| Điều trị cao huyết áp bằng thuốc hạ áp
Tài liệu tham khảo:
Nguyên tắc điều trị hạ áp bằng thuốc là gì?
(1) Kiên trì nguyên tắc cá thể hóa trong sử dụng thuốc, vì nguyên nhân, diễn biến bệnh, biến chứng và mức độ nghiêm trọng của cao huyết áp khác nhau ở từng bệnh nhân. Tuổi tác, giới tính, thể trạng cũng khác biệt, ngay cả những bệnh nhân có tình trạng tương tự cũng có thể phản ứng với cùng một loại thuốc hạ áp rất khác nhau. Do đó, khi điều trị phải căn cứ vào tình hình cụ thể của bệnh nhân, chọn thuốc hạ áp phù hợp, tránh áp dụng một mô hình cứng nhắc.
(2) Ngoại trừ tình trạng khẩn cấp như cơn cao huyết áp cấp cứu, không nên làm huyết áp hạ quá nhanh, đặc biệt ở người cao tuổi, để tránh tổn thương các cơ quan quan trọng như tim, não, thận do huyết áp giảm đột ngột.
(3) Thông thường bắt đầu từ một loại thuốc, với liều thấp, sau đó tăng dần liều. Nếu dùng đủ liều nhưng vẫn không kiểm soát hiệu quả huyết áp, thì kết hợp thêm thuốc khác.
(4) Cần hiểu rõ tác dụng phụ, độc tính tiềm ẩn của thuốc hạ áp. Khi phối hợp hai hay nhiều loại thuốc, cần biết tương tác thuốc và những chống chỉ định kết hợp. Mục tiêu là tăng hiệu quả hiệp đồng hạ áp, giảm tác dụng phụ.
(5) Hầu hết bệnh nhân cao huyết áp cần dùng thuốc lâu dài, nhiều người phải dùng suốt đời. Do đó, nên dùng những thuốc hạ áp đơn giản, tiện dùng, tốt nhất là thuốc tác dụng dài, thuốc giải phóng chậm hoặc kiểm soát giải phóng, mỗi ngày chỉ cần uống một lần, giúp bệnh nhân kiên trì điều trị, đạt mục tiêu kiểm soát huyết áp.
(6) Bệnh nhân cao huyết áp có kèm bệnh khác cần tránh dùng thuốc hạ áp làm nặng thêm bệnh đó.
(7) Khi đánh giá hiệu quả thuốc, ngoài tác dụng hạ huyết áp, cần xem xét khả năng thuốc cải thiện hoặc đảo ngược một số biến chứng đã xuất hiện, như phì đại thất trái, rối loạn chuyển hóa lipid hoặc đường.
Những thuốc hạ áp thường dùng là gì?
Hiện nay có hàng trăm loại thuốc chống cao huyết áp, nhưng thường dùng chủ yếu 5 nhóm lớn:
(1) Thuốc lợi tiểu: Thông qua thận tăng đào thải natri và nước, giảm thể tích tuần hoàn, giảm kháng lực ngoại vi, từ đó hạ huyết áp. Thường dùng: Hydrochlorothiazide (HCTZ), chlorthalidone, furosemid (Lasix), acid etacrynic, triamterene, spironolactone, amiloride,…
(2) Thuốc chẹn β (β-blockers): Ức chế receptor β, giảm tác động giao cảm lên tim, ức chế tiết renin, đạt hiệu quả hạ áp. Thường dùng: Propranolol, atenolol, metoprolol, timolol,…
(3) Thuốc ức chế men chuyển (ACEI): Ức chế men chuyển angiotensin, giảm sản sinh angiotensin II, từ đó giảm kháng lực tuần hoàn, hạ huyết áp. Thường dùng: Captopril, enalapril, perindopril, benazepril,…
(4) Thuốc chẹn kênh canxi (CCB): Ức chế dòng ion canxi đi vào tế bào cơ trơn mạch máu và cơ tim, làm giãn mạch, giảm kháng ngoại vi, hạ huyết áp, chống đau thắt ngực. Thường dùng: Nifedipine, nicardipine, nimodipine, verapamil, amlodipine,…
(5) Thuốc giãn mạch: Đối kháng kháng lực ngoại vi, hạ huyết áp. Thường dùng: Hydralazine (hydralazin), minoxidil,…
Ngoài ra, còn các thuốc tác động lên thần kinh giao cảm như methyldopa, reserpin, clonidine, guanethidine; α-blockers như prazosin, phentolamin,… Tuy nhiên, những thuốc này ít dùng thường quy, một số hiện gần như không dùng nữa.
