Điều 106 đến 109 (C112-C115)
106 太阳病不解,热结膀胱,其人如狂,血自下,下者愈。其外不解者,尚未可攻,当先解外。外解已,但少腹急结者,乃可攻之,宜桃核承气汤。C112
Điều 106
Thái dương bệnh bất giải, nhiệt kết bàng quang, kỳ nhân như cuồng, huyết tự hạ, hạ giả dũ. Kỳ ngoại bất giải giả, thượng vị khả công, đương tiên giải ngoại. Ngoại giải dĩ, đãn thiểu phúc cấp kết giả, nãi khả công chi, nghi Đào nhân thừa khí thang.
C112
Phương thang Đào nhân thừa khí
Thái dương bất giải nhiệt kết bàng
Ứ kết khinh thiển nhiệt khí thịnh
Thiểu phúc cấp kết nhân như cuồng
Đào hạch thừa khí ngoại giải công
Ngũ thập Đào nhân tứ lượng đại
Quế Tiêu chích Cam nhị lượng đồng
Đào nhân 50 hạt, bỏ đầu nhọn và vỏ
Quế chi 2 lạng, bỏ vỏ Đại hoàng 2 lạng Mang tiêu 2 lạng Cam thảo 2 lạng, chích
Năm vị trên, dùng 7 thăng nước, sắc còn 2,5 thăng, bỏ bã, cho Mang tiêu vào, đun sôi nhẹ. Tắt lửa, uống trước khi ăn 5 hợp, ngày uống 3 lần, hạ lợi nhẹ.
Phần trên liên quan đến 2 vấn đề ngộ hạ, điều này giảng về phủ chứng của kinh Thái dương bị tích tụ huyết. Chứng Thái dương tích huyết có ba loại, một là hội chứng Đào hạch thừa khí thang, hai là hội chứng Để đương thang, và ba là hội chứng Để đương hoàn. Đây là loại đầu tiên; Hội chứng Đào hạch thừa khí thang.
“Thái dương bệnh bất giải” (太阳病不解) bệnh ở kinh Thái dương không được giải, đây là kinh chứng không giải của Thái dương; “Nhiệt kết bàng quang” (热结膀胱), đã là lý chứng của nó, là biểu tà đã nhập lý, nhiệt và huyết đã kết tụ. Kết tụ như thế, chính là bắt đầu kết tụ, vì thế gọi là sơ kết. “Thái dương bệnh bất giải, nhiệt kết bàng quang”, nhiệt đã kết ở trong (lý), hiện tại chúng ta nói đến bàng quang chính là đề cập đến thủ thái dương tiểu tràng. Nhiệt và ứ huyết sơ kết, nói theo bệnh lý thì thế lực của nó không lớn mạnh. Ngoài ra, nhiệt và huyết kết, chính là nhiệt khứ trừ kết huyết, lực lượng của nhiệt so ra mạnh hơn một chút, trình độ ứ huyết yếu hơn một chút, chính là nhiệt nặng mà ứ nhẹ.
Các triệu chứng như thế nào? “Kỳ nhân như cuồng” (其人如狂), ngữ ngôn động tĩnh hoặc đúng hoặc sai, ngôn ngữ hành vi có lúc chính xác, có lúc rất ly kỳ, có chút cuồng ngạo không dừng lại được, nhưng không phải phát cuồng, mà là như cuồng. Vẫn còn một chút lý trí, không đánh người, phá huỷ đồ vật, không tránh thân sơ. Vì sao nhiệt với huyết ứ, sẽ xuất hiện chứng trạng như cuồng?
Vì thứ nhất, nhiệt với huyết kết chính là thực chứng, không phải là hư chứng; Thứ hai, vì có nhiệt, thực chứng mà còn có nhiệt, tuy kết ở hạ tiêu, nhưng nhiệt và huyết kết sẽ ảnh hưởng đến tâm, trọc tà trọc nhiệt gây nhiễu loạn tâm, sẽ xuất hiện hội chứng như cuồng.
Vì huyết mạch đều thuộc tạng tâm, nhiệt và huyết kết lại sẽ ảnh hưởng đến tạng tâm, tâm thần bị nhiễu loạn, sẽ thành tự cao tự đại, nóng nảy cuồng loạn, nên nói người này như là cuồng. Dưới góc độ sinh bệnh học, vì nhiệt và huyết sơ kết (mới kết), thế lực vẫn chưa thành thục, vì thế “huyết tự hạ, hạ giả dũ” (血自下,下者愈). Huyết tự xuống, chính khí kháng tà, nhiệt theo huyết giảm, bệnh sẽ khỏi. Huyết hạ ở đâu? Vì bệnh ở hạ tiêu, nên thường theo đại tiện hạ huyết, phụ nữ có thể theo kinh nguyệt, nam giới thường tả hạ theo đại tiện, “hạ giả dũ”(hạ thì khỏi bệnh).
