Điều 150 đến điều 154 (C158-C162)
Từ điều 150 đến điều 154
150 太阳少阳并病,而反下之,成结胸,心下硬,下利不止,水浆不下,其人心烦。C158
150 Thái dương Thiếu dương tính bệnh, nhi phản hạ chi, thành kết hung, tâm hạ ngạnh, hạ lợi bất chỉ, thuỷ tương bất hạ, kỳ nhân tâm phiền. C158
Đoạn văn này thảo luận về trường hợp ngộ hạ khi hai kinh Thái dương và Thiếu dương cùng bị bệnh dẫn đến chứng ngưng kết ở ngực (kết hung), chứng tương tự như hội chứng nguy hiểm của kinh Thái âm.
Đoạn văn này có hai cách giải thích. Thành Vô Kỷ có cách kiến giải đặc biệt độc đáo, mà các nhà chú thích khác không có. Thành Vô Kỷ cho rằng, bệnh này có hai tầng, một tầng là Thái dương và một tầng là Thiếu dương, vì hai kinh đều bị bệnh, sau khi ngộ hạ, bệnh của kinh Thái dương sẽ biến thành chứng kết hung, bệnh của Thiếu dương truyền vào bên trong thì xuất hiện hạ lợi (tiêu chảy). Loại giải thích này là cách giải thích đặc biệt độc đáo, không có nhà chú thích nào có cách giải thích như vậy.
Vậy điều này có đúng không? Đây là việc rất đáng quan tâm, hãy cùng tham khảo. Vì đây là lời nói của một chuyên gia, nên ít nhiều cũng có đạo lý. Hai kinh Thái dương và Thiếu dương cùng bị bệnh, nên dùng thang Tiểu sài hồ, hoặc thang Sài hồ quế chi để giải trừ bệnh ở hai kinh Thái, Thiếu dương.
“而反下之,成结胸” (Nhi phản hạ chi, thành kết hung) việc tả hạ, ở đây lại nói là ngược lại (phản), là không đúng, vì thế đã biến thành chứng kết hung.
Khi bệnh của kinh Thái dương nhập lý (vào trong), nhiệt kết với thuỷ, đã trở thành chứng kết hung. Sau khi thành chứng kết hung, tâm hạ ngạnh, cứng ở tâm hạ, trước đây chúng ta đã học, chứng kết hung thì đại tiện bí kết, thậm chí kết hung tựa như Dương minh ,“ 不大便六七日,日晡所小有潮热” (Bất đại tiện lục thất nhật, nhật bô sở tiểu hữu triều nhiệt) 6,7 ngày không đi đại tiện, triều nhiệt nhẹ vào giờ thân (15~17h) là đúng. Ở đây không như vậy, ở đây gọi là chứng kết hung tựa như Thái âm, nhưng lại “下利不止,水浆不下” (hạ lợi bất chỉ, thuỷ tương bất hạ), tiết tả không ngừng, không ăn uống được, tương tự như bệnh ở Thái âm, “太阴之为病,腹满而吐,食不下” (Thái âm chi vi bệnh, phúc mãn nhi thổ, thực bất hạ), “thực bất hạ” là bao gồm cả ăn và uống. Thái âm bệnh chính là, “食不下,水浆不下” (thực bất hạ, thuỷ tương bất hạ) không ăn uống được, “自利益甚” (tự lợi ích thậm). Chứng hạ lợi của Thái âm là “tự lợi ích thậm” là càng lúc càng trở nên tệ hơn. Còn ở đây là “hạ lợi bất chỉ”(tiết tả không ngừng), cả hai có điểm tương tự. phần trước nói về chứng kết hung mà tựa như bệnh ở kinh dương minh, ở đây là chứng kết hung tựa như bệnh ở kinh Thái âm.
Vì sao xuất hiện chứng trạng lo lắng phiền muộn? Chính khí đã bị hư tổn, khí của tỳ vị cũng bị tổn hại, đồng thời tâm hạ còn ngạnh (cứng), còn ngưng kết ở ngực, chính khí hư và tà thực, vì thế nên phiền muộn. Đoạn văn có nghĩa là sau khi ngộ hạ, bệnh tà của Thái dương và Thiếu dương xâm nhập vào trong tạo thành chứng kết hung.
Sau khi ngộ hạ khí của tỳ vị bị tổn thương, nhất là tổn thương khí Thái âm mà xuất hiện “下利不止,水浆不下” (hạ lợi bất chỉ, thuỷ tương bất hạ) đây là bệnh chứng rất nguy hiểm. Bệnh tà mạnh và chính khí hư yếu, vì thế Dụ Gia Ngôn cho rằng đây là bệnh không có biện pháp điều trị, nhưng Trương Trọng Cảnh không cho rằng đây là chứng chết. Thành Vô Kỷ cho rằng bệnh phân thành hai tầng, bệnh tà ở kinh Thái dương sau khi ngộ hạ tạo thành chứng kết hung, bệnh tà của kinh Thiếu dương truyền vào trong, là khí của can đảm ảnh hưởng lên dạ dày, vì thế xuất hiện “下利不止,水浆不入” (hạ lợi bất chỉ, thuỷ tương bất nhập).
Tóm lại, “下利不止,水浆不下” (hạ lợi bất chỉ, thuỷ tương bất hạ)tiết tả không ngừng, ăn uống không được chính là biểu hiện của tỳ vị thụ thương, chính khí thụ thương. Vì thế bệnh nhân không muốn ăn, đại tiện không ngừng, cứng ở tâm hạ. Nhưng từ đây có thể nhận ra, chứng này không đề cập đến chứng trạng đau đớn, ý tại ngôn ngoại (có hàm ý là) vì đại tiện chỉ hơi lỏng, cho nên thực tà ngưng kết ở tâm hạ nhẹ hơn một chút so với chứng kết hung. Căn cứ theo phân tích của một vài nhà chú giải, ở đây không dùng thang Hãm hung.