Tác động của các thuốc hạ áp thường dùng lên tim mạch ra sao?
Hiện nay, 4 nhóm thuốc được sử dụng phổ biến điều trị cao huyết áp: lợi tiểu, chẹn β, chẹn kênh canxi, ức chế men chuyển.
- Lợi tiểu: Giảm thể tích tuần hoàn, giảm áp lực đổ đầy tim. Khi cao huyết áp kèm suy tim sung huyết, áp lực đổ đầy thất trái tăng, dùng lợi tiểu cải thiện tình trạng tim. Nhưng lợi tiểu kích thích hệ giao cảm, tăng catecholamin, nên dù hạ huyết áp nhưng không làm giảm phì đại thất trái. Thống kê cho thấy lợi tiểu giảm đáng kể tỷ lệ đột quỵ, nhưng tỷ lệ mắc bệnh mạch vành và tử vong không giảm. Vì thế, lợi tiểu không nên là thuốc duy nhất giai đoạn đầu.
- Chẹn β: Giảm tác động giao cảm lên tim, tùy người mà giảm co bóp tim. Ở bệnh nhân suy tim tiến triển hoặc vận động mạnh, tim cần giao cảm hỗ trợ, nên chẹn β có thể không thích hợp. Dùng lâu chẹn β có thể giảm dần kháng lực ngoại vi do giảm renin, giảm giải phóng noradrenalin ngoại biên và giảm angiotensin. Chẹn β thích hợp cho người có tiền sử nhồi máu cơ tim, đau thắt ngực, rối loạn nhịp. Không thích hợp cho hen, bệnh phổi tắc nghẽn, suy tim sung huyết, hội chứng nút xoang bệnh lý.
- Chẹn kênh canxi: Có nhiều loại. Dẫn xuất dihydropyridine chủ yếu giãn động mạch ngoại vi, ít ảnh hưởng cơ tim, giảm kháng ngoại vi làm huyết áp giảm, nhưng kích thích bù giao cảm gây nhịp tim nhanh, thường chỉ xuất hiện ban đầu. Verapamil lại ảnh hưởng nhiều lên tim, ít gây nhịp nhanh phản xạ. Chẹn canxi thích hợp cho người già, người có bệnh mạch vành nhưng có thể gây đau đầu, phù chân, hạ huyết áp mạnh, rối loạn nhịp.
- Ức chế men chuyển (ACEI): Giảm tạo angiotensin II, giảm kháng ngoại vi mà không kích thích giao cảm, không ảnh hưởng nhịp tim, cải thiện tình trạng cơ tim suy. ACEI hiệu quả trong cao huyết áp dù renin cao, thấp hay bình thường. Một số nghiên cứu cho thấy ACEI giảm phì đại thất trái sau 3 tháng.
Ưu điểm của việc phối hợp thuốc hạ áp là gì?
(1) Tăng hiệu quả hạ áp: Phối hợp thuốc tạo tác dụng hiệp đồng, huyết áp giảm ổn định. Ví dụ, lợi tiểu tăng hiệu quả của nhiều thuốc hạ áp khác.
(2) Giảm liều mỗi thuốc: Các thuốc cùng tác dụng làm giảm nhu cầu liều từng thuốc.
(3) Giảm tác dụng phụ: Hoặc khiến chúng triệt tiêu nhau. Ví dụ, lợi tiểu + chẹn β vừa tăng hiệu quả hạ áp vừa giảm nguy cơ hạ kali máu do lợi tiểu gây ra. Lợi tiểu + chẹn kênh canxi vừa tăng hiệu quả hạ áp vừa giảm ứ đọng natri-nước do chẹn canxi. Chẹn β làm chậm nhịp tim, phối hợp với thuốc làm tăng nhịp sẽ trung hòa giữ nhịp tim ở mức bình thường.
Những phối hợp thuốc hạ áp nào được khuyến khích?
- ACEI + liều thấp lợi tiểu: Tăng rõ rệt tác dụng hạ áp. ACEI giảm hạ kali do lợi tiểu gây ra. Nhưng nếu phối hợp ACEI với lợi tiểu giữ kali, cần chú ý nguy cơ tăng kali máu.
- Lợi tiểu + chẹn β: Chẹn β không bị ảnh hưởng bởi lợi tiểu, lại giảm kích hoạt hệ renin-angiotensin, ngăn loạn nhịp do hạ kali. Nhưng cả hai có thể gây rối loạn chuyển hóa đường, lipid.