Nếu như không hạ, nhiệt và huyết kết không có cơ hội tự giải, sẽ cần dùng thuốc công hạ. Khi sử dụng thuốc công hạ. Trương Trọng Cảnh Tiên sinh nhắc nhở chúng ta phải chú ý một vấn đề, “Kỳ ngoại bất giải giả, thượng vị khả công, đương tiên giải ngoại” (其外不解者,尚未可攻,当先解外)Bên ngoài không giải, chưa nên công hạ, trước tiên phải giải trừ bệnh bên ngoài , bệnh này theo kinh chứng của Thái dương bệnh mà vào, khi tả hạ cần chú ý, bệnh tà ở kinh biểu đã được giải trừ hoàn toàn chưa, nếu như còn một chút sợ lạnh, thì còn một chút biểu chứng chưa được giải trừ, như vậy là“thượng vị khả công”(尚未可攻) chưa thể công hạ, “đương tiên giải ngoại” (当先解外)nên giải bệnh tà bên ngoài trước, trước tiên nên dùng thuốc giải trừ bệnh tà ở ngoài, phát hãn để giải biểu tà ở kinh Thái dương. “Ngoại giải dĩ” (外解已)bên ngoài đã giải, bệnh tà của Thái dương đã giải hoàn toàn, “đãn thiểu phúc cấp kết giả ” (但少腹急结者) chữ “đãn”(nhưng) có tính giới hạn, có ý là chỉ, là vỏn vẹn, bệnh ở nơi khác đều không có, là thiểu phúc (bụng dưới) thiểu phúc là tiểu phúc (bụng nhỏ). Cơ thể có phần trên gọi là đại phúc (bụng lớn), phía dưới đại phúc là tiểu phúc, cũng có y gia cho rằng hai bên của bụng dưới là thiểu phúc, cũng có thuyết cho là như vậy. Trên thực tế “thiểu phúc” bao quát cả bụng dưới. “Cấp kết” (急结) phản ảnh hai vấn đề, kết là phản ảnh bệnh lý, cấp là phản ảnh chứng trạng, vì nhiệt kết với huyết (huyết nhiệt), khí huyết ngưng tụ, vì thế không thông sướng, không thông nên đau, đau không chịu nổi, đau đến cực độ, vì thế gọi là cấp (cấp là cực).
Cấp là không thể chịu được, bụng dưới đặc biệt khó chịu, hoặc là trướng muộn, hoặc là bĩ ngạnh (cứng bế tắc), hoặc là đau, dù như thế nào cũng rất khó chịu, thường gọi chung là đau, thang Đào hạch thừa khí thường bắt đầu với chứng trạng đau đớn là chủ yếu. Như vậy “nãi khả công chi” (乃可攻之)có thể công hạ, biểu chứng đã được giải, không có vấn đề gì khác, chính là thiểu phúc cấp kết, bệnh nhân như cuồng, “nãi khả công chi” có thể dùng thuốc công hạ. “Nghi Đào nhân thừa khí thang” là dùng thang Đào nhân thừa khí để công hạ.
Điều này giảng về bệnh tà ở kinh Thái dương không được giải mà theo kinh nhập lý, nhiệt và huyết kết lại. So sánh hội chứng Đào hạch thừa khí và hội chứng Ngũ linh tán, cả hai đều theo kinh nhập lý, nhưng hội chứng Ngũ linh tán ở khí phận, công năng khí hoá không tốt, vì thế bệnh nhân tiêu khát, tiểu tiện không thuận lợi, phần trước là Ngũ linh tán; Phần này là nhiệt kết với huyết, tiểu tiện tự lợi, không liên quan đến khí phận, nhưng là bụng cấp kết, bụng đau không chịu nổi, dùng thang Đào hạch thừa khí. Vì vậy, theo quan điểm này, “Thương hàn luận” nói về tạng phủ, kinh lạc, đây là những sự việc khách quan, không phải do ai đó áp đặt.
Thang Đào nhân thừa khí là một thang thuốc tốt, là thang Điều vị thừa khí, vì ba vị Đại hoàng, Mang tiêu và Cam thảo chính là thang Điều vị thừa khí, gia thêm hai vị Đào nhân và Quế chi. Khi uống thuốc này, nên uống lúc bụng trống, nên ghi nhớ điều này, đây chính là vấn đề then chốt. “Tiên thực ôn phục ngũ hợp, nhật tam phục, đương vi lợi” (先食温服五合,日三服,当微利) Tại sao gọi là tiên thực (trước ăn) chính là uống lúc bụng trống, không ăn trước khi uống. Đời sau dùng thuốc hoạt huyết để trục ứ đều căn cứ theo phép này, cũng có khi uống thuốc vào sáng sớm hôm sau, vào khoảng 5 giờ, lúc chưa uống nước và ăn sáng, như thế sẽ làm cho tác dụng hoạt huyết hoá ứ có lực mạnh mẽ hơn. Uống thang Đào hạch thừa khí sau khi ăn no sẽ làm cho tác dụng của thang dược không tốt. Hội chứng thang Đào hạch thừa khí là ngoại chứng của thương hàn đã giải, xuất hiện bụng dưới cấp kết (đau không chịu nổi), phân có khi có màu đen, giống như sơn đen, bệnh nhân như phát cuồng, đây gọi là nhiệt kết với huyết. Nhiệt từ đâu đến? Chính là nhiệt kết không giải từ Thái dương bệnh kết ở dưới, kết ở đâu? Kết ở hạ tiêu, nhiệt và huyết kết ở hạ tiêu, có thể là ở tiểu tràng. Có hai chứng trạng chủ yếu, một là bệnh nhân như phát cuồng, hai là đau bụng dưới. Vì nhiệt và huyết mới kết nên không kiên cố, vì thế nên “huyết tự hạ, hạ giả dũ” (血自下,下者愈)huyết tự hạ, hạ là khỏi bệnh, có cơ hội như vậy. Nếu như không thể tự hạ, sẽ dùng thang Đào hạch thừa khí. Thang Đào hạch thừa khí là phương thang Điều vị thừa khí gồm Đại hoàng, Cam thảo, Mang tiêu, gia thêm hai vị Đào nhân và Quế chi.
