Điều 126 đến 131 (C134-C138)
126 伤寒有热,少腹满,应小便不利;今反利者,为有血也,当下之,不可余药,宜抵当丸。C134
126 Thương hàn hữu nhiệt, thiểu phúc mãn, ứng tiểu tiện bất lợi; Kim phản lợi giả, vi hữu huyết dã, đương hạ chi, bất khả dư dược, nghi Để đương hoàn. C134
Để đương hoàn phương
Trập ngũ Đào nhân tam lượng đại
Manh trùng Thủy điệt trập mai tường
Đảo phân tứ hoàn tiễn nghi nhất
Hữu nhiệt niệu trường phúc mãn thường
Thủy điệt 20 con Manh trùng 25 con Đào nhân 20 hạt, bỏ vỏ và phần đầu nhọn Đại hoàng 3 lạng, 4 vị trên giã nát phân thành 4 hoàn, dùng 1 thăng nước, nấu 1 hoàn, nấu còn 7 hợp để uống, sau một ngày đêm đi đại tiện ra máu, nếu không, tiếp tục uống.
Điều này tiếp nối điều trên, chỉ khác là chứng trạng ở đây nhẹ hơn.
Tái thảo luận về trị pháp hoà hoãn của chứng tích ứ huyết và giám định phân biệt với chứng tích ứ nước. Thương hàn chính là nguyên nhân bệnh, có nhiệt, kế tiếp bụng dưới trướng đầy. Bụng dưới trướng đầy, nếu thuộc tích ứ nước, thì tiểu tiện bất lợi; “Kim phản lợi giả”(nay tiểu tiện lại thuận lợi), thì không phải do nước, “Vi hữu huyết dã” là do huyết ứ, nên dùng phép hạ “Bất khả dư dược, nghi Để đương hoàn”. Nhiệt và ứ huyết hai phương diện ngưng kết đều nhẹ, thế lực của nhiệt không bằng Đào hạch thừa khí thang, thế lực của ứ huyết không bằng Để đương thang, vì thế biện pháp trị liệu là nên dùng Để đương hoàn công hạ một cách hòa hoãn. Các vị trong Để đương hoàn rất mãnh liệt gồm các vị thuốc như Đại hoàng, Đào nhân, Thủy điệt, Manh trùng, vì thế khi dùng thuốc hoàn, bệnh nhân uống một lượng thuốc ít hơn, chỉ bằng một phần tư thang thuốc, đồng thời khi uống là uống cả bã thuốc, tác dụng hoạt huyết hóa ứ so với thuốc thang, có tác dụng lâu dài hơn một chút. Phương thuốc này vẫn đủ 4 vị thuốc, nhưng lượng thuốc ít hơn, “Thượng tứ vị, chử phân vi tứ hoàn” (Giã nát 4 vị thuốc phân thành 4 hoàn), trong đó có vị Đào nhân, nặn một khối giống như một hoàn thuốc, không dùng mật ong, thuốc có hình tròn là được. Khi uống, dùng 1 thăng nước nấu một hoàn, là nấu một phần tư , nấu còn 7 hợp để uống, không cần uống hết một lần, uống cả nước thuốc và bã, đây gọi là chử hoàn pháp, cũng có điểm tương tự như chử tán pháp, ở phần sau chúng ta học Đại hãm hung hoàn, cũng có phép uống thuốc như vậy. Sau khi uống thuốc một ngày một đêm, Đào Hoằng Cảnh viết “晬时者,周时也”(Tối thời giả, chu thời dã) đủ thời gian là một vòng. Vòng thời gian, là một ngày một đêm. Thí dụ như, uống thuốc vào lúc sáng sớm hôm nay, đến sáng sớm ngày thứ hai gọi là đủ thời gian, đã qua một ngày một đêm, gọi là tối thời (đủ thời gian), Đủ thời gian phải hạ huyết (đại tiện ra máu), trải qua một thời gian đối đầu là một ngày một đêm, dược lực đã phát huy, đại tiện có thể ra máu; “Nhược bất hạ giả, tái canh phục” (若不下者,再更服) nếu không tả hạ thì tiếp tục uống, vì thế lực công hạ của phương này khá hòa hoãn. Để đương thang không như vậy, mà “Dĩ thủy ngũ thăng, chử thủ tam thăng, khứ chỉ ôn phục nhất thăng, bất hạ tái phục” (以水五升,煮取三升, 去滓温服一升,不下再服)Dùng 5 thăng nước (5 lít) nấu còn 3 thăng, bỏ bã uống 1 thăng thuốc còn ấm, nếu không hạ lợi thì tiếp tục uống, chính là nói nó có tác dụng tả hạ, tả hạ vào lúc nào? Phương Để đương thang không nói đến đủ thời gian sẽ tả hạ, mà là sau khi uống một thời gian không lâu là có thể tả hạ, đó là một cái nhanh (Để đương thang), một cái chậm (Để đương hoàn), nhưng lực của Để đương hoàn thì kéo dài, vì uống thuốc có kèm theo bã. Hiện tại dùng Để đương hoàn, trị liệu chứng bướu cơ tử cung, có phép tiêu và có phép công hạ, vẫn thu được hiệu quả. Bệnh ứ huyết bế kinh, có một phương thang tên là Hạ ứ huyết thang, trong thang không có Thủy điệt, gồm Đại hoàng, Đào nhân và 䗪虫(chưa có nghĩa của chữ này) là vị Thổ miết trùng, uống thuốc vào buổi sáng bụng đói, sau khi uống xong “hạ như đồn can” (下如豚肝) đi đại tiện phân giống như gan lợn, và khỏi bệnh. Phần trên thuyết minh chứng hạ tiêu ứ huyết do tình trạng nặng nhẹ mà có đến 3 phương thuốc khác nhau, nhiệt nặng hơn ứ thì dùng Đào hạch thừa khí thang, ứ nặng hơn nhiệt thì dùng Để đương thang, ứ và nhiệt đều nhẹ, bụng đầy mà không cứng thì dùng Để đương hoàn, vì thế Để đương hoàn chứng không nói đến các triệu chứng như phát cuồng.