Có thể sử dụng thang Hãm hung được không? Đã là “Thuỷ tương bất hạ, hạ lợi bất chỉ”(không uống được, tiết tả không ngừng) còn dùng thang Đại hãm hung, chắc chắn bệnh nhân không chịu nổi. Tỳ vị đều đã hư tổn, tựa như trị chứng thương hàn biểu thực, mạch Xích đã trì, vi, chính khí đã hư, nên dùng thang Tiểu kiến trung, không thể dùng thang Ma hoàng. Ở đây cũng như vậy, khí bên trong đã hư tổn nên không thể dùng thang Hãm hung.
Cuối cùng thì dùng phương thang gì, không một ai có thể nói một cách cụ thể. Có người nói có thể dùng thang Lý trung để có tác dụng ấm áp, dù sao cũng nên bồi bổ, chú trọng về phép ôn bổ. Theo ý của người viết, ở đây sao không dùng thang Sài hồ quế chi can khương? Vì còn cứng ở tâm hạ, Sài hồ quế chi Can khương có tác dụng khai giải, Can khương, Cam thảo có tác dụng làm ấm Thái âm. Đây là ý kiến cá nhân, đề xuất để cùng tham khảo và không nhất thiết phải cho là đúng.
151 脉浮而紧,而复下之,紧反入里,则作痞。按之自濡,但气痞耳。C159
151 Mạch phù nhi khẩn, nhi phục hạ chi, khẩn phản nhập lý, tắc tác bĩ. Án chi tự nhu, đãn khí bĩ nhĩ. C159
Đây là đoạn văn thảo luận về chứng thương hàn biểu thực ngộ hạ mà thành chứng bĩ.
“Nhu” cũng có thể đọc là “nhuyễn”, ấn vào thấy nhu, hay ấn vào thấy nhuyễn (mềm) đều có thể được. “Mạch phù nhi khẩn” mạch phù khẩn là chứng thương hàn biểu thực, nên dùng thang Ma hoàng để phát hãn. “Nhi phục hạ chi”, thày thuốc lại dùng phép hạ, phép tả hạ này “khẩn phản nhập lý” (紧反入里), “khẩn” (紧) là chỉ về hàn tà, hàn tà đã nhập vào trong, hàn tà nhập vào trong thì gây ra chứng bĩ. Đặc điểm của chứng bĩ là gì? Không giống với chứng kết hung, chính là “án chi tự nhu”(ấn vào thấy mềm), không phải “án chi thạch ngạnh”(ấn vào thấy cứng như đá), “án chi thạch ngạnh” là chứng kết hung. Bĩ, là ấn tay vào thấy rất mềm, không phải nước, không phải thực phẩm, mà là khí, “但气痞耳” (đãn khí bĩ nhĩ) là bĩ tắc của khí. So sánh đoạn văn này với bài giảng đã học trước đây, “太阳病误下之后,热入因作结胸” (Thái dương bệnh ngộ hạ chi hậu, nhiệt nhập nhân tác kết hung), “nhiệt nhập” (热入), nhiệt kết với thuỷ, chính là lấy dương nhập vào âm. Vì thuỷ thuộc âm, tà ở bên ngoài (biểu) hoá nhiệt nhập vào trong (lý), chính là nhiệt thêm vào âm, nhiệt kết với âm, nhiệt kết với thủy, vì thế gọi là kết hung. Đây là đoạn văn đề xuất “Mạch phù nhi khẩn, khẩn phản nhập lý”(脉浮而紧,紧反入里) ở đây “khẩn” chính là “hàn”, hàn thuộc âm, sau khi ngộ hạ hàn tà nhập vào trong(lý), dương khí thụ thương. Nhiệt tà đã nhập lý, ngưng kết với âm, ngưng tụ với thuỷ, thành chứng kết hung; Sau khi ngộ hạ, tỳ vị bị tổn hại, hàn tà từ ngoài nhập vào trong, “âm lai thừa dương, âm gia vu dương” (阴来乘阳,阴加于阳) âm đến với dương, âm thêm vào dương, khí chính là thuộc dương, khí của tỳ vị bất hoà, vì thế tạo thành chứng bĩ, khí đã bị bế tắc. Nhiệt nhập vào mà kết với thuỷ, là “Dương gia vu âm” (dương thêm vào âm); Hàn nhập vào với khí gây nghẹt tắc, chính là “Âm gia vu dương”(âm thêm vào dương), nhưng không có thực thể, không thực (chứng), không huyết, không đàm, chỉ là khí, vì thế “đãn khí bĩ nhĩ”(但气痞耳) nhưng chỉ là khí bế tắc.
“Tâm hạ bĩ, đãn khí bĩ nhĩ”(心下痞,但气痞耳) Bế tắc dưới tim, chỉ là bế tắc của khí, câu này rất có ý nghĩa, trước đây chúng tôi không phát hiện vấn đề này trên lâm sàng, luôn nghĩ rằng ở phía dưới tim, vùng bụng trên có khí bế tắc, trên thực tế một số bệnh đôi khi vùng dưới tim phình lên như một cái túi nhỏ, đôi khi to bằng quả trứng hoặc bằng nắm tay nhỏ, giống như một khối u, nhưng khi dùng tay ấn vào thì thấy nó di động, không cứng và không có cảm giác đề kháng, sau khi thu tay lại thì lại thấy phình lên. Là cái gì vậy? “Đãn khí bĩ nhĩ” (但气痞耳) chỉ là khí thôi không có gì khác, điều này đồng dạng là cũng có thể dùng thang Tả tâm.
