm mẫu mực điển hình, và có ý nghĩa hướng dẫn rất lớn.
Thang Cam thảo Can khương thấy ở hai nơi, một ở {Thương hàn luận}, một ở 《Kim Quỹ Yếu Lược》, 《Kim Quỹ Yếu Lược》dùng trị chứng hư hàn phế nuy. Lượng sử dụng của phương là lượng Cam thảo nhiều hơn Can khương, một là phù trợ dương của tỳ vị, hai là chứng này ngoại trừ dương hư còn có các chứng âm hư như cước luyên cấp, khô họng, vì thế trong khi phù dương còn phải đặc biệt chú ý không để tổn háo chân âm đã bị suy yếu sẵn, đó cũng chính là nguyên nhân chỉ dùng Can khương mà không dùng Phụ tử. Vì thuốc phù trợ dương nhiều phần là cứng và khô, vì thế không chỉ tránh sử dụng Phụ tử khô táo mãnh liệt, còn cần phải dùng nhiều Cam thảo để giám chế tính mãnh liệt của Can khương, giữ gìn chân âm. Ở đây cần dùng đến vị Can khương đã sao, nướng, để tính dược của Can khương hoà hoãn hạn chế ảnh hưởng đến âm của cơ thể, từ những điểm vừa nêu có thể nhận thấy những điểm tinh diệu trong việc sử dụng thuốc của Trương Trọng Cảnh. 《Chu Thị Tập Nghiệm Phương》 dùng phương này để trị chứng thổ huyết không ngừng của bệnh nhân tỳ vị dương hư, khí bất nhiếp huyết, có các chứng như: Mạch trì, thân thể mát mẻ, phương có tên là Nhị thần thang, có thể thấy phương này có thể phù dương lại có thể nhiếp âm.
Thang Thược dược Cam thảo dùng lượng Thược dược và Cam thảo bằng nhau, đều là 4 lạng. Hai vị hợp lại với nhau, chua ngọt hợp lại hoá thành âm (cam toan hoá âm), có thể dưỡng huyết bình can, hoãn giải cân mạch co quắp, chuyên trị huyết mạch co rút đau nhức, thường có hiệu quả tốt đối với vì nguyên nhân huyết hư mà dẫn đến hai chân co rút đau nhức hoặc là bắp chân co rút không thể duỗi thẳng, vì thế còn được gọi với mỹ danh là “Khứ trượng thang” (Thang Bỏ gậy).
Người viết có một bệnh nhân nữ họ Tào, 53 tuổi, kể là bắp chân bị co rút, thường hay phát tác về ban đêm, mạch huyền, lưỡi hồng. Người viết dùng thang Thược dược Cam thảo, sau khi uống 4 thang bệnh hoàn toàn khỏi hẳn. Trường hợp điều trị cho một bn nữ họ Chu, 12 tuổi, chủ yếu do thận trái sau khi bị thương sưng đau, chân trái không duỗi ra được, và còn sốt, thân nhiệt 37.8°C, mạch huyền tế sác. Tây y chẩn đoán viêm khớp hông có mủ. Phân tích mạch tượng, huyền là mạch của tạng can, tế là huyết hư, sác là nhiệt, cho thấy can huyết không đủ, cân mạch không thuận lợi mà còn có chứng uất nhiệt, đầu tiên người viết dùng 3 thang Thược dược Cam thảo, sau khi uống 3 thang, chân trái đã có thể hoạt động, sau khi uống thêm 2 thang, đùi trái có thể duỗi thẳng, đau ở hông cũng giảm nhẹ. Cân nhắc cục bộ sưng đỏ và có cảm giác nóng thế là quyết định thay bằng Tiên phương hoạt mệnh ẩm, liên tục uống một số thang, tình trạng tốt dần và khỏi bệnh.