- Lợi tiểu + chẹn kênh canxi: Giảm ứ đọng natri-nước do chẹn canxi, tăng tác dụng hạ áp.
- ACEI + chẹn kênh canxi: Cơ chế khác nhau, tăng tác dụng hạ áp.
- Chẹn kênh canxi + chẹn β: Tăng hiệu quả hạ áp, giảm tác dụng phụ tăng nhịp tim của chẹn canxi, giảm tăng kháng ngoại vi nhẹ của chẹn β.
- Chẹn β + giãn mạch: Chẹn β giảm nhịp tim nhanh do giãn mạch, giảm tác dụng phụ mỗi loại.
- Lợi tiểu + α-blocker: Tăng hiệu quả hạ áp, lợi tiểu giảm ứ đọng natri nước do α-blocker, α-blocker cải thiện lipid bị xấu đi do lợi tiểu. Lưu ý khi mới dùng α-blocker nên ngừng lợi tiểu 2 ngày để tránh hạ huyết áp tư thế quá mức.
Những phối hợp thuốc hạ áp nào gây tác dụng phụ?
- Chẹn β + reserpin hoặc guanethidine: Dễ gây hạ huyết áp tư thế, chậm nhịp nặng, hại nhiều hơn lợi.
- Chẹn β + prazosin: Dễ gây hạ huyết áp tư thế, ngất.
- Chẹn β + clonidine: Hai thuốc tác động trái ngược lên ngoại vi, chẹn β giảm hiệu quả hạ áp của clonidine, gây chậm nhịp. Ngừng clonidine đột ngột trong khi đang dùng chẹn β gây tăng huyết áp bùng phát, thiếu máu cục bộ ngoại vi.
- Chẹn β + verapamil (thuộc nhóm chẹn canxi tác động lên tim): Có thể ức chế dẫn truyền nhĩ-thất, gây block nhĩ-thất.
- ACEI + lợi tiểu: Lợi tiểu giảm thể tích dịch, tăng hiệu lực ACEI, có thể hạ huyết áp quá mức. Phối hợp ACEI với lợi tiểu giữ kali có thể gây tăng kali máu, tổn thương thận.
- Clonidine + methyldopa: Tăng ức chế trung ương, gây buồn ngủ, chậm nhịp nghiêm trọng.
Thuốc hạ áp ảnh hưởng đến các bệnh khác như thế nào?
- Chẹn β có thể gây bất thường dung nạp glucose, ảnh hưởng kiểm soát đường huyết, bệnh nhân tiểu đường không nên dùng.
- Chẹn β và lợi tiểu nhóm thiazid làm tăng cholesterol, triglycerid, LDL-cholesterol, giảm HDL-cholesterol, bệnh nhân rối loạn mỡ máu cũng không nên dùng.
- Bệnh hen suyễn, bệnh phổi tắc nghẽn mạn, không dùng chẹn β vì có thể làm nặng thêm bệnh.
- Chẹn β giảm lưu lượng máu thận, bệnh nhân suy thận nặng dùng thận trọng.
- Chẹn β dùng cho đau thắt ngực do gắng sức thì tốt, nhưng với đau thắt ngực biến thể (thể Prinzmetal) có thể gây co thắt động mạch vành, nên cấm dùng.
Thuốc hạ áp không được kết hợp với thuốc nào?
- Chẹn β + insulin hoặc thuốc hạ đường huyết dễ gây hạ đường huyết, khó phát hiện do chẹn β che giấu triệu chứng.
- Chẹn β + theophyllin, lidocain, chlorpromazine: Chẹn β làm tăng nồng độ các thuốc này trong máu, dễ gây độc.
- Thuốc chẹn kênh canxi + digoxin, phenytoin, theophyllin, quinidin, cyclosporin: Tăng nồng độ các thuốc sau trong máu, gây độc tính. Chẹn kênh canxi + rifampin: Giảm tác dụng hạ áp. Kết hợp cimetidin với chẹn kênh canxi hoặc chẹn β làm chậm chuyển hóa thuốc hạ áp, tăng nguy cơ hạ áp quá mức.
- Thiazid + ACEI: Nguy cơ hạ huyết áp quá mạnh, sốc. Thiazid + indomethacin: Giảm tác dụng hạ áp. Thiazid + phosphomycin: Tổn thương thận. Thiazid + streptomycin: Tăng độc tính trên tai. Thiazid + reserpin + aspirin: Giảm tác dụng hạ áp và thải natri.