Ý nghĩa thật sự của phương thang là gì? Vì bệnh là nhiệt kết, nhiệt mạnh hơn so với ứ huyết, vì thế cần tả nhiệt phá kết. thang Điều vị thừa khí có Đại hoàng, Mang tiêu hai vị thuốc khổ hàn (đắng lạnh) và hàm hàn (mặn lạnh), có thể tả nhiệt, phá kết, có thể trị chứng cuồng. Bản thân vị Đại hoàng tuy có thể hoạt huyết hoá ứ, nhưng lực của nó không mạnh, vì thế nên phải gia thêm Đào nhân, Đào nhân là vị thuốc có tính hoạt lợi, có thể hành huyết, như chúng ta thường nói Đào nhân có tác dụng hành huyết hoá ứ, tác dụng hành huyết hoá ứ của Đào nhân không quá mạnh, yếu hơn so với Manh Trùng, Thuỷ điệt của Để đương thang, nhưng khi phối hợp với Đại hoàng thì có tác dụng rất khả quan, vì thế Đào nhân được gọi là thuốc hành huyết trục ứ. Tại sao phương này lại có vị Quế chi? Có phải là có vấn đề về biểu tà?, chúng ta biết là không phải, vì trong sách đã nói rất rõ, biểu đã được giải trừ rồi, việc sử dụng thang Đào nhân thừa khí, vì thế không có vấn đề về biểu chứng.
Không có vấn đề biểu chứng thì tại sao lại cần vị Quế chi? Học “Thương Hàn Luận” trên thực tế cũng là học về tác dụng trị liệu của thuốc, thông qua một số phương thuốc trong “Thương Hàn Luận”, đối với mỗi vị thuốc có một cách nhìn toàn diện hơn. Quế chi là một vị thuốc cay ấm, chính là thuốc thông dương, lý khí, giảm đau. Vì thuốc trong thang Đào hạch thừa khí thiên về hàn lương (lạnh, mát), cũng thiên về huyết phận, Đại hoàng, Mang tiêu, Đào nhân đều là thuốc về huyết phận, đều là thuốc hàn lương, vì thế Trọng Cảnh tiên sinh ở đây đã sử dụng Quế chi một cách rất xảo diệu, Quế chi thông dương lý khí, thuốc thông dương đều có tác dụng lý khí. Thông dương lý khí và hoạt huyết hoá ứ tương phụ tương thành (tạo điều kiện cho nhau), để hoạt huyết hoá ứ, phải lý khí, khí được thuận lợi, huyết sẽ hoạt, đây là vấn đề quan hệ của khí huyết. Vì thế gia thêm vị Quế chi, tạo thuận lợi cho khí cơ, có lợi cho hoạt huyết hoá ứ; Ngoài ra, vì Quế chi là thuốc ôn nhiệt (ấm nóng), thuốc thông dương, với một lượng lớn thuốc tả nhiệt phá kết khổ hàn, hàm hàn (đắng lạnh mặn), gia một chút thuốc cay ấm thông dương, khiến cho tác dụng hoạt huyết tả nhiệt phá kết của Đại hoàng, Mang tiêu, Đào nhân càng được phát huy tốt hơn.
Thang Đào hạch thừa khí là một phương thang rất tốt, phạm vi sử dụng trên lâm sàng rất rộng.
Chúng ta học “Thương Hàn Luận” cần có điều văn, cần có tư tưởng chỉ đạo, đây chính là “Nguyên” (Nguồn), giống như đầu nguồn nước. Điều này ở “Thương Hàn Luận”, là nước có nguồn, cây có gốc. Nhưng, có nguồn thì sẽ có (dòng )chảy, chảy chính là sự phát triển, minh bạch đạo lý này, chúng ta cần bổ sung cho nó, cần phát huy nó, không giới hạn trong các câu văn. Vì vậy, việc sử dụng thang Đào hạch thừa khí của các thế hệ sau, bao gồm cả những y gia lâm sàng hiện nay, sẽ không chỉ giới hạn ở vấn đề nhiệt kết tại bàng quang.
Nói chung, chúng ta điều trị những bệnh gì với nó? Một, hãy nghĩ về các bệnh của phụ nữ, vì bệnh của phụ nữ thường do các vấn đề sinh lý, kinh nguyệt, một số bệnh kinh nguyệt của phụ nữ, tỉ như “bế kinh”, không hành kinh, nhất định là có nguyên nhân, nếu như thuộc về nhiệt chứng, cơ chế bệnh này cần kết hợp với “Thương Hàn Luận” , nhiệt và huyết ngưng kết (kết tụ), chúng không hạ xuống; Huyết bị nhiệt gây ứ, huyết ứ nên bụng đau, đây gọi là thống kinh (kinh hành đau bụng), nhiệt và huyết kết lại nên không hành kinh, sẽ bực bội, trường hợp nghiêm trọng sẽ làm bệnh nhân như phát cuồng. Trên lâm sàng nên chú ý, phụ nữ nhất là tuổi thanh niên; 20. 30 tuổi, thường không hành kinh, hoặc trễ kinh, sau đó bụng dưới rất đau, bực bội khó chịu, có lúc như phát cuồng, thậm chí nói năng với mẹ cũng không lễ phép, phương thang này rất hiệu quả. Trong phụ khoa có thang Ngọc Chúc, chính là thang Tứ vật gia Đại hoàng, trên thực tế chỉ nên dùng thang Đào hạch thừa khí vì có tác dụng tốt hơn Ngọc chúc thang. Ngoài ra, người này có tiền sử ngoại thương, té ngã, va đập, đã trải qua những tổn thương như vừa nêu, lúc bình thường thì không có vấn đề mọi việc đều tốt. Sau đó thì phát hiện, hoặc ở ngực, hoặc ở bụng, hoặc ở sườn đều có cảm giác đau, mỗi khi trở trời, trời âm u, mưa, lạnh thì đau rất nghiêm trọng. Lúc này nên suy nghĩ đến khả năng người này bị ứ huyết bên trong, do té ngã, ngoại thương dẫn đến ứ huyết. Điều trị như thế nào? Trong trường hợp này hiệu quả của Đào hạch thừa khí thang là cực kỳ tốt. Chúng tôi đã từng điều trị những trường hợp như trên tại y viện Đông Trực môn, chính là ứ huyết, thuộc về chứng đau do ứ huyết.