127太阳病,小便利者,以饮水多,必心下悸。 小便少者,必苦里急也。C135
127 Thái dương bệnh, tiểu tiện lợi giả, dĩ ẩm thủy đa, tất tâm hạ quý, tiểu tiện thiểu giả, tất khổ lý cấp dã. C135
Điều này tiếp tục giảng về Thái dương súc thủy (tích ứ nước), đồng thời thảo luận về huyết chứng, có ý nghĩa giám định phân biệt. Trong khi Thái dương phát bệnh, nếu tiểu tiện thuận lợi, uống nước nhiều nhất định sẽ tổn thương vì nước, người uống nước nhiều sẽ bị tổn thương do nước, ăn nhiều sẽ bị tổn thương do thực phẩm. Tổn thương do nước, nước sẽ biến thành thủy tà, uống quá nhiều, tỳ vị vận hóa liên miên sẽ bị tổn thương do nước, nước đình trệ ở tâm hạ (dạ dày), trong vị, tất nhiên tâm hạ hồi hộp, tâm hạ sẽ đập mạnh (động mạch trong dạ dày khiêu động), biểu hiện lúc này là gì? Đó là chứng Phục linh Cam thảo thang, phát nhiệt và khát chính là dùng Ngũ linh tán, nếu không khát thì dùng Phục linh Cam thảo thang, chứng Phục linh Cam thảo thang hồi hộp dưới tim (vị), sôi bụng, tiểu tiện lợi, uống nhiều nước, thủy còn đường đi ra, vì thế chỉ đình trệ ở trung tiêu, khoang dạ dày có nước, thủy khí giao tranh, (tâm hạ khiêu động) mạch trong dạ dày đập mạnh, lo sợ bất an, tâm hạ kinh hãi không yên, tâm hạ là vị quản (khoang dạ dày). Nếu tiểu tiện ít, chứng trạng nặng hơn so với tiểu tiện bất lợi, và nước sẽ đình trệ ở hạ tiêu, khí hóa không thuận lợi thì tiểu tiện không thể xuất ra, vì thế bụng dưới trướng đầy, khó chịu, gọi là “tất khổ lý cấp” (đau và khó chịu trong bụng). Chứng tất khổ lý cấp này có chứng trạng tiểu tiện ít, không giống chứng bụng dưới cứng đầy do ứ huyết, chứng này gọi là súc thủy (tích ứ nước). Vì thế chứng súc thủy có hai lối vào, một là nhiệt theo kinh Thái dương xâm nhập, khí hóa bất lợi, tiểu tiện bất lợi; Còn một lối là do uống nước quá nhiều, bị tổn thương do nước khiến tiểu tiện bất lợi nên đau và khó chịu trong bụng.
Phần trung thiên (giữa) của thiên Thái dương đến đây là hoàn tất, và sẽ có phần tóm tắt ở dưới. Căn cứ theo sách của Thành Vô Kỷ, Thái dương trung thiên gồm 103 điều. Thượng thiên (phần đầu) từ điều C32 đến điều C58 là hết, chủ yếu luận về chứng Cát căn thang, chứng Cát căn thang gia giảm, chứng Ma hoàng thang, chứng Ma hoàng thang gia giảm, vậy nên gọi là ngoại chứng Thái dương bệnh chưa giải, mạch phù nhược, hoặc là chứng Quế chi thang sau khi hạ mà ngoại tà chưa giải, hoặc là chứng Quế chi thang gia giảm, cho đến ý nghĩa sử dụng Quế chi thang thay thế Ma hoàng thang, đều là phương pháp phát hãn thứ hai. Kế tiếp lại nói đến bệnh tự khỏi sau khi phát hãn lại tác nục (chảy máu mũi), nục thay thế cho hãn, sau khi phát hãn còn chảy máu mũi, máu mũi thay thế mồ hôi, bệnh đã được giải trừ, hoặc sau khi nục huyết nhưng cần phát hãn dùng Ma hoàng thang, hoặc nục huyết để giải bệnh dùng Ma hoàng thang, huyết và hãn cùng nguồn, cũng chính là để giải quyết vấn đề biểu tà của Thái dương. Đồng thời thảo luận đến trường hợp cấm hãn của chứng biểu thực kèm theo lý hư, mạch xích trì, mạch xích vi nên không thể phát hãn. Lại thảo luận về doanh vệ bất hoà, khi phát nhiệt tự hãn chính là hội chứng của thang Quế chi. Đó là những nội dung thảo luận từ điều 32 đến điều 58, trọng điểm vẫn là giải quyết vấn đề biểu tà của Thái dương. Từ điều C59 đến điều C71 là thảo luận trị bệnh và nguyên tắc cứu nghịch, điều trị sửa chữa những sai lầm gọi là cứu nghịch, nguyên tắc của cứu nghịch là “Âm dương tự hoà tất bệnh tự dũ” (阴阳自和者病必自愈)Âm dương hoà thì bệnh tự khỏi, phải khiến cho âm dương tự hoà, âm dương bất hoà phải được điều hoà, đó chính là mục đích trị liệu của thày thuốc, là tiền đề (điều kiện đầu tiên) của điều trị bệnh, và đây chính là nguyên tắc. Sau đó thảo luận các loại biến chứng của Phế, Tâm, Can, Tỳ, Thận và các loại biến chứng như biến hàn, biến nhiệt, biến hư, biến thực, gọi là biến chứng của Thái dương bệnh và phương pháp cứu trị của nó. Nội dung này rất hữu ích cho những thiếu sót của biện chứng lục kinh, bao gồm một số thành phần trị liệu tạp bệnh nhất định, trọng điểm chính là nhằm vào biểu chứng sau đó lại thảo luận kèm theo phương pháp biện chứng tạp bệnh, vì thế biện chứng và phần trước của thang Quế chi, thang Ma hoàng, thang Cát căn chính là tương đối (đối lập nhau), chủ yếu chính là trị Thái dương phát hãn, là điều trị bệnh của ngũ tạng, hàm chứa nội dung tạp bệnh, đây cũng chính là trọng điểm của nó. Từ điều C72 đến điều C75 thảo luận về chứng Ngũ linh tán do kinh bệnh của Thái dương không được giải trừ mà ảnh hưởng đến bàng quang khí hoá bất lợi.