Thành phần của thang Điều vị thừa khí gồm Mang tiêu, Đại hoàng và Cam thảo, Tiêu Hoàng trong phương có thể tiết táo nhiệt ở vị tràng, Cam thảo có thể hoà hoãn lực của Tiêu Hoàng, khiến nó tác dụng ở dạ dày. Vì vậy, phương này có thể điều hoà vị khí, lại có khả năng thông tràng hạ tiện. Một phương mà có hai phép, Trần Tu Viên gọi là “Pháp trung chi pháp” (法中之法). Nguyên nhân vì mục đích chủ yếu là điều vị, vì thế khi uống bệnh nhân được yêu cầu “Thiểu thiểu ôn phục” (Uống thuốc ấm và uống ít một), khiến cho trong dạ dày không khô ráo, vị khí điều hoà, và chứng nói sàm tự ngưng lại. Hậu thế thường dùng thang Điều vị thừa khí thanh tiết nhiệt ở dạ dày, điều hoà khô ráo trong dạ dày, như Trương Thị Y Thông trị chứng tâm hoả thịnh, bệnh nhân thường có cảm giác như mặt bị hơ nóng gọi là “Liệu diện chứng” (擦面症)mặt bị thiêu đốt, là dùng thang Điều vị thừa khí gia Hoàng liên, Tê giác. Cũng có thày thuốc dùng cho trường hợp vì dùng quá nhiều thuốc bổ mà tạo thành chứng vị nhiệt sinh ban, thu được hiệu quả rất tốt.
Thang Tứ nghịch với chủ yếu là vị Phụ tử, chú trọng ở ôn Thiếu âm để hồi dương cứu nghịch, trong phương Phụ tử chính là Sinh Phụ tử. Đồng thời tá dược là Can khương, Cam thảo, thu được hiệu quả nhanh mà còn lực mạnh và lâu dài. Phương này thường dùng vào trường hợp cấp cứu như thoát dương, vong dương. Liên quan đến chủ trị và các chứng thích hợp có thể tham khảo kết hợp với phân tích của thiên thiếu âm bệnh.
30问曰:证象阳旦,按法治之而增剧,厥逆, 咽中干,两胫拘急而谵语。师曰:言夜半手足当温,两脚当伸;后如师言。何以知此?答曰:寸口脉浮而大, 浮则为风,大则为虚,风则生微热,虚则两胫挛。病征象桂枝,因加附子参其间,增桂令汗出,附子溫经,亡阳故也。厥逆咽中干,烦躁,阳明内结, 谵语,烦乱,更饮甘草干姜汤。夜半阳气还,两足当热, 胫尚微拘急,重与药药甘草汤,尔乃胫伸,以承气汤微溏,则止其谵语,故知病可愈。C31
Điều 30
Vấn viết: Chứng tượng Dương đán (Quế chi thang chứng), án pháp trị chi nhi tăng kịch, quyết nghịch, yết trung can, lưỡng hĩnh câu cấp nhi thiềm ngữ. Sư viết: Ngôn dạ bán thủ túc đương ôn, lưỡng cước đương thân; Hậu như sư ngôn. Hà dĩ tri thử? Đáp viết: Thốn khẩu mạch phù nhi đại, phù tắc vi phong, đại tắc vi hư, phong tắc sinh vi nhiệt, hư tắc lưỡng hĩnh luyên. Bệnh chinh tượng Quế chi, nhân gia Phụ tử tham kỳ gian,tăng Quế lịnh hãn xuất, phụ tử ôn kinh, vong dương cố dã. Quyết nghịch yết trung can, phiền táo, dương minh nội kết, thiềm ngữ, phiền loạn, cánh ẩm Cam thảo Can khương thang. Dạ bán dương khí hoàn, lưỡng túc đương nhiệt, hĩnh thượng vi câu cấp, trọng dữ Thược dược Cam thảo thang, nhĩ nãi hĩnh thân, dĩ Thừa khí thang vi đường, tắc chỉ kỳ thiềm ngữ, cố tri bệnh khả dũ.
Hỏi: Chứng như Dương đán (Quế chi thang chứng), theo phép trị mà bệnh tăng, quyết nghịch, họng khô, hai chân co quắp miệng nói sàm. Thày viết: Nửa đêm tay chân ấm áp, hai chân duỗi, sau như thày nói. Làm thế nào để biết điều này? Đáp: Thốn khẩu mạch phù mà đại, phù là phong, đại là hư, phong sẽ sinh vi nhiệt, hư thì hai đùi co quắp. Bệnh chứng giống Quế chi, vì gia Phụ tử vào, tăng khả năng xuất hãn của Quế, phụ tử làm ấm kinh lạc, cho nên vong dương. Quyết nghịch trong họng khô, bực bội, dương minh nội kết, nói sàm, lo lắng, thay bằng thang Cam thảo Can khương. Nửa đêm dương khí trở về, hai chân đang nóng, chân còn co quắp nhẹ, lại dùng Thang Thược dược Cam thảo, chân duỗi ra, với thang Điều vị thừa khí phân hơi lỏng, hết nói sàm, nên biết bệnh có thể khỏi.