Tại sao thang Đào hạch thừa khí và thang Đại sài hồ lại kết nối với nhau? Vì một thang thuộc khí, một thang thuộc huyết. Vì thế, chúng ta thường cần phải kết hợp hai phương này lại, là thang Đào hạch thừa khí hợp với thang Đại sài hồ để sử dụng cùng nhau. Hợp hai phương lại so với đơn thuần sử dụng một phương thì có những khác biệt nào. Dùng để trị bệnh gì? Đây là một phạm vi rất rộng, chủ yếu là chứng đau. Đau có rất nhiều, thực tính, thuộc khí huyết ngưng kết, mà còn chỉ đau ở một bên, phương thang này đều có hiệu quả. Vì sao gọi là một bên? Mặc dù có những vùng đau ở giữa nhưng cũng có những vùng đau ở bên, như ở háng, sườn là gì, là một bên của ngực, hoặc một bên của bụng, tất cả những chứng đau một bên phương thang này đều có hiệu quả. Ở y viện Đông Trực môn có một lão đại phu Hồ Hi Thứ, rất giỏi sử dụng phương thang này. Thậm chí bệnh mạch vành, viêm ruột thừa cấp tính, đều có thể sử dụng. Thang Đại sài hồ kết hợp với thang Đào hạch thừa khí điều trị chứng viêm ruột thừa cấp có hiệu quả đặc biệt tốt. Vì khi kết hợp hai phương thang trên, các vấn đề về huyết, khí, can, vị, tam tiêu, tính thực chất của các vấn đề thuộc về thực tính đều có thể giải quyết. Vì thế chúng ta cần nắm vững bệnh cơ bệnh lý của thang Đào hạch thừa khí và thành phần dược vật của nó, hiểu rõ ý nghĩa của nó, việc điều trị trên lâm sàng không chỉ giới hạn trong điều này, mà còn có thể suy rộng ra để điều trị rất nhiều loại bệnh.
Khi uống thang thuốc này, cần phải chú ý, người viết đã nói nhiều lần, cần phải uống thuốc còn ấm trước khi ăn 5 hợp, ngày uống ba lần, uống thang Đào hạch thừa khí phải uống lúc bụng trống (đói). Tại sao như vậy? Vì đó là kinh nghiệm được người xưa tổng kết, là “Bệnh từ ngực trở lên” thì ăn trước rồi uống thuốc sau. Bệnh từ tâm phúc (tim bụng) trở xuống, như thang Đào hạch thừa khí thiểu phúc cấp kết, đau bụng dưới, đau không chịu nổi thì nên uống thuốc trước và ăn sau. Ở đây có ý nghĩa khoa học, nếu ăn trước, bụng đã no, sau đó uống thang Đào hạch thừa khí, thang dược bị ảnh hưởng bởi thực phẩm đã ăn trước đó, nó có khả năng xuống đến bụng dưới để trị chứng cấp kết không? Dược lực đã bị tiêu háo và như vậy là không đúng. Những y gia sau này càng cần nghiêm ngặt hơn, tỉ như có thang trị chứng ứ huyết, có Đào nhân, Đại hoàng, Manh trùng trong {Y tôn kim giám} Viết là “Rạng sáng”, dậy sớm uống thuốc khi chưa ăn uống gì. Bạn cần phải uống Mông thạch cổn đàm hoàn như thế nào? Sau khi uống thuốc phải nằm chờ cho ra đàm, là những yêu cầu bắt buộc khi dùng thuốc, không thể uống thuốc một cách tuỳ tiện. Những nguyên tắc này, là những kinh nghiệm được tổng kết trên lâm sàng của các y gia cổ đại, vì thế chúng ta cần phải ghi nhớ.
107 伤寒八九日,下之,胸满烦惊,小便不利,谵语,一身尽重,不可转侧者,柴胡加龙骨牡蛎汤主之。C113
Điều 107
Thương hàn bát cửu nhật, hạ chi, hung mãn phiền kinh, tiểu tiện bất lợi, thiềm ngữ, nhất thân tận trọng, bất khả chuyển trắc giả, Sài hồ gia long cốt mẫu lệ thang chủ chi. C113.
Phương thang Sài hồ gia Long cốt Mẫu lệ
Thương hàn hạ hậu mãn phiền kinh
Tiểu tiện bất lợi thiềm ngữ sinh
Nhất thân tận trọng nan chuyển trắc
Sài hồ long mẫu dụng hậu khinh.
Quế linh khương nhân nhất lượng bán
Diên long mẫu lệ nhất dạng trùng
Nhị đại lục táo nhị hợp hạ
Sài hồ tứ lạng thiếu dương thông
Bán hạ nhị hợp, rửa Đại táo 6 quả
Sài hồ 4 lạng Sinh khương 1,5 lạng
Nhân sâm 1,5 lạng Long cốt 1,5 lạng diên đan 1,5 lạng Quế chi 1,5 lạng, bỏ vỏ
Phục linh1,5 lạng Đại hoàng 2 lạng
Mẫu lệ 1,5 lạng, nung
11 vị trên, dùng 8 thăng nước, sắc còn 4 thăng, thái vị Đại hoàng bằng cỡ con cờ, đun sôi lên 1,2 lần, bỏ bã, uống lúc thuốc còn ấm 1 thăng.