Từ điều C79 đến điều C85 thảo luận chứng phiền muộn do bệnh tà của Thái dương xâm phạm gây uất hoả trong lồng ngực mà tạo thành bệnh, cũng chính là chứng Chi tử thị thang, phía sau Thái dương súc thuỷ (tích ứ nước) là lập tức đến chứng Chi tử thị thang, chứng hoả uất, tích ứ nước (thuỷ súc) ở dưới, hoả uất ở trên, có ý nghĩa so sánh thuỷ hoả và trên dưới, cũng thuyết minh biểu tà Thái dương truyền vào trong cũng có khác biệt là truyền vào bụng hay truyền vào ngực. Từ điều 87 đến điều 93 thảo luận về chính khí là bản (là gốc), tà khí là tiêu (là ngọn). Có tà khí thì nên phát hãn, nếu chính khí hư lại không nên phát hãn, thể hiện ý nghĩa toàn diện sự liên hệ giữa trường hợp có thể dùng phép phát hãn và trường hợp cấm dùng phép phát hãn. Từ điều C94 đến điều C96 thảo luận về nguyên tắc trị liệu biểu lý trước sau, biểu lý hoãn cấp (nhanh chậm), với biểu lý thì nguyên tắc là điều trị biểu trước, điều trị lý sau (tiên trị biểu hậu trị lý), với hoãn cấp thì nguyên tắc là cấp nên trị lý, hoãn nên trị biểu. Từ điều C97 đến C99 thảo luận về ba loại hình thức xuất hãn khác nhau, một là vệ cường doanh nhược, một là chiến hãn, một là huyễn mạo hãn. Từ điều C100 đến C110, là biểu chứng của kinh Thái dương đã kết thúc, chuyển sang mô tả bệnh tà truyền vào kinh Thiếu dương là thuộc về Tiểu sài hồ thang và phép gia giảm của nó, đây cũng chính là giảng về chứng Thiếu dương. Tại sao? Vì biểu chứng của kinh Thái dương đã nói xong, trị pháp cũng đã bàn giao, bệnh từ kinh Thái dương đã truyền đến kinh Thiếu dương rồi. Từ điều C112 đến C115 thảo luận chứng bụng dưới cấp kết, bệnh nhân như cuồng, tiểu tiện tự lợi thuộc chứng huyết bị tích ứ, đồng thời lại cùng với ngực trướng tức phiền muộn, nói sàm, tiểu tiện không thuận lợi so sánh với 3 chứng trạng trướng ngực, nói sàm và tiểu tiện thuận lợi. Một là do cấp kết ở bụng dưới, hai là ngực trướng đầy phiền muộn sợ hãi và ba là đầy bụng nói sàm, phân thành thượng trung và hạ, chính là ngực, bụng và bụng dưới, chính là khó chịu, như điên cuồng hay mê sảng, ba hội chứng này đều được thảo luận cùng nhau, từ tâm trí, triệu chứng cho đến vị trí của bệnh và chúng chứng thực lẫn nhau. Giữa khí bệnh và huyết bệnh cũng có mối quan hệ nội tại. Mọi người nhận thấy ngay là, Đào hạch thừa khí thang là ở bụng dưới, Sài hồ gia Long cốt Mẫu lệ là ở ngực, ngực trướng đầy phiền muộn, can thừa tỳ, bụng trướng đầy, nói sàm, dù bệnh ở trên, ở giữa và ở dưới, đồng thời đều có chứng trạng tinh thần, và tiến hành so sánh 3 điều này. Đồng thời Sài hồ và Đào hạch thừa khí thang cũng có quan hệ như vậy ở khí phận và huyết phận. Từ điều C116 đến C127 thảo luận về hoả nghịch và biến chứng, nội dung cụ thể của 12 điều, đều là mở rộng ý nghĩa thích hợp trị liệu cho những bệnh nhân ôn nhiệt và âm hư đã sử dụng nhầm thuốc ôn táo, vì thế chúng ta nên khái quát nó để suy ra những thứ khác (từ một việc suy ra nhiều việc khác)(cử nhất phản tam) . Từ điều C128 đến điều C131 thảo luận về chứng tiểu nghịch và nội phiền sau khi dùng nhầm phép thổ và chứng vị hư lãnh gây ẩu thổ, trước là điều trị các chứng trạng tệ hại sau khi dùng nhầm phép thổ hạ và các chứng chống chỉ định của thang Sài hồ, các điều này chủ yếu nói về chứng thổ. Từ điều C132 đến C135 thảo luận về Thái dương phủ chứng và trị pháp của nhiệt và huyết ứ, chính là Để đương thang chứng và Để đương hoàn chứng, kèm theo chứng tâm hạ quý sau khi bị tổn thương do nước và chứng thiểu phúc lý cấp do tích ứ nước. Đây là nội dung của thiên Thái dương từ góc nhìn ngang, nó có sự liên quan của nó, đây là một sự khái quát, chúng ta hãy nói về nó theo thứ tự này, trọng điểm được giới thiệu dưới đây.