Đoạn văn này tiến thêm một bước để giải thích thêm về điều bên trên. Phân tích giản lược.
Chúng ta hãy tóm tắt bài viết này. Thiên này gồm 31 điều, từ điều 1 đến điều 12 chính là cương lĩnh của toàn bộ sách, cũng chính là cương lĩnh của Thái dương bệnh, có ý nghĩa sâu xa trong việc hướng dẫn toàn bộ cuốn sách và thống lĩnh biện chứng. Nội dung của 12 điều này ngoài việc trình bày đề cương chứng của Thái dương bệnh, còn có phân biệt bệnh phát âm dương, phân biệt chân giả hàn nhiệt, phân biệt trúng phong thương hàn, phân biệt có truyền kinh hay không, phân biệt sự khác biệt của các chứng tương tự, phân biệt thời gian khỏi bệnh, tuy có luận nhưng không đề ra phương thang, nhưng cũng phản ảnh được tôn chỉ của biện chứng luận trị, chính là bảng tóm tắt của Thái dương bệnh. Từ điều thứ 13, thì có bàn luận, có chứng, có phương thuộc chuyên khảo của Thái dương bệnh, chủ yếu trình bày Quế chi thang chứng của Thái dương trúng phong chứng, đến chứng gia giảm và chứng cấm kỵ của thang Quế chi. Sau cùng Trương Trọng Cảnh thuyết minh cụ thể về tinh thần “Tuỳ chứng trị chi” (Theo chứng mà trị)
Phân biện trị pháp và mạch chứng của Thái dương bệnh phần giữa
Tóm tắt
Đoạn văn này kế tiếp đoạn văn Thái dương trúng phong sau khi điều trị là loại hình hàng đầu của Thái dương biểu bệnh, chủ yếu trình bày một đại loại hình khác —–Thái dương thương hàn chứng trị và một số phương chứng có liên quan. Tiến hành trình bày hai đại loại hình của Thái dương phủ chứng____ Chứng và trị liệu của Thái dương súc (tích ứ) thuỷ và Thái dương súc (tích ứ) huyết, theo đó mà hoàn thiện hệ thống luận trị của Thái dương bệnh. Bản thiên còn đề cử phương pháp cứu trị của nhiều biến chứng, bên trong chứa ý nghĩa trị liệu tạp bệnh, đồng thời thông qua việc thảo luận trị liệu Thiếu dương bệnh xuất hiện sau khi tà truyền Thiếu dương, để nói rõ về tà của Thái dương nhập lý hoặc truyền vào Dương minh, hoặc truyền Thiếu dương, tuyệt nhiên không có quy luật cố định, quyết định then chốt là ở nhân tố thể chất.
31太阳病,项背強几几,无汗,恶风,葛根汤主之。C32
Điều 31
Thái dương bệnh, hạng bối cường ki ki, vô hãn, ố phong, Cát căn thang chủ chi. C32
Thái dương bệnh, gáy lưng cứng không tự nhiên, không mồ hôi, ghét gió, thang Cát căn trị chứng này.
Phương thang Cát căn: Cát căn 4 lạng, Ma hoàng 3 lạng bỏ đốt, Quế chi 2 lạng bỏ vỏ, Thược dược 2 lạng, thái Cam thảo 2 lạng, nướng Sinh khương 3 lạng, thái Đại táo 12 quả, bổ
Dùng 1 đấu nước để sắc thuốc, đầu tiên nấu vị Ma hoàng và Cát căn , giảm 2 thăng, vớt bỏ bọt, cho hết thuốc vào , nấu còn lại 3 thăng, bỏ bã, uống 1 thăng lúc thuốc còn ấm, làm cho cơ thể tựa như có mồ hôi, không cần ăn cháo, còn lại theo như phép của thang Quế chi, điều dưỡng và cấm kỵ.
Đây là đoạn văn thảo luận về chứng và trị liệu Thái dương thương hàn kinh mạch vận chuyển bất lợi.