Chứng tâm hạ bĩ có đau không? Theo Trương Trọng Cảnh là không đau. “Đãn mãn nhi bất thống giả, thử vi bĩ dã”(但满而不痛者,此为痞也). Thêm chữ “đãn” (nhưng), “đãn mãn nhi bất thống giả”. Câu nói này rất giới hạn, chỉ là trướng đầy mà không đau. Điều này không hẳn là như vậy, chứng tâm hạ bĩ có đau, chứng đau này có thể chữa trị được, nhưng cơn đau này nhẹ nhàng hơn cơn đau của chứng kết hung. Đoạn văn này nói về đặc điểm của chứng bĩ, chính là khí bĩ (bế tắc do khí). So sánh với chứng kết hung, chứng kết hung là “nhiệt nhập nhân tác kết hung” (热入因作结胸)nguyên nhân do nhiệt nhập vào thành chứng kết hung, là thực chứng; Bĩ chính là “khẩn phản nhập lý” (紧反入里)thuộc chứng hư hàn.
152 太阳中风,下利,呕逆,表解者,乃可攻之。其人漐汗出,发作有时,头痛,心下痞,硬满,引胁下痛,干呕,短气,汗出,不恶寒者,此表解里未和也,十枣汤主之。C160
152 Thái dương trúng phong, hạ lợi, ẩu nghịch, biểu giải giả, nãi khả công chi. Kỳ nhân thuỷ hãn xuất, phát tác hữu thời, đầu thống, tâm hạ bĩ, ngạnh mãn, dẫn hiếp hạ thống, can ẩu, đoản khí, hãn xuất, bất ố hàn giả, thử biểu giải lý vị hoà dã, thập táo thang chủ chi C160
Phương Thập táo thang
Đại kích Nguyên hoa Cam toại bình
Diệu tương thập táo chử thang hành
Trúng phong biểu chứng toàn trừ tận
Lý khí vị hoà thử pháp trình
Nguyên hoa ngao (nấu) Cam toại Đại kích Đại táo 10 quả bổ
3 vị trên bằng nhau, giã tán riêng. Dùng 1,5 thăng nước, trước tiên nấu 10 quả táo lớn, còn 8 hợp nước, bỏ bã, cho bột thuốc vào, người khoẻ uống 1tiền thìa, người gầy yếu uống nửa tiền, uống ấm, uống vào lúc sáng sớm. Nếu đi tả ít bệnh không hết, ban ngày uống thêm, gia thêm 0,5 tiền, sau khi nhanh chóng hạ lợi, dưỡng sức bằng cháo nhừ.
Đoạn văn này giới thiệu chứng trạng sau cùng của chứng kết hung, cũng chính là hiếp hạ huyền ẩm thập táo thang chứng trong {Kim quỹ yếu lược}. Vì sao ở đây lại giảng Thập táo thang chứng? Chính là để so sánh với chứng kết hung thuỷ nhiệt ngưng kết cứng như đá ở tâm hạ. “Thử biểu giải lý vị hoà dã”
(此表解里未和也) là câu trong ngoặc. Đoạn văn này nói về đang trong quá trìnhThái dương bệnh trúng phong lại kế phát thuỷ ngưng kết. Ngưng kết của thuỷ có hai tình huống: Một là sào huyệt của thuỷ, gốc rễ của thuỷ. Sào huyệt của thuỷ ở đâu?, sào huyệt của thuỷ ở dưới sườn, cũng là gốc rễ của nó. Hai là ảnh hưởng của thuỷ, ảnh hưởng của thuỷ ở tam tiêu, thượng trung hạ tam tiêu đã bất lợi, đồng thời cũng dẫn đến khí doanh vệ bất hoà. Khi biện chứng cần chia thành hai vấn đề, một là cần tìm ra căn bản của nó, hai là xem xét ảnh hưởng của nó, sau đó sẽ điều trị bệnh.
“Thái dương trúng phong” (太阳中风), vì lại xuất hiện có nước ở dưới cạnh sườn, mà nước làm cho tam tiêu không thuận lợi, xuất hiện ở bờ phía dưới thì gây ra tiết tả, xuất hiện ở bờ phía trên thì gây ra ẩu thổ, ở cơ biểu thì doanh vệ bất hoà. “Biểu giải giả nãi khả công chi”(表解者乃可攻之), đây là thuỷ tà nên công hạ, công hạ thì biểu được giải, biểu tà của Thái dương đã giải, thì có thể “công chi” công hạ, đây chính là tiền đề (điều kiện đầu tiên). Tiết tả, ẩu nghịch là những đề pháp chung, nhưng chưa nói cụ thể ở phần trước. Phần dưới nói một cách cụ thể “kỳ nhân thuỷ hãn xuất” (其人漐汗出), “thuỷ hãn xuất” (漐汗出), không quá nhiều mồ hôi, nhưng có mồ hôi. Thuỷ (漐), là toàn thân có một chút mồ hôi. “phát tác hữu thời” (发作有时), xuất mồ hôi từng chập (có lúc không xuất mồ hôi), chính là thuỷ tà đã ảnh hưởng khí doanh vệ bất hoà, có điểm giống như chứng Thái dương trúng phong, vì thế mà xuất mồ hôi, thuỷ tà nghịch lên gây đau đầu, thuỷ tà ngưng tụ ở tam tiêu gây chứng tâm hạ bĩ, ngạnh mãn (đầy cứng). Bệnh kết này rất giống bệnh kết hung.
“Dẫn hiếp hạ thống”(引胁下痛), đây là gốc rễ của bệnh, “dẫn” (引) là lôi kéo, lại giảng chữ “掣” (xế), lôi kéo. Tâm hạ bĩ và cứng đầy đến cạnh sườn, “胁” (hiếp) là đau ở hạ sườn, là một căn cứ của biện chứng lâm sàng, Đau khi trở mình, khi cử động cũng đau, thậm chi đau cả khi ho hoặc nói to. Căn bản là ở hạ sườn, vì thế “引胁下痛” (dẫn hiếp hạ thống) đau kéo xuống hạ sườn. “Dẫn hiếp hạ thống”có tính phổ biến, không chỉ vì tâm hạ ngạnh mãn, dẫn đến hạ sườn bị đau, khi ho, khi nói to, khi trở mình mà ngay cả khi không chú ý cũng có khả năng gây đau ở cạnh sườn. Vì sao như vậy? Vì do thuỷ, sào huyệt của nó ở hạ sườn, vì thế gọi là huyền ẩm (chỉ về thuỷ ẩm ở cạnh sườn mà sản sinh hội chứng, vì nó trên không ở ngực, dưới không ở trong bụng, nên gọi là huyền ẩm “悬饮” (huyền= treo). Thường do ngoại cảm hàn thấp, thuỷ đình trệ ở ngực sườn gây bệnh). Thuỷ tà thấm vào vị ( dạ dày), vị khí nghịch lên gây nôn khan; Thuỷ tà vào phế, phế khí không thuận lợi, vì thế gây chứng thở ngắn, xuất hãn mà không sợ lạnh. Đây không phải là chứng Thái dương trúng phong. Thuộc chứng thuỷ tà khiến vị khí bất hoà.