[Tóm tắt] Chương thứ ba (hạ thiên) của Thái dương bệnh có nguồn gốc từ chương đầu tiên (thượng thiên) và chương thứ hai (trung thiên), và có liên quan đến chương thứ hai (trung thiên). Chương thứ hai nói về hội chứng Thái dương phủ, hội chứng Thái dương bệnh truyền vào kinh Thiếu dương, chương thứ ba bệnh tà của Thái dương sẽ truyền đi đâu? Vấn đề biểu chứng đã được giải quyết, vấn đề của phủ chứng cũng đã giải quyết, như vậy chúng còn đi đâu? Tà khí còn đến kinh nào, phát triển ở đâu? Nội dung thứ nhất của chương ba (hạ thiên) đề xuất đến vấn đề kết hung. Chi tử thị thang chứng chính là bệnh tà từ biểu xâm nhập vào lồng ngực (hãm hung), từ biểu nhập lý đầu tiên là lồng ngực, nhiệt tà uất kết, nhưng tà khí không có thực chất như một loại đàm thuỷ, chỉ là hoả nhiệt và vì thế gọi là hư phiền. Trị liệu chứng hư phiền dùng Chi tử thị thang, ở đây giới thiệu chứng kết hung, cũng chính là sau khi ngộ hạ Thái dương biểu chứng, hoặc không phải ngộ hạ, mà tà nhiệt đã uất vào lồng ngực, từ lồng ngực phát triển xuống tâm hạ (dạ dày), nhưng nhiệt và thuỷ dịch hỗ tương ngưng kết, trở thành một loại vật chất thực (thực tính). Vật chất thực tính là gì? Là nước, là nhiệt kết với nước, bệnh này cổ nhân gọi là chứng kết hung. Chứng kết hung này có các loại hình khác nhau, có chứng ở trên, có chứng ở giữa và có chứng nối với phía dưới, lại có chứng đại kết hung, tiểu kết hung, chứng hàn thực kết hung.
Nội dung thứ hai chủ yếu giới thiệu các chứng tương tự như chứng kết hung, là chứng giống như kết hung nhưng không phải chứng kết hung, như chứng tạng kết, chứng Thái dương Thiếu dương cùng bị bệnh, chứng nhiệt nhập huyết thất v.v…Chứng trạng của các chứng này có những đặc điểm giống như chứng kết hung, vì thế Trương Trọng Cảnh xếp nội dung này liền sau chứng kết hung để so sánh, phân biệt, phát huy và nâng cao hiệu suất biện chứng luận trị.
Nội dung thứ ba kế tiếp theo chứng kết hung, do ngộ hạ đã gây tổn thương khí trung tiêu của tỳ vị, sau khi khí trung tiêu bị tổn thương, âm dương thăng giáng sẽ bị rối loạn, xuất hiện chứng tâm hạ bĩ.
Nội dung thứ tư chính là bệnh tà của Thái dương truyền vào Dương minh, nhiệt tà bao phủ, tràn ngập biểu lý, còn chưa luyện kết thành Bạch hổ thang chứng, Bạch hổ gia nhân sâm thang chứng. Chương hai nối Thiếu dương, chương ba nối Dương minh, là phản ảnh có sự liên hệ giữa Thái dương biểu chứng và Thiếu dương, Dương minh. Chương ba với hơn 50 điều, chủ yếu thảo luận vấn đề của 4 phương diện, hy vọng mọi người nắm vững các điểm chính yếu, sẽ trình bày rõ ở phần dưới. Phân thành 4 trọng điểm. Một là giảng về chứng kết hung, hai là đề cập đến các chứng tương tự, ba là thảo luận chứng tâm hạ bĩ, bốn là giảng về Bạch hổ thang chứng của bệnh tà truyền vào kinh dương minh, Tất nhiên còn một số điều văn khác, nói một cách khái quát là không thể nói một cách chung chung về mọi điều.