- Furosemid + thuốc hạ đường huyết: Ảnh hưởng kiểm soát đường huyết. Furosemid + phenytoin: Giảm 5% tác dụng furosemid. Furosemid + mannitol 20%: Gây suy thận cấp.
- ACEI + probenecid: Ảnh hưởng thải trừ ACEI. ACEI + allopurinol (thuốc ức chế xanthin-oxidase): Gây sốt, đau khớp cơ. ACEI + aspirin, indomethacin: Giảm tác dụng hạ áp, tăng giữ kali.
- Reserpin + levodopa: Giảm hiệu lực hai bên.
- Guanethidine không kết hợp với thuốc ho chứa ephedrine, hoặc một số thuốc cảm mạo Đông y, vì làm giảm tác dụng hạ áp.
Hiện nay có những thuốc hạ áp mới nào?
- Moxipril: Một ACEI không chứa nhóm thiol, tăng hoạt tính renin, giảm aldosterone, giãn mạch, hạ áp. Hấp thu nhanh, T1/2 = 9,8 giờ, uống 1 lần/ngày. Có thể phối hợp lợi tiểu hoặc chẹn canxi. Tác dụng phụ: Ho khan, đau đầu, chóng mặt, mệt mỏi, đỏ da. Chống chỉ định ở phụ nữ mang thai, cho con bú, tiền sử phù mạch.
- Quinapril: Tương tự enalapril, là tiền dược, qua gan thủy phân thành quinaprilat có hoạt tính. Liều 2mg có hiệu quả hạ áp kéo dài, phù hợp cao huyết áp động mạch.
- Spirapril: Một ACEI không chứa nhóm thiol, là tiền dược, chuyển thành spiraprilat có hoạt tính mạnh. Giảm hậu gánh, giảm phì đại thất trái, sinh khả dụng 50%. T1/2 = 1,8-3h. Thải trừ qua gan/thận. Dùng cho cao huyết áp trung bình-nặng. Tác dụng phụ: Chóng mặt, đau đầu, mệt mỏi, nên thận trọng với suy thận nặng.
- Cilnidipine: Chẹn kênh canxi tác dụng dài, ức chế dòng canxi type L, giãn mạch kéo dài. Liều 5-20mg/ngày hiệu quả >90%. Ít tác dụng phụ (chỉ vài trường hợp đỏ bừng, buồn nôn). Có đặc tính chống oxy hóa, chống xơ vữa. Dùng cho cao huyết áp nhẹ-vừa.
- Tilisolol: Có tác dụng chẹn β kéo dài, mở kênh kali gây giãn mạch, kích thích nội sinh giao cảm ở mức nhẹ, có tác dụng màng ổn định. Dùng cho cao huyết áp nhẹ-vừa, đau thắt ngực. Chống chỉ định: Hen, đái tháo đường nhiễm toan ceton, suy tim do tim, shock tim.
Thuốc hạ áp hiện phát triển theo hướng “3 cao” (hiệu quả cao, tác dụng nhanh, tác dụng dài) và “3 ít” (độc tính ít, tác dụng phụ ít, liều ít). Các nước phát triển như Mỹ, Đức đã bào chế dạng giải phóng chậm, giải phóng kiểm soát, và thuốc hướng đích.
- Dạng giải phóng chậm: Giải phóng thuốc theo động học bậc 1, lúc đầu nhiều, sau ít.
- Dạng kiểm soát giải phóng: Giải phóng thuốc theo tốc độ hằng định (bậc 0), duy trì nồng độ ổn định.
- Dạng hướng đích: Kết hợp ưu điểm trên, còn định hướng thuốc đến cơ quan cần thiết, tăng hiệu quả, giảm tác dụng phụ.
Hiện đã có nifedipine giải phóng chậm, prazosin giải phóng chậm (Yan-ning-ding), propranolol giải phóng chậm, nifedipine kiểm soát giải phóng, nicardipine giải phóng kéo dài.
Cách chọn thuốc hạ áp thế nào?
(1) Người già cao huyết áp chủ yếu tăng huyết áp tâm thu, nếu trên 80 tuổi thường không điều trị. Dưới 80 tuổi dùng chẹn canxi, ACEI. Loại này thể tích máu ít, thường không dùng lợi tiểu.
(2) Người già cao huyết áp chủ yếu tăng huyết áp tâm trương, kèm dư thừa thể tích, dễ chảy máu não, suy tim, dùng lợi tiểu, tránh chẹn β.