Điều 107 trình bày chứng trạng và trị liệu của Thiếu dương kèm theo biểu lý tam tiêu đều bị bệnh.
“Thương Hàn Luận” có tung có hoành (có ngang có dọc). Sau thang Đại sài hồ, rồi nói đến thang Đào hạch thừa khí; Sau thang Đào hạch thừa khí, là đến thang Sài hồ gia Long cốt Mẫu lệ. Tại sao thang Sài hồ gia Long cốt Mẫu lệ và thang Đào hạch thừa khí lại được xếp liền nhau? Việc sắp xếp hai điều này với nhau, là có lý do. Giải thích nội dung trước rồi nói đến lý do vì sao sắp xếp như vậy, sắp xếp và kết hợp sao cho hợp lý. Bệnh này chính là “Thương hàn bát cửu thiên” Thương hàn 8,9 ngày đã dùng phép tả hạ, trong quá trình trị liệu đã trải qua tả hạ. 8,9 ngày là quá trình bị bệnh, tả hạ khiến cho tà khí phạm vào Thiếu dương, chẳng những phạm vào Thiếu dương, mà còn ảnh hưởng đến chính khí. Thiếu dương là trục quay, giá trị ở bán biểu bán lý, vì thế nếu trục quay của Thiếu dương không thuận lợi, biểu lý cũng đều bất hoà, chứng trạng của nó sẽ trở nên phức tạp.
“Hung mãn” (Ngực trướng đầy) đây là “mãn” đọc là “muộn”, “Hung mãn phiền kinh”, “phiền kinh” với kinh là chủ, vì thế có y gia nói “phiền kinh” là kinh tệ hại, chứng trạng kinh của người này rất nặng, kinh thậm gọi là phiền kinh, phiền kinh là một đại biểu cho ý tăng nặng, tựa như xương khớp trên thân thể chúng ta đau nhức tệ hại thì gọi là phiền đông; Cũng có nhà chú thích cá biệt nói, phiền là tâm phiền, kinh là kinh khiếp sợ hãi, lấy cả hai chứng trạng để giải thích. Ý của cá nhân người viết là, chủ yếu là kinh (kinh sợ), có phiền cũng tốt, vì bệnh lý Thiếu dương cũng có phiền, nhưng, nổi bật là kinh sợ. Kinh sợ là một chứng trạng của tinh thần, luôn luôn khiếp sợ bất an. Biến hoá của thất tình không tách rời công năng của ngũ tạng. Kinh sợ không thể tách rời đảm khí, đảm có bệnh thì sẽ kinh sợ, can có bệnh sẽ dễ giận dữ. Người này ngực trướng đầy, tinh thần lại sợ hãi bất an, mà lại thấy sau khi tả hạ, vì thế điều này thuộc về Thiếu dương. Người trưởng thành bị bệnh tương đối ít, chỉ có thang Sài hồ gia Long cốt Mẫu lệ mới có bệnh này, đây là bệnh thường gặp ở khoa nhi, như mụn nhọt, sợ hãi, kinh phong. Vì thế khi trẻ em bị bệnh, giấc ngủ không ổn định, lúc thức giấc, lúc khóc, lúc thì giật mình, lúc thì la hét và thức giấc, nhìn là biết chứng sợ hãi. Một là thấy gân xanh ở ấn đường, là hay sợ hãi; thứ hai là xem hổ khẩu, xuất hiện một đường vân màu xanh, có thể cho trẻ uống gì? Trẻ em không thể uống thang dược, dùng một chút Hổ phách để trấn áp sợ hãi, uống rồi cũng sẽ tốt. Kinh sợ vì sao thấy sắc xanh, vì sắc xanh thuộc mộc, đây là bệnh ở gan mật, đây là lý luận của Trung y. Là phản ảnh của khí Thiếu dương bất lợi, vì bệnh này là vấn đề then chốt trong Thiếu dương bệnh, các bệnh khác chỉ là vấn đề ảnh hưởng, vì thế “hung mãn phiền kinh” được đặt ở vị trí số 1.