128 问曰:病有结胸,有藏结,其状何如?答 曰:按之痛,寸脉浮,关脉沉,名曰结胸也。C136
129 何谓藏结?答曰:如结胸状,饮食如故, 时时下利,寸脉浮,关脉小细沉紧,名曰藏结。舌 上白胎滑者,难治。C136
128 Vấn viết: Bệnh hữu kết hung, hữu tạng kết, kỳ trạng hà như? Đáp viết: Án chi thống, thốn mạch phù, quan mạch trầm, danh viết kết hung dã. C136
129 Hà vị tạng kết? Đáp viết: Như kết hung trạng, ẩm thực như cố, thời thời hạ lợi, thốn mạch phù, quan mạch tiểu tế trầm khẩn, danh viết tàng kết, thiệt thượng bạch đài hoạt giả, nan trị. C136
Văn pháp của Trọng Cảnh trong câu này dùng hình thức vấn đáp, dùng hình thức so sánh giữa kết hung và tạng kết để làm sáng tỏ đặc điểm của kết hung, tạng kết và những điểm phân biệt chính yếu của hai loại. Kết ở đây, tạng kết cũng được, kết hung cũng được, chính là ngưng kết. Nói về chứng kết hung, hung (ngực) là dương, bệnh tà Thái dương truyền vào ngực, từ ngực đi xuống tâm hạ (dưới tim), vì bệnh tà đi từ ngực. Ngực giống như cửa ngõ, vì thế bệnh tà dương nhiệt gặp thuỷ ngưng kết lại, sẽ xuất hiện đau đớn, chính là thực chứng. Ấn vào thì có cảm giác đau, tại sao lại đau? Vì nó là thực chứng. Tạng kết, là chỉ về ngũ tạng, tạng thuộc âm, không giống như ngực, ngực ở trên, tạng ở bên trong, tạng ở lý nên tạng thuộc âm. Nếu hàn tà, hàn khí và khí của nội tạng hỗ tương ngưng kết, hàn tà không phải là nhiệt tà, kết hung chính là nhiệt tà, tạng kết chính là hàn tà. Kết hung là nhiệt kết với thuỷ, tạng kết là hàn tà ngưng kết với khí quan nội tạng (脏器), vì thế mà có cảm giác đau. “Hà vị tạng kết? Đáp viết: Như kết hung trạng” (何谓脏结?答曰:如结胸状) , cũng có cảm giác đau, như chứng trạng của chứng kết hung, trên thực tế nó không phải là chứng kết hung. Hai cơ chế bệnh khác nhau, kết hung là do tà khí từ ngực xuống tâm hạ, đều không tiến đến tạng phủ. Mà chứng tạng kết là phần trong của tạng khí ngưng kết với hàn tà, đương nhiên chính là do tạng khí dương hư mà bị hàn tà ngưng kết. Một là chứng thực nhiệt, một là chứng hư hàn. Một là ở tạng, một là dương của ngực (hung chi dương), đây là điều khác biệt của hai chứng tạng kết và kết hung). Nhưng cả hai chứng trạng đều bị đau, tạng kết cũng có những chứng trạng giống như chứng kết hung. Xét theo mạch, thốn bộ mạch phù, quan bộ mạch trầm gọi là chứng kết hung. Tà khí đi qua ngực nhập lý, mạch ở bộ thốn phù, phù ở đây là nói về đường vào; Mạch bộ quan trầm, trầm chính là thuỷ.Người xưa khi nói về mạch chính là dùng mạch thay cho bệnh lý, thay cho cơ chế bệnh. Như dương phù mà âm nhược, dương phù là nhiệt tự phát, mạch thay cho cơ chế bệnh. Trong 《Thương hàn luận》, 《Kim quỹ yếu lược》 khi luận về mạch đều dùng cách thức như vậy. Tóm lại, mạch trầm là mạch của chứng kết hung, phần dưới sẽ trình bày rất cụ thể về điều này, vì sao lại thêm mạch phù ở bộ thốn? Bộ thốn chủ hung (ngực), bệnh tà từ ngực phát triển hướng vào trong, nhiệt kết với thuỷ nên gia thêm mạch phù ở bộ thốn. Chủ yếu chính là mạch trầm ở bộ quan, mạch trầm mà khẩn, đây chính là thực chứng nhiệt thuỷ kết (ngưng tụ). Ở điều C143 trong phần dưới thảo luận về ba chứng kết hung (kết hung tam chứng), mạch trầm nhi khẩn, tâm hạ thống, ấn vào cứng như đá, sẽ được trình bày một cách cụ thể. Mở đầu nói về tà khí từ ngực đến, vì thế mà thấy mạch phù. Sao lại gọi là tạng kết? Mạch của chứng tạng kết là mạch gì? Mạch của tạng kết, vì bệnh tà ở kinh Thái dương sau khi ngộ hạ, tà khí từ biểu nhập lý, vì thế cũng xuất hiện mạch phù ở bộ thốn, mạch phù ở bộ thốn chính là nói về đường đến của bệnh tà. Bản chất của nó là gì? Mạch bộ quan tiểu tế trầm khẩn, khẩn chủ hàn kết (ngưng tụ), tiểu tế là biểu hiện tình trạng không đầy đủ của tạng khí, chính khí hư suy. Mạch bộ quan của chứng kết hung là trầm khẩn, là thực chứng nhiệt và thuỷ kết (ngưng tụ của nhiệt và nước), chứng tạng kết có mạch tế tiểu mà trầm khẩn, là biểu hiện của chính khí không đầy đủ, tạng khí (脏器cơ quan