Kinh mạch chính là đường giao thông của khí huyết, biểu tà của Thái dương không được giải, kinh mạch thụ tà, khí huyết vận hành không thông sướng, kinh mạch vận chuyển không thuận lợi, cho nên xuất hiện chứng gáy lưng cứng không tự nhiên. Nếu như cân mạch co quắp, lại thấy các chứng như xuất mồ hôi ghét gió, đây là biểu hiện của Thái dương bệnh trúng phong không cần nghi ngờ, dùng thang Quế chi gia Cát căn để điều trị, điều này đã được đề cập ở phần trước. Nếu gáy lưng cứng không mềm mại tự nhiên, không có mồ hôi mà sợ gió lạnh, là thuộc thương hàn biểu thực chứng, chính là do hàn bao phủ ở bên ngoài, huyền phủ (lỗ chân lông) không thông, dẫn đến kinh mạch khí huyết không thuận lợi, sợ gió cũng là từ đồng nghĩa của sợ lạnh. Điều trị nên phát hãn tán hàn, vận chuyển thông suốt kinh mạch, thang Cát căn chủ trị bệnh này.
Từ góc độ dùng thuốc, thang Cát căn chính là trên cơ sở thang Quế chi gia Ma hoàng, Cát căn. Mà trong đó vị Cát căn là chủ dược, có thể phối với Ma hoàng giải cơ phát biểu, lại có khả năng thăng tân dịch, mềm mại cân mạch để trị chứng gáy lưng cứng, chứng gáy lưng cứng của biểu hư dùng thang Quế chi gia Cát căn, chứng này thuộc biểu thực kinh mạch vận chuyển không thuận lợi, thì tại sao không dùng thang Ma hoàng gia Cát căn? Vì Ma hoàng có lực phát hãn mạnh, lại gia thêm Cát căn để thăng dương phát biểu, sợ rằng mồ hôi sẽ xuất quá nhiều. Tuy chứng này là do kinh mạch vận chuyển không thuận lợi, cũng nên phát hãn, nhưng cần phải xét đến cân mạch không được nuôi dưỡng, gò bó không mềm mại, dùng thang Ma hoàng gia Cát căn dễ tạo thành xuất nhiều mồ hôi tổn thương tân dịch, không đạt được mục đích là thêm tân dịch nhuận táo, hoãn hoà cân mạch câu loan (co cứng). Vì thế, tuyển chọn thang Quế chi gia Ma hoàng Cát căn, đã có thể phát hãn tán hàn, lại không đến mức xuất quá nhiều mồ hôi gây tổn thương tân dịch. Đồng thời, có Thược dược, Cam thảo, Đại táo có tác dụng thêm tân dịch hoá âm để hoà hoãn cân mạch, phù hợp với tình trạng bệnh.
Trên lâm sành có rất nhiều bệnh nhân đau lưng gáy, dùng thang Cát căn trị liệu thường có thể thu được hiệu quả. Sau khi uống thang Cát căn, có bệnh nhân đau lưng gáy có cảm giác phát nhiệt, đó chính là phản ảnh của dương khí sắp thông suốt, tiếp theo là gáy lưng xuất mồ hôi, cùng với xuất mồ hôi lan ra toàn thân mà khỏi bệnh. Như Tào Gia Đạt trong 《Kinh Phương Thực Nghiệm Lục》 viết: “Khoảnh khắc sau khi uống, có cảm giác nóng nhẹ ở lưng, uống thêm, lưng xuất mồ hôi, tiếp đến toàn thân…..Trị bệnh thành công”
Liên quan đến phép sắc, uống của phương thang, cần chú ý sắc trước hai vị Ma hoàng và Cát căn, vớt bỏ bọt, sau đó cho hết vị thuốc vào. Như vậy, một mặt có thể hoà hoãn tính tân tán của Ma hoàng, Cát căn, đề phòng lực phát hãn quá mạnh, xuất mồ hôi quá nhiều; Mặt khác có thể giảm tính tẩu tán của Ma hoàng, để tránh sau khi uống thuốc phát sinh các tác dụng phụ như hồi hộp, tâm phiền, vựng đầu. Sau khi uống thuốc không cần ăn cháo, chỉ trùm mền để có thể xuất mồ hôi.
32太阳与阳明合病者,必自下利,葛根汤主之。C33
Điều 32
Thái dương dữ dương minh hợp bệnh giả, tất tự hạ lợi, Cát căn thang chủ chi. C33
Thái dương và Dương minh hợp bệnh, tất sẽ tự hạ lợi, thang Cát căn trị bệnh này.