(3) Người già tăng cả tâm thu và tâm trương: dùng chẹn canxi, ACEI và lợi tiểu.
(4) Người già có nguy cơ suy tim tiềm tàng: dùng nimodipine (chẹn canxi) và lợi tiểu nhẹ (HCTZ) kèm bổ sung kali. Nếu huyết áp khó hạ, kết hợp chẹn canxi + ACEI + lợi tiểu.
(5) Người trẻ cao huyết áp kèm nhịp tim nhanh, cung lượng tim tăng, giao cảm hưng phấn: dùng chẹn β.
(6) Chẹn canxi ức chế co bóp cơ tử cung, ảnh hưởng chuyển dạ, không thích hợp cho phụ nữ sắp sinh, nhưng dùng được cho thai kỳ sớm.
(7) Chẹn β ảnh hưởng dung nạp đường, không tốt cho người tiểu đường.
(8) Hydralazine thích hợp cho cao huyết áp cấp do viêm thận, thai nghén kèm suy thận; kết hợp propranolol giảm nhịp tim nhanh.
(9) Bệnh Parkinson đang dùng levodopa, nếu dùng methyldopa sẽ làm nặng thêm Parkinson.
(10) Cao huyết áp kèm trầm cảm, không nên dùng cùng lúc thuốc hạ áp phối hợp (có reserpin) và doxepin (TCA), vì TCA gây tăng huyết áp, reserpin gây ức chế, hai tác động đối kháng nhau.
(11) Captopril không dùng cùng indomethacin, làm giảm tác dụng hạ áp và tăng kali máu.
Nói chung, bệnh nhân cao huyết áp khi dùng thuốc cần chú ý chọn thuốc, liều lượng, tránh phối hợp sai, tốt nhất dưới sự hướng dẫn của bác sĩ.
Bệnh nhân cao huyết áp nên dùng thuốc thế nào?
(1) Phải kiên trì dùng lâu dài, vì cao huyết áp là bệnh mạn tính. Huyết áp về bình thường nhờ thuốc không có nghĩa khỏi bệnh, ngừng thuốc sẽ tái tăng. Ngừng thuốc đột ngột gây “tái bật” huyết áp, nguy hiểm gây tai biến.
(2) Bắt đầu liều nhỏ, tăng dần. Nếu không hiệu quả, phối hợp thêm thuốc. Khi huyết áp ổn, duy trì 1-2 tháng rồi giảm dần đến liều duy trì thấp nhất, không ngừng hẳn.
(3) Không hạ huyết áp quá nhanh, quá thấp. Hạ nhanh gây thiếu máu não, tim, thận, nguy hiểm. Nên theo dõi huyết áp thường xuyên, điều chỉnh liều từ từ.
(4) Kết hợp liệu pháp không dùng thuốc (chế độ ăn, vận động, giảm cân, giảm muối) để tăng hiệu quả và giảm tác dụng phụ thuốc.
(5) Chú ý tác động lên chức năng tình dục. Một số thuốc như methyldopa, guanethidine, reserpin, prazosin, mecamylamine… ảnh hưởng tình dục. Nếu gặp vấn đề, nên báo bác sĩ để đổi thuốc.
Nói chung, dùng thuốc hạ áp phải lâu dài, hạ từ từ, phối hợp thuốc và không thuốc, giữ huyết áp ở mức ổn định, nâng cao chất lượng sống, giảm tổn thương cơ quan đích (tim, não, thận).
Đối với người cao tuổi, do đặc thù huyết động, bệnh lý mạch máu và phản ứng với thuốc khác so với người trẻ, điều trị phải đảm bảo hạ huyết áp đủ nhưng không làm thiếu máu não, tim, thận, vẫn giữ chất lượng sống tốt.
Thuốc hạ áp và người già:
- Lợi tiểu thiazid: Người già nhạy cảm, dùng liều nhỏ, tăng dần. Nhiều tác dụng phụ (hạ kali, hạ magiê, tăng đường máu, acid uric, creatinin, lipid máu), không nên dùng dài hạn, hoặc nếu có bệnh kèm như tiểu đường, phì đại tiền liệt tuyến, gút thì càng không nên.
- Chẹn β: Người già thường dung nạp tốt, nhưng tăng kháng ngoại vi, giảm tưới máu mô, giảm hiệu quả do receptor β kém nhạy, tăng triglycerid, giảm độ nhạy insulin, tăng trở kháng đường, tăng cản trở hô hấp.