nội tạng) hư hàn. Bộ thốn mạch phù là nói về đường đến của bệnh, đều do sau khi ngộ hạ, hàn tà nội kết, một là nhiệt, một là hàn, chính là sự khác biệt của hai mạch chứng. Còn có khác biệt gì không? Vẫn còn những điểm khác biệt như: Kết hung là thực chứng, kết cứng trong ngực, bệnh nhân thường ăn uống kém; Mà chứng tạng kết thuộc hư hàn, vì thế bệnh nhân ăn uống bình thường, không bị ảnh hưởng quá nhiều đến ẩm thực. Chứng kết hung ẩm thực không tốt, vì là nhiệt chứng, ngực và hoành cách nóng, nóng ở trên nên ảnh hưởng đến ẩm thực. Chứng kết hung có phần nào bí kết (táo bón nhẹ), mà chứng tạng kết thuộc hư hàn, vì thế phân luôn lỏng nát. Phản ảnh một là chứng ngưng kết hư hàn, một là chứng ngưng kết thực nhiệt, có sự khác biệt hàn nhiệt hư thực. Trên phương diện rêu lưỡi, nếu rêu lưỡi trắng trơn là bệnh khó điều trị. Chứng kết hung đầu lưỡi thường có sắc vàng, nhiệt kết với thuỷ thường có sắc vàng và nhiệt; Chứng tạng kết rêu lưỡi có màu trắng, rất nhờn, là biểu hiện của dương khí hư và âm hàn ngưng kết bất hoá. Hàn tà ngưng kết thì rêu lưỡi trắng, đây là lần đầu tiên Trương Trọng Cảnh luận về rêu lưỡi. Ngược lại, chứng kết hung rêu lưỡi có màu trắng và trơn không? Không phải, mà chính là rêu lưỡi có màu vàng và khô. Đây là bênh khó trị, vì sao khó trị? Khó trị không phải là bất trị, bệnh này còn có thể điều trị, nhưng chính là khó khăn, tốn nhiều công sức nên gọi là nan trị (gian nan trong điều trị). Vì dương bên trong không mạnh (thịnh vượng) lại thêm bệnh tà đã vào quá sâu, sâu đến mức độ nào? Gọi là tạng kết, là hàn tà uất kết ở ngũ tạng. Như vậy, một là dương khí không thịnh vượng, một là hàn tà ngưng kết lại sâu, tà đã kết nếu không công phạt thì bệnh tà không lui, mà ngũ tạng lại hư suy nên không thể công phạt vì thế gọi là nan trị (bệnh khó điều trị).
Điều này sử dụng bút pháp chủ khách, kỳ thực chính là thảo luận chứng kết hung. Phải làm sao để xem nó? Vì trong phần dưới có phương pháp trị liệu chứng kết hung, gồm các trị pháp như Đại hãm hung thang, đại hãm hung hoàn, vì thế trọng điểm thảo luận trong điều văn này là chứng kết hung, không đề cập đến chứng tạng kết và cũng không có phương pháp điều trị. Vì thế trọng điểm của điều văn này là thảo luận về chứng kết hung
Tại sao thảo luận về chứng kết hung lại nói đến tạng kết? Đây là một cách làm rất tốt, viết theo cách này nêu rõ được vấn đề hơn là chỉ đơn thuần nói về chứng kết hung, quan điểm biện chứng rõ ràng hơn, khi có sự so sánh sẽ dễ nhận ra các đặc điểm hàn nhiệt, hư, thực. Đây được gọi là phương pháp xác định đối tượng giả, sử dụng đối tượng này để làm nổi bật ý tưởng của chủ đề là một phương pháp viết bài thời xưa, viết dưới dạng vấn đáp. Hiện nay khi chúng ta học Thương hàn luận, được viết bằng ba phương pháp: Một là loại viết từng câu (Điều văn thức); Hai là tứ ngôn liên câu, một câu 4 từ, thành ngữ 4 chữ; và lại thêm một phép viết bằng hình thức vấn đáp.
130 藏结无阳证,不往来寒热,一云寒而不热, 其人反静,舌上胎滑者,不可攻也。C137
130 Tàng kết vô dương chứng, bất vãng lai hàn nhiệt, nhất vân hàn nhi bất nhiệt, kỳ nhân phản tĩnh, thiệt thượng thai hoạt giả, bất khả công dã. C137
Điều này tiếp nối điều trên, nói thêm về chứng trạng và trị liệu cấm kỵ của chứng tạng kết. Chứng tạng kết và chứng kết hung không giống nhau. Chứng tạng kết không có dương chứng, tại sao lại gọi là vô dương? “脉微弱者, 此无阳也,不可发汗,宜桂枝二越婢汤。” (Mạch vi nhược giả, thử vô dương dã, bất khả phát hãn, nghi quế chi thang nhị việt tỳ thang), mạch vi nhược chính là vô dương, không thể phát hãn, nên dùng Quế chi nhị việt tỳ thang. “Thử vô dương” là không phải Ma hoàng thang biểu thực chứng của kinh Thái dương. Địa phương nào thì tinh thần nấy. Chứng tạng kết cần loại bỏ các vấn đề: Một là vô dương. Tại sao vô dương? Không phải là dương hư, dương hư không gọi là vô dương, vô dương là chỉ về việc