Đoạn văn này thảo luận trị liệu bệnh hạ lợi (tiết tả) do Thái dương hợp với dương minh gây bệnh.
Bệnh chứng của hai kinh hoặc nhiều hơn hai kinh đồng thời phát sinh, không phân trước sau, chính phụ, gọi là hợp bệnh, hợp bệnh phát sinh, phần nhiều là do tà khí quá mạnh, cùng lúc xâm phạm một số kinh, bệnh thế của nó cũng mạnh hơn so với bệnh phát ở một kinh. “Thái dương dữ dương minh hợp bệnh”, Tại đây chỉ đích thị Thái dương và Dương minh kinh biểu đồng thời thụ tà, biểu hiện Thái dương biểu chứng như sợ lạnh phát nhiệt, đầu gáy cứng đau, lại có Dương minh kinh biểu chứng như mặt bừng bừng đỏ, đau vùng đầu trán, mắt đau mũi khô, ngủ không yên giấc. Liên quan đến Dương minh kinh chứng, trong {Thương hàn luận} giải thích không rõ ràng lắm, nguyên văn điều 49 đề cập chỉ có 1 chứng “Diện sắc duyên duyên chính xích” (面色缘缘正赤) sắc hồng đỏ đầy mặt, là rất không toàn diện. Những năm gần đây, nhiều học giả lấy Bạch hổ thang chứng làm dương minh kinh chứng, xáo trộn khái niệm của kinh, cũng không hoàn toàn thích hợp. Nói một cách nghiêm túc, Bạch hổ thang chứng xem như Dương minh nhiệt chứng tựa hồ khá là chuẩn xác. Căn cứ theo các y thư《Thương Hàn Tổng Bệnh Luận》 của Bàng An Thời và 《Loại Chứng Hoạt Nhân Thư》 của Chu Quăng ghi lại, đều là Dương minh kinh mạch vi bệnh gọi là tố kinh chứng.
Y Tôn Kim Giám đối với Dương minh kinh chứng lại làm thành bài văn vần để tóm lược: “Cát căn phù trường biểu dương minh, duyên duyên diện xích ngạch đầu thống, phát nhiệt ố hàn thân vô hãn, mục thống tỵ can ngoạ bất ninh.”
Ở đây nói rằng Cát căn thang chứng cũng là Dương minh kinh chứng, chính là dương minh kinh mạch thụ tà, kinh khí bị cản trở mà biểu hiện hội chứng. Vì kinh của nó cũng hành ở biểu, vì thế cũng có chứng trạng toàn thân như phát nhiệt, ghét lạnh, mắt đau mũi khô ngủ không yên.
Nhị dương hợp bệnh, vì Thái dương, Dương minh hai kinh thụ tà nhiều ít khác nhau, bệnh biến cũng có bên nặng bên nhẹ. Nếu Thái dương bệnh chứng nặng hơn, có thể dùng thang Ma hoàng, như điều thứ 37 “Thái dương với Dương minh hợp bệnh, suyễn mà ngực trướng đầy, không thể hạ, nên dùng thang Ma hoàng” chính là một thí dụ. Đây là điều của hai dương hợp bệnh với tà của kinh Dương minh nặng, ở đây có thể dựa theo chứng “Tất tự hạ lợi” (tất nhiên sẽ tiết tả) mà nhận biết. Thái dương và Dương minh kinh biểu thụ tà, nhất là tà nặng ở kinh dương minh, vì khí của kinh dương minh kháng tà ở biểu, không thể chiếu cố bảo hộ bên trong của vị tràng, khí bên trong bất hoà, thăng giáng thất thường, vì thế xuất hiện các chứng như hạ lợi tự phát (đi tả tự phát), ẩu thổ. Với hạ lợi là chính, dùng thang Cát căn giải tà ở kinh biểu, thăng khí của dương minh, biểu giải thì lý hoà, hạ lợi (đi tả) tất tự ngừng.
Thang Cát căn là phương thang trị liệu chính của dương minh kinh chứng, lại có thể kiêm giải biểu tà của Thái dương, chủ dược trong phương là vị thuốc Cát căn, không chỉ giải cơ phát biểu, mà còn có thể nhập vào tỳ vị, thăng phát thanh dương, cổ vũ vị khí, điều trị tốt chứng tiết lợi (tiết tả). Vì thế phương này rất thích hợp dùng để điều trị chứng tiết tả do nhị dương hợp bệnh gây ra.