Xét theo đoạn văn này, ba phần thượng trung hạ đều có thuỷ, phần thượng có đau đầu, tâm hạ cứng đầy ở phần trung tiêu, tiết tả ở hạ tiêu, tại phế gây thở ngắn, dẫn đến khí ở biểu bất lợi nên xuất hãn. “Thuỷ tà hạo hạo đãng đãng, mạc chi năng ngự”(水邪浩浩荡荡,莫之能御) Thuỷ tà to lớn mạnh mẽ, không thể chế ngự, ở khắp nơi. Khi biện chứng , nên nắm vững nguyên nhân sâu xa, nếu chỉ phân biệt từng chứng như đau đầu là gì?, nôn khan là do đâu? Tại sao hơi thở ngắn? phân biệt tới lui vẫn không nắm được nguyên nhân, càng phân biệt lại càng phức tạp.
Đây là những hậu quả ảnh hưởng của bệnh, chủ yếu là tâm hạ thống (đau phía dưới tim), tâm hạ bĩ ngạnh (bế tắc cứng ở dưới tim) liên quan với chứng đau ở dưới cạnh sườn, đau dưới sườn chính là nguyên nhân. Trên lâm sàng nếu xuất hiện rất nhiều vấn đề khí cơ không thuận lợi ở thượng trung hạ (trên, giữa và dưới), biểu lý (trong ngoài), nếu như “hiếp hạ đông thống”(đau ở dưới sườn) là chứng trạng rất rõ rệt, thậm chí không dám động vào vì đau, như vậy nên nghĩ đến chứng hạ sườn có thuỷ ẩm, chính là vấn đề của chứng huyền ẩm. Phải làm thế nào? Dùng thang Thập táo. Thang Thập táo trị chứng hạ sườn có nước, thang Tiểu thanh long trị chứng tâm hạ thuỷ (dưới tim có nước), đây là hai chứng thuỷ của Trương Trọng Cảnh. Học tập phương thang này, còn cần kết hợp với luận thuật của {Kim quỹ yếu lược}, theo Kim quỹ yếu lược “Huyền ẩm”chính là đứng đầu trong “tứ ẩm”, huyền là treo. Tại sao lại gọi là “Huyền ẩm”?
Ý thứ nhất là huyền có nghĩa là treo, treo ở nơi giao thoa của xương sườn, ở giữa trên và dưới, không ở trên, không ở dưới, treo ở giữa, đây gọi là huyền ẩm.
Ý thứ hai là, treo lệch về một bên, không như chứng kết hung, chứng kết hung ở giữa, chứng huyền ẩm lệch về một bên, treo chính là có ý nói lệch về một bên. Thuỷ ẩm đã đình lưu ở sườn, nơi đây chính là “Tả hữu giả, âm dương chi đạo lộ dã” (左右者,阴阳之道路也)trái phải là đường lối của âm dương, chính là đường lối của âm dương, vì thế khi bị bệnh sẽ khiến doanh vệ bất hoà, ảnh hưởng sự thuận lợi của tam tiêu, khiến cho thuỷ khí tràn lan, xuất hiện một số chứng trạng đi kèm, chính là sào huyệt bệnh căn ở dưới cạnh sườn.
{Gia định huyện chí} có gi chép điều này, có thày thuốc tên là Đường Đức Minh, y thuật rất cao. Ông ta điều trị bệnh cho một người nữ họ Võ ở Thái Thương (địa danh). Người này bị bệnh gì? Người này khí đứng hoặc ngồi thì như người bình thường khoẻ mạnh, nhưng rất sợ nằm, khi nằm xuống thì không thở được, như sắp chết, “Ngoạ giả khí quyết như tử”(卧者气厥如死) khi nằm xuống khí nghịch lên không thở được như sắp chết. Đã mời nhiều thày thuốc đến để trị bệnh nhưng đều không hiệu quả, khi bệnh nhân đứng thì không sao, nhưng khi nằm xuống thì không thở được, phải nhanh chóng ngồi dậy. Đường Đức Minh sau khi khám bệnh, chẩn đoán đây là chứng “Huyền ẩm”. “Huyền ẩm” tại sao khi nằm lại không thở được? Vì khi bệnh nhân nằm, nước sẽ gây nghẹt tắc ở trên, phế khí không thuận lợi; Vì sao khi bệnh nhân đứng lại dễ chịu? Vì khi đứng, nước đi xuống dưới, bên trên không bị che lấp, đương nhiên vẫn có các chứng trạng như đau ở hạ sườn, thở ngắn. Sau đó cho bệnh nhân uống Thập táo thang, sau khi uống thuốc bệnh nhân đi tả và khỏi bệnh.
Có thể nói gì về trường hợp này? Nước ở hạ sườn là vật hữu hình, có thể gây trở ngại cho khí cơ, {Thương Hàn Luận} không đề cập đến vấn đề này, {Kim Quỹ Yếu Lược} nói rằng, bệnh chi ẩm, ho gây khó chịu và đau ở ngực, “Chi ẩm, khái phiền hung trung thống giả, bất thốt tử, chi nhất bách nhật hoặc nhất tuế”(支饮,咳烦胸中痛者,不卒死,至一百日或一岁) Chi ẩm, ho phiền đau trong ngực, không đột tử, đến 100 ngày hoặc một năm) bệnh này ho, đau ngực không chết bệnh kéo dài, khoảng 1 năm hoặc 100 ngày, có lúc nặng lúc nhẹ, người này vẫn có những tiên lượng không tốt, vì thế bệnh này rất nghiêm trọng.