“Tiểu tiện bất lợi” chính là phủ khí của bàng quang bất lợi. Vừa rồi là vấn đề của Thiếu dương, bàng quang là vấn đề của Thái dương. “Chiêm ngữ”(nói mê sảng) nói chuyện vô nghĩa, là vị nhiệt (dạ dày nóng), đây là vấn đề của Dương minh vị gia. Khí của bàng quang bất hoà nên tiểu tiện bất lợi, khí dương minh bất hoà nên nói nhảm, khí Thiếu dương bị bệnh nên hung mãn phiền kinh. Khí của ba kinh dương đều bất lợi, thái dương chủ khai (mở), dương minh chủ hạp (đóng), thiếu dương chủ xu (xoay) khí của biểu lý trong ngoài đều chịu ảnh hưởng, nên “Nhất thân tận trọng, bất khả chuyển trắc” (一身尽重,不可转侧者)toàn thân nặng nề, không thể xoay người. Người này toàn thân nặng nề, không thể trở mình, quay qua quay lại gọi là chuyển trắc (xoay người). Bệnh tại Thiếu dương, mà ảnh hưởng của nó lại có vấn đề của Thái dương, lại có vấn đề của Dương minh, vì sao như vậy? “Sài hồ gia long cốt mẫu lệ chủ chi”, dùng thang Sài hồ gia long cốt mẫu lệ để điều trị bệnh này. Bây giờ chúng ta xem xét thành phần của thang Sài hồ gia Long cốt Mẫu lệ, trong thành phần căn bản không có Hoàng cầm, mà chính là phải có vị Hoàng cầm, vì thế nên bổ sung Hoàng cầm. “Sâm cầm long mẫu quế đan diên, linh hạ sài hoàng khương táo toàn” (参芩龙牡桂丹铅,苓夏柴黄姜枣全), phải có Hoàng cầm mới là thang Sài hồ, trong bản của họ Triệu có vị Hoàng cầm. Ý nghĩa thành phần của nó không ngoài một số vấn đề. Một là, phương thang này là thang Tiểu sài hồ khứ Cam thảo, thang Tiểu sài hồ vì sao cần khứ Cam thảo? Dùng thang Tiểu sài hồ để hoà giải bệnh tà hỗn loạn biểu lý của Thiếu dương, hỗ trợ công năng vận chuyển của Thiếu dương (xu cơ), để hoà giải biểu lý (trong ngoài). Vì thế cần dùng thang Tiểu sài hồ. Bệnh này có hội chứng tam dương, nhưng mấu chốt ở tại Thiếu dương, còn dùng thang Tiểu sài hồ, bỏ vị Cam thảo để hoà giải Thiếu dương, hoà giải biểu lý, để giải trừ bệnh tà hỗn loạn. Tiểu tiện bất lợi, vì thế gia Quế chi, Phục linh. Hai vị thuốc này có tác dụng lợi tiểu.
Gia Đại hoàng, vì bệnh nhân nói nhảm, vì thế cần tả lý nhiệt của Dương minh. Tả lý nhiệt chính là để hoà vị khí, vị không nhiệt, chứng nói nhảm sẽ hết. Bệnh nhân còn bị chứng kinh hãi, kinh hãi tệ hại, vì thế gia Long cốt, Mẫu lệ, Diên đan để trị chứng kinh hãi, trị chứng khiếp sợ của Đảm.
Tại sao điều này và thang Đào hạch thừa khí lại trình bày hỗ tương liên tiếp nhau? Theo cảm nhận của người viết thì những bệnh này đều có vấn đề về tinh thần, Đào hạch thừa khí thang nói về chứng cuồng, còn điều này nói về chứng kinh hãi, cuồng và kinh hãi là hai chứng trạng khác nhau, nhưng đều là vấn đề về tinh thần, ở đây có ý nghĩa hỗ tương phân biệt và hỗ tương phân chia, đây là điểm thứ nhất; Điểm thứ hai, thang Đào hạch thừa khí trị chứng đau ở bụng dưới, điều này trị chứng đầy trướng ở ngực, có ý nghĩa so sánh trên và dưới; Điểm thứ 3, thang Đào hạch thừa khí là tiểu tiện tự lợi, còn điều này là tiểu tiện bất lợi. Biện chứng là gì? Đối với phép biện chứng này, Trương trọng Cảnh thường áp dụng phương pháp so sánh lẫn nhau, tương phản hàn và nhiệt, tương phản hư và thực, tương phản trên và dưới, sử dụng nhiều phương pháp tương phản, để bạn có thể phân biệt đặc điểm và phân loại của một hội chứng nhất định, và có ý nghĩa biện chứng trong đó. Thí dụ như biểu chứng, có mồ hôi thì thuộc về biểu hư sẽ dùng thang Quế chi, không có mồ hôi thì thuộc về biểu thực sẽ dùng thang Ma hoàng.
Ở đây cũng như vậy; Đều là bệnh tinh thần, người thì nói năng hồ đồ mà rất sợ hãi; Người khác thì như cuồng, trợn mắt nắm tay như muốn đánh người, một lát lại thôi. Chỗ kia đau bụng, chỗ này trướng tức ngực ở bên trên. Người kia tiểu tiện tự lợi, người này tiểu tiện bất lợi, “tiểu tiện bất lợi”. Có sự so sánh không? Từ phương diện tinh thần, từ phương diện vị trí bệnh, từ phương diện triệu chứng, đều có một số ý tương phản. Quan trọng hơn, một là bệnh ở huyết phận, nhiệt và huyết kết, hai là khí của Thiếu Dương không thuận, nhưng khi khí phận có bệnh thì khí và huyết vẫn liên hệ với nhau.
Trong thang Sài hồ gia Long cốt Mẫu lệ có Diên đan là thuốc độc, hiện tại phải chú ý khi sử dụng, có người thay đổi không sử dụng Diên đan, thay thế bằng vị Sinh thiết lạc. Khi dùng phương này, nên dùng vải gói vị Diên đan lại cột chặt bằng sợi chỉ. Tại sao? Nếu bỏ Diên đan (thuốc chì) vào thuốc, trộn đều, uống chì vào có khi xảy ra sự cố. Vì thế phải gói nó lại, gói thật kỹ. Đây là một yêu cầu, vì đã có những báo cáo về ngộ độc chì khi dùng thang Sài hồ gia Long cốt Mẫu lệ, lời giáo huấn nhắc nhở này, phải nhớ thật kỹ.
Thứ hai, lượng thuốc sử dụng không được quá nhiều, phương này ghi là 1,5 lạng, chính là 1,5 tiền, vì thế không nên dùng 3 tiền, không thể dùng với lượng thuốc là 3 tiền, dùng lượng nhỏ hơn, khoảng 1 tiền và nhiều nhất là 1,5 tiền. không được dùng nhiều hơn.