33太阳与阳明合病,不下利,但呕者,葛根加半夏汤主之。C34
Điều 33
Thái dương dữ dương minh hợp bệnh, bất hạ lợi, đãn ẩu giả, Cát căn gia Bán hạ thang chủ chi. C34
Dịch: Thái dương và Dương minh hợp bệnh, không tiết tả, nhưng ẩu thổ, Cát căn gia bán hạ chủ trị bệnh này.
Phương thang Cát căn gia Bán hạ: Cát căn 4 lạng, Ma hoàng 3 lạng, bỏ đốt, ngâm trong nước bỏ nước vàng, sấy khô, gừng tươi 3 lạng, thái Cam thảo 2 lạng, nướng, Thược dược 2 lạng, Quế chi 2 lạng, bỏ vỏ, Đại táo 12 quả, bổ, Bán hạ nửa cân, rửa
8 vị thuốc trên dùng 1 đấu nước, đầu tiên nấu hai vị Cát căn và Ma hoàng, cạn bớt 2 thăng, vớt bỏ bọt, cho hêt thuốc vào, đun cạn còn 3 thăng, bỏ bã, uống thuốc lúc còn ấm 1 thăng, uống thêm một lần để tựa như xuất mồ hôi nhẹ.
Đoạn văn này nối tiếp đoạn văn trên để thảo luận trị liệu của nhị dương hợp bệnh, biểu tà không giải, ảnh hưởng khí bên trong bất hoà, không tiết tả nhưng ẩu thổ.
Thái dương với Dương minh hợp bệnh, biểu tà không giải, dương khí của hai kinh đề kháng ngoại tà ở biểu (bên ngoài), không thể chăm sóc bên trong, tạo thành khí bên trong bất hoà, thăng giáng thất thường, có lúc có thể xuất hiện tiết tả, có lúc lại thấy ẩu thổ, có lúc lại thấy cả hai thổ và tả. Ẩu thổ là chứng vị khí không hạ giáng, có liên hệ với biểu lý bất hoà gây ra, vì thế trong trị liệu nên giải biểu của hai kinh, dùng thang Cát căn gia Bán hạ hoà vị giáng nghịch để trị ẩu thổ.
Trên lâm sàng rất hay gặp tình huống khí bên ngoài và ảnh hưởng khí bên trong bất hoà, như trong Quế chi thang chứng có oẹ khan, trong Ma hoàng thang chứng có ẩu nghịch. Có người cảm ngoại tà mà thổ lợi (thổ tả) không ngừng, hiện tại gọi là “Vị tràng hình cảm mạo”. Đối với loại hình bệnh này, trên phương diện trị liệu nên giải ngoại (giải ngoại tà) là quan trọng nhất. Ngoại tà được giải, khí bên trong sẽ tự hoà. Thăng giáng trở lại bình thường, thổ tả cũng tự ngừng.
Thang Cát căn gia bán hạ chính là trên cơ sở nguyên phương nguyên lượng thang Cát căn gia Bán hạ nửa cân (Bản Triệu là nửa thăng), phép sắc uống giống như thang Cát căn.
34太阳病,桂枝证,医反下之,利遂不止,脉促者,表未解也; 喘而汗出者,葛根黄连黄苓汤主之。C35
Điều 34
Thái dương bệnh, Quế chi chứng, y phản hạ chi, lợi toại bất chỉ, mạch xúc giả, biểu vị giải dã; Suyễn nhi hãn xuất giả, Cát căn Hoàng liên Hoàng cầm thang chủ chi. C35
Dịch: Thái dương bệnh, Quế chi chứng, thày thuốc lại hạ, liền tiết tả không ngừng, mạch xúc, biểu chứng chưa giải; Suyễn mà xuất mồ hôi, thang Cát căn Hoàng liên Hoàng cầm trị bệnh này.
Phương thang Cát căn Hoàng cầm Hoàng liên: Cát căn ½ cân, Cam thảo 2 lạng, Hoàng cầm 2 lạng, Hoàng liên 3 lạng, gồm 4 vị, dùng 8 thăng nước, đầu tiên nấu riêng vị Cát căn, cạn bớt 2 thăng, cho hết vị thuốc vào, nấu cạn còn lại 2 thăng, bỏ bã, chia làm hai lần uống khi thuốc còn ấm.