Tóm lại, đau ở dưới cạnh sườn, tâm hạ cứng đầy, ho thở ngắn và ẩu thổ, dẫn đến đau dưới sườn là những chứng trạng cần nắm vững. Người bệnh này mặt thường có sắc xanh hoặc đen, tại sao mặt lại có màu xanh? Vì dưới sườn là vị trí của tạng can, cộng thêm thuỷ thuộc âm, nên sắc mặt bệnh nhân xanh, hoặc đen, đen là màu của thuỷ. Thập táo thang gồm “Đại kích Nguyên hoa Cam toại bình”, ba vị thuốc này, thuốc trừ thuỷ mạnh đều có, dùng trái táo lớn, không phải loại táo nhỏ, nấu thuốc với loại táo rất to, nấu đến khi thuốc đặc sệt, dùng Đại kích, Nguyên hoa, Cam toại mỗi vị khoảng từ 5 đến 7 phân (3g), không dùng nhiều hơn, nhiều nhất là 7 phân, dùng thang thập táo để uống. Uống vào lúc nào? “Bình đán phục”(平旦服) uống vào buổi sáng lúc bụng đói. Sau khi uống bệnh nhân nhanh chóng đại tiện “khoái lợi”
(快利) đại tiện một cách khoan khoái, sau khi đại tiện là có thể khỏi bệnh. Nếu bệnh nhân không đại tiện thì có thể tiếp tục uống thuốc.
Tại sao lại gọi phương thang này là “Thập táo thang”? Nước ở dưới sườn nếu không công hạ thì không thể giải quyết bệnh, mà chính khí hư tổn là vấn đề phải chú ý, chỉ công trục tà khí, còn chính khí hư tổn thì sao? Thành quả tả thuỷ của Đại kích, Nguyên hoa, Cam toại, uống vào là bệnh nhân liền đại tiểu tiện. Lúc này, nhất là khi dùng thuốc tả hạ mạnh như Đại kích Nguyên hoa, cần phải chú ý đến chính khí, chính khí trên cơ thể sẽ bị tổn hại khi sử dụng phép tả hạ, khí của tỳ vị cũng bị tổn thương. Đại kích, Nguyên hoa, Cam toại đều là những vị thuốc có độc, rất mãnh liệt, muốn chế ngự bớt độc tính và tính mãnh liệt của chúng cần phải có thuốc, khiến chúng chỉ có thể trừ khứ bệnh tà mà không gây tổn hại cho chính khí, hai phương diện này cần được chú ý. Vì thế, Trương Trọng Cảnh đã cảnh báo khi sử dụng các vị thuốc có độc tính mãnh liệt như Đại kích, Nguyên hoa, Cam toại để trục khứ bệnh tà, phải chú ý đến các điều kiện như bảo tồn chính khí và tân dịch, “Bảo vị khí, tồn tân dịch”(保胃气,存津液) bảo vệ vị khí, bảo tồn tân dịch, từ đó có nhiều khả năng “âm dương tự hoà, tất tự dũ”(阴阳自和,必自愈) để âm dương có thể tự hoà, bệnh tự khỏi. Như thế, phương thang trên gia thêm 10 quả táo to và tốt, dùng nước táo để uống bột Đại kích, Nguyên hoa, Cam toại, là so sánh giữa chính khí và bệnh tà, ở đây chính khí là chủ yếu, mục đích của chúng ta là trừ khứ bệnh tà? Để bảo tồn chính khí, để chính khí hồi phục, xét từ ý nghĩa này, vì thế gọi phương thang này là “Thập táo thang”. Khi đề cập đến Thập táo thang, chúng ta đều biết đây là phương thang có tác dụng trục thuỷ, đồng thời cũng biết rằng khi dùng phương pháp trục thuỷ không được quên phù trì chính khí và bảo tồn tân dịch.
Phương thang này có thể dùng Nhân sâm, Hoàng kỳ không? Không được. Không dùng Đại táo, Đại kích, Nguyên hoa, Cam toại gia thêm Hoàng kỳ 20g, Nhân sâm 20g, như vậy có được không? Không được, vì Đại kích, Nguyên hoa, Cam toại là ba viên mãnh tướng, dùng Nhân sâm, Hoàng kỳ là thuốc bổ khí, như vậy là cản trở tác dụng của thuốc, bổ không bổ được, tả cũng không thể tả, nên không thể dùng Nhân sâm, Hoàng kỳ. Như vậy có thể dùng Cam thảo không? Cũng không được, vì cổ nhân cho cho rằng Cam thảo đều phản với các vị thuốc trong bài “Tảo Kích Toại Nguyên câu chiến Thảo” (藻戟遂芫俱战草) Hải tảo, Đại kích, Cam toại, Nguyên hoa đều phản Cam thảo, thuộc thập bát phản. Đại táo chính là thuốc của tỳ vị, có vị ngọt và nhiều thịt, càng nhai càng nhiều tân dịch, trong thịt táo có chất dầu, như chúng ta có thể ăn điểm tâm bằng nhân táo, táo có chất dầu nên táo có tác dụng bổ khí, bổ tân dịch. {Thần nông bản thảo kinh} mở đầu với công năng của vị Đại táo, có tác dụng bổ khí và bổ tân dịch, theo tiền đề này, vị Đại táo phối hợp với Đại kích, Nguyên hoa, Cam toại là phi thường thoả đáng. Vì thế Đại táo vừa có khả năng bổ tỳ, lại có thể khôi phục tân dịch, đồng thời đại táo có vị ngọt, vị ngọt lại có chút hoà hoãn, “Cam dĩ hoãn chi” (甘以缓之) vị ngọt của Đại táo khiến cho tính mãnh liệt của Đại kích, Nguyên hoa, Cam toại không đến mức gây tổn hại cho chính khí. Ở phương bắc dùng Thập táo thang. Đại táo vùng Hà nam quả rất to. Loại táo ở Bắc kinh có quả bé, nên gọi là tiểu táo, đây là loại táo đặc biệt quả rất bé, với loại táo quả bé này, khi dùng thang thập táo có thể tăng 20, 30 quả, vì sao? Vì một quả bé thì hai quả không phải là nhiều, tăng số lượng lên là vừa đủ. Vì thế nên xuất phát từ thực tế, không phải Trương Trọng Cảnh dùng thang Thập táo là cứ phải tuân thủ một cách máy móc, phải xem táo lớn hoặc bé, xem thịt táo dày hay mỏng, để dùng lượng táo thích đáng thì mới có thể thu được hiệu quả đúng mực của thang Thập táo.