Thứ ba, không nên uống thuốc này liên tục, uống liên tục sẽ dễ bị ngộ độc chì. Ngoài ra trong phương thang này vị Đại hoàng phải bỏ vào sau (hậu hạ là bỏ vị Đại hoàng vào khi chỉ còn đun khoảng 5 đến 10 phút).
Đơn thuốc này cũng được một số nhà y học sử dụng trên lâm sàng.
Hiệu quả lâm sàng của thang Sài hồ gia Long cốt Mẫu lệ là rất tốt, trên phương diện y án có rất nhiều trường hợp, vì thời gian hạn chế nên không thể giải thích từng trường hợp một. Phương thang này có thể điều trị bệnh gì trên lâm sàng? Một là có thể điều trị bệnh động kinh, lại có thể điều trị chứng tinh thần phân liệt, chứng múa giật ở trẻ. Trên lâm sàng người viết đã từng điều trị, xác thực là có hiệu quả. Xin đề cử một trường hợp, con một đồng chí ở tỉnh Cam túc, khoảng 11, 12 tuổi, bị vũ đạo bệnh, luôn nhảy nhót múa may. Đây là một căn bệnh lâu đời và khó chữa, nghe nói có đoàn y tế đến Bắc Kinh, Trường Trung cấp Y học cổ truyền Trung Quốc Bắc Kinh đã đặc biệt yêu cầu chúng tôi đi khám. Tổ chức nói rằng chúng tôi sẽ đi khám, chúng tôi có ba người cùng tiến hành hội chẩn bệnh. Bắt đầu là thang Sài hồ gia Long cốt Mẫu lệ. Sau đó có một lão sư ý kiến gia thêm thuốc trừ đàm, bệnh nhân xác thực là có chút đàm, nên gia thêm thuốc khứ đàm Đảm nam tinh. Qua ba ngày sau, tổ chúng tôi phải đi, đợi về Bắc kinh lại qua Trương Dịch, đồng chí này hướng về chúng tôi nói lời cám ơn, cho biết con ông ta đã tốt lên rất nhiều. Vì thế cho thấy thang Sài hồ gia Long cốt Mẫu lệ trị chúng Vũ đạo bệnh ở trẻ xác thực là có hiệu quả.
108 伤寒腹满谵语,寸口脉浮而紧,此肝乘脾也,名曰纵,刺期门。C114
109 伤寒发热,啬啬恶寒,大渴欲饮水,其腹必满,自汗出,小便利,其病欲解,此肝乘肺也,名曰横,刺期门。C115
Điều 108
Thương hàn phúc mãn chiêm ngữ, thốn khẩu mạch phù nhi khẩn, thử can thừa tỳ dã, danh viết tung, thích Kỳ môn. C114
Điều 109
Thương hàn phát nhiệt, sắc sắc ố hàn, đại khát dục ẩm thuỷ, kỳ phúc tất mãn, tự hãn xuất, tiểu tiện lợi, kỳ bệnh dục giải, thử can thừa phế dã, danh viết hoành, thích Kỳ môn. C115
Thương hàn phát nhiệt sắc sắc hàn
Đại khát ẩm thuỷ phúc tất mãn
Tự hãn nhi xuất tiểu tiện lợi
Kỳ bệnh dũ giải phế bị can
Can lai thừa phế danh viết hoành
Kim thích Kỳ môn bệnh nhân an
Điều C114 giảng về vấn đề của vùng bụng, giảng về quan hệ giữa can và tỳ vị, điều C115 giảng về quan hệ giữa can đảm và phế.
Hai điều này nói về quan hệ giữa Can Đảm và Tỳ, quan hệ giữa Can Đảm và Phế. Một gọi là tung (dọc), một gọi là hoành (ngang). Mộc khí phạm kim, gọi là kẻ nhỏ phạm người trên, vì thế gọi là hoành (ngang). Bệnh này bắt nguồn từ thương hàn, xuất hiện bụng trướng đầy, nói năng hồ đồ, “Phúc mãn chiêm ngữ” (腹满谵语) đầy bụng nói nhảm chính là Dương minh lý thực, có biểu hiện khô nóng (táo nhiệt), mạch nên trầm thực hữu lực, là bệnh ở Dương minh, nhưng ở điều này, ở thốn khẩu mạch phù mà khẩn, thốn khẩu bao gồm Thốn Quan Xích, “Mạch phù nhi khẩn” chính là mạch Huyền, vì khẩn có hình tượng của Huyền, mạch phù nhi Huyền, chính là thấy mạch Huyền. Đầy bụng, nói nhảm là của Vị, xuất hiện mạch Huyền của Thiếu dương can đảm. “Thử can thừa tỳ dã” (此肝乘脾也), bệnh này gọi là can thừa tỳ, tỳ ở đây bao gồm cả tỳ vị. Căn cứ học thuyết ngũ hành, Can thuộc mộc, tỳ thuộc Thổ, đây là Mộc khắc Thổ, chính là bệnh tà của Can Mộc chèn ép Tỳ Vị. Xét từ góc độ mối quan hệ giữa hai bên, mộc có thể khắc thổ. Chúng ta nói về “tà cao thống hạ” (邪高痛下), và bệnh tà của Can phải đến Tỳ Vị. Dưới góc độ quy luật phát triển, nó có quy luật như vậy. “Viết tên là tung”. “Tung” là phóng túng, Can phóng túng sức mạnh của nó để chèn ép tỳ vị (can mộc khắc tỳ thổ), chính là vấn đề Can khí thịnh ảnh hưởng vào Tỳ Vị. Vì thế, không nên chỉ chú tâm vào Dương minh là đầy bụng nói sàm, vấn đề của trung tiêu, nên xét đến ảnh hưởng của can, vì thế, khi điều trị cần châm huyệt Kỳ môn, Kỳ môn là mộ huyệt của tạng Can, châm thích huyệt Kỳ môn bỏ bớt dư thừa ở Can Đảm, là để giải cứu ảnh hưởng của Can đảm đối với Tỳ Vị. đây là một vấn đề. “Thương Hàn Luận” có một chút về học thuyết ngũ hành, nhưng rõ ràng hơn trong hai điều này, giảng về tương sinh tương khắc, giảng về tung hoành. Nhưng rất nhiều nhà chú thích cho rằng có thiếu sót, không đầy đủ và không toàn diện.