không có Thái dương biểu chứng, chính là nói bệnh này không phát nhiệt cũng không sợ lạnh, và không liên quan đến Thái dương, “bất vãng lai hàn nhiệt” (不往来寒热), lại gia thêm chữ “bất”, bất vãng lai hàn nhiệt cũng không có quan hệ với Thiếu dương, không phải bệnh của lục phủ. “Kỳ nhân phản tĩnh” (其人反静), tà khí ở bên trong, thông thường bệnh nhân rất bực bội, vì bên trong ngưng kết nên bệnh nhân cũng ngưng kết, “phản tĩnh”, người này thần khí rất an tĩnh, không có ý muốn hoạt động, không bực bội, bệnh này cũng không có Dương minh chứng. Không có vấn đề ở kinh dương, đã loại trừ ba kinh dương, giống như Can khương phụ tử thang, không ẩu thổ , không khát, không có biểu chứng, trừ ba kinh dương ra, còn lại bệnh gì? Dương chứng của lục phủ đã loại trừ, bệnh này chính là tạng kết, không có quan hệ với phủ, chính là bệnh phát ở âm, mà không phát ở dương, dương khí của tạng hư tổn mà hàn khí ngưng kết. Căn cứ theo rêu lưỡi trơn, như đã viết ở phần trên, rêu lưỡi trắng trơn, chính là biểu hiện của dương hư mà hàn tà ngưng kết bất hoá, vì thế tân dịch bị ngưng kết, rêu lưỡi trắng trơn. “Bất khả công dã” (不可攻也) Chính là nan trị (khó chữa), ở phần trên viết, rêu lưỡi trắng trơn khó trị (đài bạch hoạt nan trị), hiện tại nói. “Bất khả công dã” viết tiếp đoạn văn trên. Tuy là chứng tạng kết, bụng đau đớn tệ hại, chính là khí của ngũ tạng hư hàn, âm hàn ngưng trệ, lại không thể dùng phép công hạ, thật là rất khó. Hàn tà ngưng kết, không hạ không trừ dược, mà dương khí không vững vàng, tạng khí hư suy, chính hư tà thực, vì thế không thể công hạ. Không thể dùng thuốc công hạ, phải làm gì?Trương Trọng Cảnh cũng không đề xuất phương thang nào. Người viết tra xét một số tư liệu, có một số nhà chú giải đề xuất một phương dược, chính là thang Lý trung gia Chỉ thực. Có chứng trạng thường xuyên tiết tả, chán ăn, tạng khí ngưng kết, vì thế dùng thang Lý trung trước để bồi bổ dương khí trung tiêu của Thái âm, củng cố dương khí hậu thiên, gia Chỉ thực tán kết, đó là ý kiến của y gia đời sau, nêu lên để các vị cùng tham khảo. Tạng kết là một bệnh rất nghiêm trọng, có khi gây co giật, nguyên nhân bệnh “Hiếp hạ tố hữu bĩ, liên đới tề bàng”
(胁下素有痞,连带脐旁) có khối cứng ở dưới cạnh sườn gồ lên, đến cạnh rốn, cơn đau khiến dương vật của nam giới co lại, bệnh khá nghiêm trọng vì hàn tà ngưng kết. Hai điều trên giải thích các chứng trạng khác nhau, tình trạng mạch và trị liệu của chứng kết hung và chứng tạng kết. Chứng tạng kết không thể công hạ, chứng kết hung thì phải công hạ (phi công hạ bất khả).
131 病发于阳而反下之,热入,因作结胸;病 发于阴而反下之,一作汗出,因作痞。所以成结胸 者,以下之太早故也。C138
131 Bệnh phát vu dương nhi phản hạ chi, nhiệt nhập, nhân tác kết hung; Bệnh phát vu âm nhi phản hạ chi, nhất tác hãn xuất, nhân tác bĩ. Sở dĩ thành kết hung giả, dĩ hạ chi thái tảo cố dã. C138
Đoạn văn này giới thiệu nguyên nhân tạo thành chứng kết hung và chứng kết khối dưới tim (tâm hạ bĩ), cũng có ý so sánh giữ chứng kết hung và tâm hạ bĩ. “所以成结胸 者,以下之太早故也.” (Sở dĩ thành kết hung giả, dĩ hạ chi thái tảo cố dã.) tạo thành chứng kết hung là do dùng phép công hạ quá sớm. Chính là một câu trong ngoặc, do Trương Trọng Cảnh tự ghi chú. “Bệnh phát vu dương”, phát ở kinh dương, “Dương”là gì?, “Phát nhiệt ố hàn, phát vu dương dã” (发热恶寒,发于阳也), tỉ như Thái dương bệnh tại biểu, chính là bệnh phát ở dương. “Nhi phản hạ chi” (而反下之), vì sao lại thêm chữ phản? Không nên dùng hạ pháp, “Bệnh phát vu dương”, bệnh tại biểu, lại dùng phép tả hạ, đây chính là sai lầm (nên gọi là phản), tạo thành vấn đề gì?, “nhiệt nhập” (热入), bệnh tà trong kinh dương đã hoá nhiệt và nhập vào trong (nhập lý). Làm sao bệnh tà lại nhập vào trong được?, “Nhi phản hạ chi” (而反下之), là do tả hạ, dẫn giặc vào nhà, dẫn tà nhập lý, “Nhân tác kết hung” (因作结胸)là nguyên nhân của chứng kết hung). Tạo thành nguyên nhân của