Đây là đoạn văn thảo luận trị liệu của chứng lý nhiệt (nóng trong) bên ngoài có biểu tà và tiết tả.
Quế chi thang chứng của Thái dương trúng phong, do thày thuốc dùng nhầm phép hạ, biểu tà bị hãm vào trong, xuất hiện chứng trạng tiết tả không ngừng.
“Y phản hạ chi”, chính là bệnh tại biểu không nên hạ mà lại hạ, vì thế gia thêm chữ “phản”, điều này nên được coi là một điều kiện cho sự thay đổi bệnh lý, khi gặp bệnh không cần câu nệ. Biểu tà nhập lý xuất hiện “Lợi toại bất chỉ” (tiết tả không ngừng), chính là thuộc hư chứng, thuộc thực, thuộc hàn, còn là thuộc nhiệt, nên dựa vào mạch biện chứng để đưa ra chẩn đoán.
“Mạch xúc giả”,là mạch sác mà cấp bách, không phải mạch xúc (là mạch sác mà có nhịp ngừng). Mạch sác là bên trong có nhiệt, đồng thời phản ảnh cơ thể nhiều dương khí. Nhiều dương khí, có khí thế kháng ngoại tà thông đạt ra ngoài, thì ngoại tà chưa hoàn toàn hãm vào trong, vì thế nên viết “Biểu vị giải dã”. Đã có biểu tà chưa giải, lại có lý nhiệt hạ lợi, có thể gọi là lý nhiệt xen lẫn biểu tà mà hạ lợi (tiết tả), hoặc gọi là “Hiệp nhiệt lợi”(kèm theo nhiệt tả). Biểu tà gò bó phế, nhiệt bên trong bức bách phế, phế khí không thuận lợi, nên phát bệnh suyễn. Lý nhiệt bức bách tân dịch vượt ra ngoài, nên xuất mồ hôi. Biểu lý đều nhiệt, nên phát sốt, chính là ý tại ngôn ngoại, nên không nói thêm. Đã là nhiệt lợi (nhiệt tả), thì có các chứng như phân dính và hôi hám, đi tả nhiều và bức bách xuống dưới, là những chứng nhiệt lợi khó tránh. Trị liệu nên dùng phương pháp biểu lý lưỡng giải để giải biểu thanh lý, dùng thang Cát căn Hoàng cầm Hoàng liên.
Thang Cát căn Hoàng cầm Hoàng liên thang chính là phương tễ hàng đầu với vị Cát căn là chủ dược trong {Thương hàn luận}, nhưng dùng Cát căn đến ½ cân thì hiếm thấy. Cát căn vị cay tính mát, có thể giải cơ nhiệt, lại có tác dụng thanh nhiệt ở ruột, còn có thể thăng tân dịch và khí ở vị tràng. Sắc vị Cát căn trước chính là để giải cơ thanh tràng là chủ yếu, Hoàng cầm, Hoàng liên đắng lạnh chuyên trị nóng trong, kiên cố chân âm để trị chứng tiết tả; Cam thảo phù trì trung châu bảo hộ chính khí, điều bổ hư chứng tiết tả, hỗ trợ chính khí để trừ khứ tà khí. Các vị thuốc tương ngẫu, giải biểu thanh lý khiến tự lợi đình chỉ, hết ho suyễn. Theo cách sử dụng thuốc của phương thang có thể thấy, chứng này chính là biểu tà ít mà lý nhiệt (nóng bên trong) nhiều, có thể nói chỉ có 3 phần biểu chứng, 7 phần còn lại đều là lý chứng.
Tổng kết 4 điều trên, thang Cát căn có thể dùng vào chứng phong hàn tại biểu, Thái dương kinh vận chuyển không thuận lợi, chứng cứng lưng gáy, cũng có thể dùng trị trị chứng Thái dương Dương minh hợp bệnh, chính khí kháng bệnh tà ở biểu không chăm sóc bảo hộ bên trong, khí bên trong bất hoà, thăng giáng thất thường, xuất hiện các chứng thổ, tả. Thang Cát căn Cầm liên dùng điều trị chứng hạ lợi hiệp nhiệt của biểu lý đều nhiệt. Với vị Cát căn là chủ dược của hai phương này, trên lâm sàng rất thường dùng, hiệu quả cũng rất tốt, nên nắm vững mạch chứng.