Hiểu theo ý này, chính là trong thương hàn đã xuất hiện trung tiêu táo nhiệt nhiệt thực mà lại thấy mạch của tạng Can, chính là Can chèn ép Tỳ, mộc của Can Đảm mạnh nên chèn ép xâm phạm tỳ, trong Tỳ Vị có nhiệt nên thành thực chứng, chính là do Can Đảm phóng túng mà thêm vào Tỳ Vị, cần phải châm thích Kỳ môn, để tả (bỏ bớt) khí của Can Đảm, khiến nó không chèn ép Tỳ Vị, như vậy bệnh sẽ tốt.
Điều C115, “Thương hàn phát nhiệt, sắc sắc ố hàn”, đây chính là vấn đề của Phế, Phế hợp với da, “Phát nhiệt, sắc sắc ố hàn” chính là bệnh tà trên ngọn da lông, cũng có thể nói bệnh tà ở biểu, phế khí thụ tà. Phế còn có chức năng điều tiết đường nước (thông điều thuỷ đạo), phế có thể điều tiết và điều tiết thuỷ đạo để có tác dụng lợi cho tam tiêu. Phế bị bệnh, tác dụng thông điều thuỷ đạo để điều tiết sẽ bị ảnh hưởng, có thể xuất hiện tiểu tiện bất lợi, khiến tân dịch phát sinh ngưng tụ, không thể vận hoá, như vậy sẽ xuất hiện các vấn đề như bên ngoài sẽ sợ lạnh, bên trong khát nước, tiểu tiện bất lợi. “kỳ phúc tất mãn”(其腹必满)bụng trướng đầy, rất khát nước, công năng điều tiết của Phế không vận hành, tân dịch không phân bố, đồng thời Can khí trung tiêu, tỳ khí cũng không vận hoá, vì thế bụng phát sinh đầy trướng. Tóm lại, khi có vấn đề về Phế, cũng sẽ có vấn đề về Tỳ. Nguyên nhân Phế bị bệnh và Can khí thịnh xâm phạm Phế, để ảnh hưởng Phế chính là có quan hệ với nhau, vì thế, gọi là Mộc tà vũ nhục Phế kim. Kim có thể khắc mộc, hiện tại Mộc lại vũ nhục Phế kim, đây gọi là tiểu phạm thượng (nhỏ phạm bên trên), khí tất hoành (ngang), không tiết chế được, thậm chí nó còn dám xâm phạm cả phế bộ, vì thế khí này ngận hoành (rất ngang). Phương pháp điều trị chính là châm huyệt Kỳ môn, để tả hoành khí của Can, khiến Phế khí không bị ảnh hưởng của Can khí, khi Phế khí thuận lợi, bên ngoài xuất hãn, bên trong tiểu tiện thuận lợi “kỳ bệnh dục giải” (bệnh sẽ được giải trừ), và sẽ khỏi bệnh. Đây là ý của toàn câu văn. Ở đây phải nói về mạch, trong tiết trên có đề cập đến mạch “mạch phù nhi khẩn, thử Can thừa Tỳ dã” (mạch phù khẩn, là Can chèn ép Tỳ), ở tiết này không đề cập đến mạch, vì thế ở tiết này chỉ có thể nói đến ý tứ cơ bản của nó, còn chứng trạng cụ thể có khả năng đã bị thất lạc, nên không thể tìm hiểu nó một cách có hệ thống. Bên dưới hội chứng Sài hồ, nói về hai vấn đề của bệnh gan, vì chúng ta nói về đảm, thang Tiểu sài hồ thiếu dương chứng, Can chèn ép Tỳ là tung (Mộc khắc thổ), Can chèn ép Phế là hoành (Kim khắc Mộc) là hoành, viết tung, viết hoành, là nói Can Đảm nối liền với nhau. Can chính là Quyết âm bệnh, không đề cập đến Quyết âm bệnh thì tại sao lại đề xuất bệnh tạng Can? Vì Can và Đảm tương liên (nối tiếp nhau), cho nên khi phát bệnh có những điểm chung, có tác dụng hỗ tương, vì thế đây là vấn đề thứ nhất. Vấn đề thứ hai là khi tạng can bị bệnh, không thể tĩnh chỉ (ngừng lại), giới hạn ở tạng Can, mà bệnh đã ảnh hưởng đến tỳ vị, lại có thể ảnh hưởng đến tạng Phế, cũng có thể khiến tam tiêu không thuận lợi, bên ngoài có biểu tà, bên trong có thể xuất hiện ẩm thuỷ, tiểu tiện bất lợi, là nói về vấn đề thứ hai. Chúng ta cần nắm vững tinh thần này, chứng trạng cụ thể, mạch, rêu lưỡi của bệnh nhân, cần phân tích cụ thể, nếu chỉ chiếu theo nội dung của một đoạn văn là không đủ, không toàn diện.