chứng kết hung, luôn luôn là do ngộ hạ (hạ nhầm), vì sau khi ngộ hạ, tà nhiệt tại biểu nhân ngộ hạ mà nhập lý, nhiệt và thuỷ hỗ tương ngưng kết, cấu thành chứng kết hung. Phần dưới sẽ giảng thêm về chứng tâm hạ bĩ, không chỉ có chứng kết hung. Chứng kết hung là thực chứng, chứng tâm hạ bĩ là hư chứng. “Bệnh phát vu âm, nhi phản hạ chi, nhân tác bĩ”, “Bệnh phát vu âm” chính là bệnh phát ở lý (ở bên trong). “âm” tiêu biểu cho lý, không phải tại dương, tại biểu, mà là tại lý. Tại lý có thể dùng phép hạ hay không? Cần phải phân tích cụ thể, bệnh tại lý có thể hạ và có trường hợp không thể sử dụng phép hạ. Kinh dương minh táo nhiệt khi thành thực chứng thì có thể hạ. Nếu không táo nhiệt thành thực chứng, thậm chí tạng tỳ hư tổn, hư hàn thì không thể dùng phép tả hạ. Nếu dùng phép tả hạ là phạm sai lầm gây tổn thương khí của tỳ vị, “Nhân tác bĩ” (因作痞), “nhân” (因) nguyên nhân là bởi vì hạ nhầm tỳ vị đã bị hư tổn, khiến cho tỳ vị thăng giáng không điều hoà, sẽ xuất hiện bệnh tâm hạ bĩ tắc. Bĩ là khí tắc, không có gì khác chính là khí bị tắc nghẽn. Cũng có thể nói “bĩ giả kết dã” (痞者结也), khí đã ngưng kết, “Bĩ giả tắc dã, kết dã” (痞者塞也,结也)bĩ là tắc là kết, khí bị chặn lại rồi. Bĩ chính là khí bĩ, không giống chứng kết hung. Chứng kết hung là do nhiệt kết với thuỷ; Chứng bĩ là do ngộ hạ, tỳ vị hư nhược, thăng giáng không điều hoà, khí ở tâm hạ bế tắc. “Bệnh phát vu âm, nhi phản hạ chi”, có thể biện minh và đưa ra một số chứng cứ? Đoạn văn nào “bệnh phát vu âm, nhi phản hạ chi” (病 发于阴,而反下之)? Mọi người đều đã trải qua, cũng có những nhà chú giải đã đề xuất. viết “Thái âm chi vi bệnh, phúc mãn nhi thổ” (太阴之为病,肚子胀满 而吐), Thái âm chi vi bệnh, bụng trướng đầy ẩu thổ, “thực bất hạ”, ăn uống không xuống, “tự lợi ích thậm” (đi tả ngày càng tệ), “thời phúc tự thống”, có lúc còn đau bụng, chính là chứng trạng của thái âm tỳ vị hư hàn, chính là bệnh phát ở lý (bên trong), là bệnh phát ở âm. Nếu như “nhi phản hạ chi, tất hung hạ kết ngạnh”, cục cứng trong ngực (hung hạ kết ngạnh) chính là tâm hạ bĩ, có khối cứng dưới tim (tâm hạ bĩ ngạnh). Đây chính là điểm thứ nhất. Thứ hai là Thiếu dương Tiểu sài hồ thang chứng. Tiểu sài hồ thang chứng tuy là bệnh ở kinh dương, nhưng đã vào bán biểu bán lý. Thiếu dương bệnh sau khi ngộ hạ sẽ xuất hiện Bán hạ tả tâm thang chứng, tâm hạ bĩ là Bán hạ tả tâm thang chứng, vì thế bệnh này phát từ dương, “nhi phản hạ chi, nhiệt nhập”, có hai chữ “nhiệt nhập”, là biểu nhiệt đã nhập vào. Ban đầu bệnh này thuộc lý chứng, thì tại sao “nhiệt nhập”, cho nên không có hai từ “nhiệt nhập”, mà là khí âm dương của tỳ vị mất điều hoà, vì thế “nhân tác bĩ dã” (nguyên nhân gây bĩ). Không phải vấn đề ngoại tà, chính là khí của tỳ vị bị tổn thương, vì thế không có hai từ “nhiệt nhập”. “kỳ sở dĩ thành kết hung giả, dĩ hạ chi thái tảo cố dã”, vì sao cấu thành bệnh kết hung, là do dùng phép công hạ quá sớm. Bệnh kết hung không được dùng phép công hạ, “Nhất tiền Cam toại nhất thăng Tiêu, lục lượng Đại hoàng lập pha liệu”, Cam toại, Mang tiêu, Đại hoàng đều là thuốc tả hạ, không hạ không được, không hạ không thể tốt cho bệnh. Vấn đề ở đây là “dĩ hạ chi thái tảo cố dã” (vấn đề là dùng phép công hạ quá sớm) chứng đại kết hung chính là nên dùng phép tả hạ, nhưng nguyên nhân chính là hạ sớm, sẽ tạo thành chứng kết hung, nguyên nhân vì vẫn còn “bệnh tại dương”, chưa hoàn toàn tách rời khỏi ngực (hung trung), khỏi tâm hạ, nếu dùng phép hạ sẽ là quá sớm, thì tà khí sẽ không nhập vào được sao? Chính là “nhiệt nhập”, thành “nhân tác kết hung” rồi. (đã tạo thành nguyên nhân kết hung). Như vậy chính là cấu thành “kế phát tính đích kết hung chứng”( 继发性的结胸证)chứng kết hung kế phát. Ba điều phía trước gồm: Một là vấn đáp, hai là chứng tạng kết, ba là chứng kết hung và tâm hạ bĩ, là lời giới thiệu chung cho bài tiếp theo.