Hôm qua tôi đi họp, có đồng chí họ Lâm, người miền Nam ở Báo Khoa học và Công nghệ đến đưa tin. Anh cho biết mình bị viêm màng phổi từ khi còn nhỏ, trong khoang màng phổi có nước, rất khó chịu. Chụp X-quang như vậy thì mực nước từ lâu vẫn còn rất cao.
Cha của anh ấy là một bác sĩ Trung y, anh ấy muốn dùng thang Thập táo, nhưng anh ấy không thể quyết định? Vì vậy, anh ấy đã đưa một trong những tiền bối của cha mình vào và giúp anh ấy thực hiện ý tưởng của mình. “Dựa theo X quang của anh Lâm có nên sử dụng Thập táo thang không là vấn đề được đưa ra thảo luận”, vị sư huynh có ý kiến phải dùng thang Thập táo, không có phương pháp nào khác, chỉ có thể dùng thang Thập táo để công trục thuỷ tà. Sau khi uống thang Thập táo, có tác dụng tả hạ tốt, và chỉ một lần là khỏi bệnh. Vì thế vị đồng chí họ Lâm rất nhiệt tình tham gia hội nghị nghiên cứu Trung y của chúng tôi. Ông ta nói, phụ thân tôi là Trung y, tôi đã trải qua thời gian bị bệnh, chính là được khỏi bệnh sau khi uống thang Thập táo, ông ta hỏi tôi, ông Lưu, ông có biết hay không biết về thang Thập táo này?, tôi trả lời là biết, không những thế hiện nay tôi còn đang giảng về nó. Không cần rút nước ở trong ngực, vì thế chúng ta có thể nói thang Thập táo có thể trị chứng viêm hung mạc, viêm lặc mạc (viêm màng phổi, viêm màng sườn), trên tạp chí không chỉ báo cáo một vài mà là rất nhiều trường hợp như vậy.
153 太阳病,医发汗,遂发热恶寒,因复下之,心下痞,表里俱虚,阴阳气并竭,无阳则阴独,复加烧针,因胸烦,面色青黄,肤瞤者,难治;今色微黄,手足温者,易愈。C161
153 Thái dương bệnh, y phát hãn, toại phát nhiệt ố hàn, nhân phục hạ chi, tâm hạ bĩ, biểu lý câu hư, âm dương khí tính kiệt, vô dương tắc âm độc, phục gia thiêu châm, nhân hung phiền, diện sắc thanh hoàng, phu nhuận giả, nan trị; Kim sắc vi hoàng, thủ túc ôn giả, dị dũ. C161
Đây là đoạn văn thảo luận về việc sau khi điều trị sai lầm, tạo thành chứng tâm hạ bĩ, chứng tâm hạ bĩ lại gia thêm thiêu châm, khí ở biểu và lý đều bị hư tổn, tiên lượng có tốt, có xấu.
“Thái dương bệnh, y phát hãn”(太阳病,医发汗) Bệnh ở kinh Thái dương dùng phép phát hãn là việc làm đúng. “Toại phát nhiệt ố hàn”(遂发热恶寒), “遂” (toại) hiểu là “kế tục”, là còn tiếp tục phát nhiệt ghét lạnh, điều này cho thấy bệnh tà ở biểu chưa được giải trừ, biểu bệnh chưa giải trừ thì phải làm sao? Tái phát hãn, trước đây chúng ta đã thảo luận về vấn đề này, một lần phát hãn mà bệnh chưa khỏi, có thể phát hãn thêm một lần. Thày thuốc vì phát hãn chưa tốt, lại “Nhân phục hạ chi” (因复下之) lại dùng phép tả hạ, đây chính là điều trị sai lầm. Dùng phép tả hạ sẽ gây tổn thương khí của tỳ vị, đồng thời sẽ khiến bệnh tà ở biểu xâm nhập vào trong, tạo thành chứng tâm hạ bĩ tắc. Do trong quá trình điều trị, đã phát hãn, lại trải qua tả hạ, vì thế “biểu lý câu hư, âm dương khí tính kiệt” (表里俱虚,阴阳气并竭) biểu và lý đều đã bị hư tổn, “âm dương” cũng là có ý chỉ về biểu lý, khí của biểu lý “tịnh kiệt”, (đều suy kiệt), “kiệt” là suy kiệt. Ở mức độ nào? “Vô dương tắc âm độc”, “vô dương”, có nghĩa là không có bệnh tà ở biểu, “tắc âm độc”là bên trong tồn tại tâm hạ bế tắc (bĩ). Lúc này, thày thuốc thấy tâm hạ bĩ cứng, liền cho rằng là hàn chứng, vì thế nên “phục gia thiêu châm” lại sử dụng thiêu châm, thiêu châm này không phải để kiệt hãn (hết mồ hôi), mà chính là để trị chứng tâm hạ bĩ.