- Prazosin (α-blocker): Ít tác dụng phụ, nhưng chú ý hạ huyết áp tư thế liều đầu. Có lợi cho tiền liệt tuyến phì đại, cải thiện chức năng tình dục.
- Chẹn kênh canxi: Nifedipine không gây quen thuốc, nhưng hạ áp nhanh, ngắn, cần uống nhiều lần trong ngày, dễ gây dao động huyết áp sáng – chiều, đau đầu, phù chân. Thế hệ 2, 3 (nicardipine, nisoldipine, amlodipine, isradipine…) có tác dụng dài, ít tác dụng phụ, chỉ cần 1-2 lần/ngày.
- ACEI (captopril…): Tăng nhạy insulin, có lợi cho suy tim, rối loạn nhịp, ít tác dụng phụ, đôi khi gây ho khan, ngưng thuốc ho sẽ hết.
Những thuốc hạ áp nào ảnh hưởng đến chức năng tình dục?
Chẹn β (propranolol, atenolol, metoprolol…), thuốc ức chế thần kinh giao cảm ngoại vi (reserpin, guanethidine…), lợi tiểu (thiazid, spironolactone…) đều có thể ảnh hưởng chức năng tình dục mức độ khác nhau. Nghiên cứu cho thấy: 9% do cao huyết áp bản thân, 26% do chẹn β, 13% do lợi tiểu, 30% do cao huyết áp kèm tiểu đường.
Ngoài yếu tố tâm lý, tổn thương mạch máu làm giảm dòng máu đến dương vật, gây rối loạn cương. Thuốc hạ áp giảm kháng ngoại vi, giảm dòng máu đến dương vật khi cương cần gấp 10 lần bình thường, dẫn đến bất lực. Dùng liều cao, lâu dài càng dễ.
Nếu bệnh nhân đã suy giảm tình dục, nên tránh thuốc hại thêm. Có thể chọn ACEI, chẹn kênh canxi, hoặc α-blocker (prazosin, terazosin…).
Nguyên tắc chọn thuốc hạ áp cho bệnh nhân cao huyết áp là gì?
- Cao huyết áp là bệnh mạn tính, cần dùng thuốc lâu dài, nên chọn thuốc hiệu quả, tác dụng nhẹ nhàng, ít tác dụng phụ, dễ dùng. Chẹn canxi (nifedipine, nimodipine), ACEI (captopril, enalapril…) giữ tưới máu cơ quan, ít ảnh hưởng chuyển hóa, tốt cho dùng lâu dài.
- Bắt đầu từ liều thấp, tăng dần, để đạt hiệu quả tối đa với tác dụng phụ tối thiểu.
- Dùng thuốc có thể gây hạ huyết áp tư thế, như prazosin, methyldopa…, cần nhắc nhở bệnh nhân đứng dậy chậm, nhất là ban đêm.
- Cao huyết áp giai đoạn 1, ít triệu chứng, có thể chỉ cần giảm cân, hạn chế muối, tăng vận động, không nhất thiết dùng thuốc. Giai đoạn 2 có thể dùng kết hợp liều nhỏ nhiều thuốc (lợi tiểu, reserpin, hoặc thêm ACEI…). Giai đoạn 3 cần thuốc mạnh hơn (nifedipine, minoxidil, guanethidine…).
- Kết hợp thuốc có lợi ích: tăng hiệu quả, giảm liều, giảm tác dụng phụ.
Tại sao bệnh nhân cao huyết áp không nên uống thuốc hạ áp ngay trước khi ngủ?
Một số người nghĩ uống thuốc trước ngủ giúp ngủ ngon, nhưng không đúng. Ngủ làm cơ thể nghỉ ngơi, chuyển hóa giảm, huyết áp tự giảm 20% sau 2 giờ ngủ. Nếu thêm thuốc hạ áp, 2 giờ sau thuốc đạt đỉnh, huyết áp giảm quá nhiều, máu chảy chậm, não thiếu máu, dễ hình thành cục huyết khối. Người già xơ vữa động mạch càng nguy hiểm, dễ tắc mạch não, gây đột quỵ thiếu máu não.
Ngoài ra, giảm huyết áp quá mức ban đêm còn gây thiếu máu cơ tim, gây đau thắt ngực, nhồi máu. Do đó, bệnh nhân cao huyết áp, nhất là có bệnh não, tim, tránh uống thuốc ngay trước ngủ. Nên uống liều cuối cùng trước giờ ngủ 3-4 tiếng.
Trường Xuân dịch |