“Nhân hung phiền” (因胸烦) lồng ngực khó chịu, sau khi dùng thiêu châm, xuất hiện lồng ngực khó chịu. Lồng ngực khó chịu như thế nào? Tim phiền muộn, không phải lồng ngực bực bội, vì thế chứng ngực khó chịu bao gồm trong ngực nóng, tâm lý buồn bực. Đây là phản ảnh của thiêu châm dẫn đến hoả nhiệt ảnh hưởng đến tim và lồng ngực. Lúc này còn có tâm hạ bĩ, biểu lý đều hư kiệt, còn có hư phiền do ngộ trị âm hoả gây ra, vì thế bệnh này là do chính khí bị hư tổn.“ Diện sắc thanh hoàng, phu nhuận giả, nan trị”( 面色青黄,肤瞤者,难治) Sắc mặt bệnh nhân xanh vàng. Xanh vàng là màu lục, vàng là sắc của tạng tỳ, xanh là sắc của tạng can, sắc mặt xanh vàng không tươi nhuận, là biểu hiện của can mộc khắc tỳ thổ. Cộng thêm da thịt bệnh nhân máy động, “phác phác” (扑扑)máy động, là biểu hiện khí của hai tạng phế tỳ đều bị hư tổn. Tạng phế hợp với da, tạng Tỳ hợp với cơ nhục, khí của Phế Tỳ hư tổn, khí của cơ nhục sẽ không đầy đủ, vì thế nên da thịt máy động. “Diện sắc thanh hoàng” (面色青黄) xanh vàng là màu sắc tương khắc, mộc khắc thổ, can khắc tỳ, “cơ phu nhuần động” (肌肤瞤动) lại là một hiện tượng khí của phế và tỳ bị hư tổn, vì thế nên bệnh khó điều trị. “Nan trị” không phải là chứng chết, chỉ là có những khó khăn trong điều trị bệnh, cần nhiều thời gian điều trị, không phải một hai thang thuốc mà có thể trị khỏi bệnh. Nếu như không có sắc xanh, có sắc vàng nhẹ, chính là sắc của tỳ vị; Tay chân ấm, là dương khí không bị hư tổn, khí của tạng tỳ đi đến tứ chi, bệnh này sẽ dễ điều trị. Vì thế sau khi ngộ trị (điều trị sai lầm) xuất hiện chứng tâm hạ bế tắc, nếu như khí của tỳ vị không suy là bệnh dễ điều trị. Như vậy có hàm ý, chứng tâm hạ bĩ, nếu như khí tỳ vị suy, can khí lại thừa (lấn át) tỳ vị, mặt có màu xanh lục là biểu hiện của bệnh không dễ điều trị.
154 心下痞,按之濡,其脉关上浮者,大黄黄连泻心汤主之。C162
154 Tâm hạ bĩ, án chi nhu, kỳ mạch quan thượng phù giả, Đại hoàng Hoàng liên tả tâm thang chủ chi. C162
Phương thang Đại hoàng Hoàng liên tả tâm thang
Bĩ chứng phân kỳ biện hướng xu
Quan phù tâm bĩ án chi nhu
Ma phí thang tứ khu bệnh hoãn
Đại hoàng 2 lạng Hoàng liên 1 lạng
Hai vị thuốc trên, với Ma phí thang 2 thăng ngâm tẩm, một lát sau chắt lấy nước bỏ bã, chia ra uống thuốc ấm.
Đây là đoạn văn giới thiệu mạch chứng và phép trị liệu của chứng bĩ tắc do hoả. Chứng bĩ có thuỷ có hoả, tâm hạ bĩ có khi thuộc về hoả, có khi thuộc về thuỷ. Đoạn văn này rất đơn giản, triệu chứng chính là gì? Là “tâm hạ bĩ”, đây là chứng tâm hạ bị lấp kín, bế tắc, khí không thông. Chứng tâm hạ bĩ thì y sinh tiến hành phúc chẩn, sờ nắn bằng tay trên bụng bệnh nhân. Vì cần phải chẩn đoán phân biệt với chứng kết hung, nói rằng “按之濡” (án chi nhu), “按之软” (án chi nhuyễn), ấn vào không cứng, không phải “按之石硬者” (án chi thạch ngạnh) cũng không “按之疼痛” (án chi đông thống), mà ấn vào chỉ thấy mềm mại, không có gì khác, không phải thuỷ, đàm, huyết, thực phẩm. “Án chi nhu” ấn tay vào thấy mềm mại ba chữ này rất có ý nghĩa chẩn đoán.
Sau đó sẽ cần phải thiết mạch, nguyên nhân vì chứng tâm hạ bĩ “án chi nhu” (ấn vào thấy mềm có rất nhiều, bán hạ tả tâm thang đều như vậy. “Kỳ mạch quan thượng phù giả” (其脉关上浮者) , đột xuất (nổi bật) “quan thượng”, “quan thượng” là mạch quan, trên quan mạch xuất hiện phù là xuất hiện dương mạch, “phù” ở đây là có ý nói về dương mạch, không cần phải quá câu nệ gò bó khi cho rằng cứ quan bộ là mạch phù, thấy mạch phù cũng được mà thấy mạch sác cũng được. Phàm chính là thấy dương mạch, thuộc dương tính như các mạch đại, phù, sác, động, hoạt là các mạch thuộc dương. Như vậy “quan” thuộc tỳ vị, “Quan hậu tỳ vị, thốn hậu tâm phế xích hậu thận can” (关候脾胃,寸候心肺,尺候肾肝) bộ quan đón xem tỳ vị, bộ thốn xem tâm phế, bộ xích xem thận can, ở đây thấy mạch phù, là mạch của nhiệt, đây là phản ảnh nhiệt bế tắc ở tâm hạ, chứng tâm hạ bĩ này thuộc nhiệt mà không thuộc hàn. Liên hệ giữa chẩn mạch và hội chứng, liền biết rằng chứng bĩ của người này là do hoả nhiệt. Nếu là chứng thuỷ bĩ hoặc chứng kết hung thì sẽ thấy mạch trầm. Hiện tại là mạch phù, là dương mạch, ở khí phận, khá nhẹ nhàng, mà không ngưng tụ ở bên trong, vì thế nên thấy tâm hạ mềm mại, ấn vào không thấy vật gì, chính là khí hoả nhiệt bĩ tắc không tan gây ra.
Như vậy chúng ta có thể thấy các chứng trạng này rất rõ ràng trên lâm sàng không? Không thể. Còn có nhiều vấn đề, những vấn đề gì? Vì có nhiệt, “kỳ mạch quan thượng phù giả” (其脉关上浮者), có mạch sác trên bộ quan, hoặc mạch hoạt trên bộ quan, chỉ cần thấy mạch dương nhiệt, đương nhiên đó chính là phản ảnh của bệnh tà hoả nhiệt ở trong tâm hạ, đã có bệnh tà hoả nhiệt, nên bệnh nhân buồn bực khó chịu, vì thế hội chứng chủ yếu của Đại hoàng Hoàng liên tả tâm thang là chứng bực bội, tâm phát phiền. Ngoài ra, tiểu tiện vàng, đai tiện thông, đại tiện không bí kết. Vì là chứng khí bĩ, đại tiện tuy thông nhưng không sảng khoái, nói chung là không hoàn toàn bình thường. Tâm hạ bĩ như vậy, kèm theo bực bội, đầu lưỡi hồng ráng, đại tiện tuy thông nhưng không sảng khoái, tiểu tiện vàng, có thể biết đây là chứng bĩ do nhiệt. Đây là một phương diện. Cũng có bệnh nhân tâm hạ bĩ đồng thời xuất hiện nục huyết (chảy máu mũi) và thổ huyết. Phải làm sao? “Đại hoàng hoàng liên tả tâm thang chủ chi” dùng hai vị Đại hoàng và Hoàng liên trị bệnh này, hai vị này đều đắng và lạnh (khổ hàn). Vị Đại hoàng có tính tả (bỏ bớt), để tẩy rửa vị tràng, có thể phá nhiệt kết, Hoàng liên có khả năng thanh nhiệt, nhưng lại tốt cho vị tràng. Loại hình thang tễ này dùng Ma phí thang “nhị thăng tí chi” là dùng nước sôi cuồn cuộn, nước sôi gọi là Ma phí thang, “tí chi” là ngâm hai vị Đại hoàng và Hoàng liên, thời gian ngâm không cần lâu dài. “Tu du” là một lát, là thời gian rất ngắn, rồi bỏ bã Đại hoàng và Hoàng liên đi. Sau đó uống nước thuốc vừa ngâm, “phân ôn tái phục”. Thang Đại hoàng Hoàng liên tả tâm không dùng phép sắc thuốc, mà dùng phương pháp ngâm thuốc vào nước sôi. Vì sao cần ngâm thuốc? Vì Đại hoàng và Hoàng liên tiết ra nhiều vị đắng lạnh (khổ hàn dũng tiết), là vị thuốc tả hạ đắng lạnh. Tâm hạ bế tắc là do nhiệt, nhưng là bĩ tắc ở khí phận, không có vật chất hỗ tương ngưng kết, chỉ là sự bĩ tắc của nhiệt khí, nếu không dùng thuốc khổ hàn thì làm sao có thể tiêu trừ nhiệt khí, nhiệt tà? Nó không phải là thứ hữu hình nên không thể tả hạ. Với tiền đề như vậy, Trương Trọng Cảnh dùng phương pháp ngâm thuốc vào nước sôi để “thủ kỳ khí nhi bảo kỳ vị”(取其气而保其味) để giữ được tính hàn lương và vị của thuốc. Thời gian ngâm thuốc trong nước sôi rất ngắn, vị đắng không quá tệ, vì vị đắng thì tiết, như vậy có thể trị chứng bĩ nhiệt ở tâm hạ, mà không đến mức tả hạ mạnh. Thang Đại hoàng Hoàng liên tả tâm không dùng phép sắc thuốc, chỉ dùng phép ngâm thuốc vào nước sôi là được.
Người viết rất thích dùng phương pháp này, thường hay gặp trên lâm sàng. Trị các chứng như chảy máu mũi, đau răng, thổ huyết, buồn bực ở tâm hạ, ngủ không ngon, liền dùng một một ít Đại hoàng, Hoàng liên, hãm như hãm trà, uống vào hiệu quả vô cùng tốt. Phương thang này có tác dụng tả hạ nhẹ, nếu nói không có tác dụng tả hạ là không hiện thực, nhưng chính là tác dụng tả hạ của nó không quá tệ hại mà thôi. Thang Đại hoàng Hoàng liên tả tâm gia thêm vị Hoàng cầm là thành thang Tam hoàng tả tâm. Đây là một cổ phương, cũng không phải phương của Trương Trọng Cảnh. Trong y tịch của Thái thương công Thuần Vu Ý có Hoả tề thang được cho là thang Tam hoàng tả tâm. Cổ nhân dùng thang này trị chứng tâm hoả ở phụ nữ không hạ giáng, cho nên “bào mạch bế dã” kinh nguyệt không hành (bế kinh). Vì tâm chủ huyết mạch, thông vào nhau, thông vào tử cung. Nếu tâm hoả toàn bộ đi lên, không đi xuống thì kinh nguyệt không đến. Kinh nguyệt không đến thì con người vật vã rất khó chịu, thành bệnh về kinh nguyệt, vì thế nên dùng phương pháp tả tâm, dùng phép tả tâm làm cho tâm hoả hạ giáng, huyết mạch của tâm đi xuống được thì kinh nguyệt sẽ đến. Đường Dung Xuyên trong {Huyết chứng luận} trị chứng thổ huyết do nhiệt thì phương đầu tiên sử dụng chính là thang Tả tâm. Thang tả tâm trị huyết chứng hiệu quả cực kỳ tốt. Đây chính là chứng nhiệt bĩ, và khi dùng Đại hoàng Hoàng liên tả tâm thì nên dùng phép ngâm thuốc trong nước sôi.