Tài liệu tham khảo:
Tăng huyết áp ở người cao tuổi là gì, đặc điểm của bệnh là gì và nguyên nhân là gì?
Tăng huyết áp ở người cao tuổi là những người trên 65 tuổi và có giá trị huyết áp vượt quá tiêu chuẩn chẩn đoán huyết áp liên tục hoặc vượt quá 3 lần trong nhiều ngày, tức là huyết áp tâm thu ≥21,3kPa (160mmHg) và/hoặc huyết áp tâm trương ≥12,6kPa (95mmHg). Trong những năm gần đây, nghiên cứu về tăng huyết áp ở người cao tuổi đã có những tiến bộ vượt bậc và người ta cho rằng bệnh này có những đặc điểm chính sau:
(1) Có sự chênh lệch lớn giữa huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương. Mọi cơ quan của người cao tuổi đều trải qua những thay đổi thoái hóa, đặc biệt là hệ thống tim mạch, nơi xơ vữa động mạch rất rõ ràng và các động mạch trở nên gần như không đàn hồi. Khi tim tống máu, động mạch chủ không thể giãn nở hoàn toàn, lượng máu tăng đột ngột trong động mạch không được đệm, dẫn đến huyết áp tâm thu tăng trong khi huyết áp tâm trương tương đối thấp, làm tăng chênh lệch áp lực mạch.
(2) Huyết áp thay đổi rất nhiều. Biểu hiện là tăng lên khi hoạt động và giảm xuống khi nghỉ ngơi. Cao hơn vào mùa đông và thấp hơn vào mùa hè. Huyết áp càng cao thì sự biến động theo mùa càng rõ ràng. Có những biến động lớn trong vòng 24 giờ và trong thời gian dài hơn, và hạ huyết áp tư thế đứng dễ xảy ra. Điều này liên quan đến sự giảm độ nhạy của các thụ thể áp suất trong việc điều hòa huyết áp ở người cao tuổi.
(3) Nhiều biến chứng và bệnh đi kèm. Người cao tuổi có chức năng sinh lý suy giảm nên dễ mắc các biến chứng về tim, não, thận sau khi bị tăng huyết áp như đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, đột quỵ, suy thận. Lúc này, cần đặc biệt chú ý không sử dụng các loại thuốc làm nặng thêm các bệnh đi kèm.
(4) Tăng huyết áp ác tính là hiếm gặp. Phần lớn tình trạng tăng huyết áp ở người cao tuổi là tăng huyết áp lành tính, còn tăng huyết áp ác tính cực kỳ hiếm gặp. Bệnh có đặc điểm là khởi phát chậm và tiến triển chậm, có triệu chứng không điển hình hoặc không có triệu chứng rõ ràng. Bệnh thường được phát hiện khi khám sức khỏe hoặc khi có biến chứng từ bệnh mạch máu não.
Tỷ lệ mắc bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi rất cao, chiếm khoảng 50%, phần lớn là tăng huyết áp tâm thu đơn độc. Những nguyên nhân phổ biến bao gồm:
(1) Người cao tuổi thích ăn những thực phẩm có nhiều natri vì vị giác của họ bị suy giảm.
(2) Tích tụ mỡ bụng và béo phì trung tâm ở người cao tuổi dễ bị tăng huyết áp.
(3) Người cao tuổi bị kháng insulin và tăng insulin thứ phát.
(4) Hoạt động thần kinh giao cảm của người cao tuổi cao, nồng độ adrenaline trong máu cao nhưng không dễ đào thải.
(5) Độ đàn hồi của mạch máu ở người cao tuổi giảm, nội mạc mạch máu dày lên, thường kèm theo xơ vữa động mạch, là nguyên nhân chính gây tăng huyết áp tâm thu ở người cao tuổi.
(6) Khả năng bài tiết natri của thận giảm ở người cao tuổi.
Làm thế nào để điều trị tăng huyết áp ở người cao tuổi?
Tốc độ chuyển hóa và thanh thải thuốc ở người cao tuổi thấp, thuốc dễ gây ra tác dụng phụ. Vì vậy, bệnh nhân cao tuổi bị tăng huyết áp nên chú trọng đến các biện pháp điều trị không dùng thuốc. Nếu người cao tuổi bị béo phì hoặc tiểu đường, họ nên hạn chế lượng calo để giữ cân nặng ở mức phù hợp. Chế độ ăn uống nên giảm tổng lượng calo và nhấn mạnh vào chế độ ăn ít muối, ít chất béo. Lượng muối natri nên được giới hạn dưới 5 gam mỗi ngày và lượng carbohydrate nên hạn chế. Đồng thời cần chú ý bổ sung kali và canxi. Tăng cường protein hợp lý, đặc biệt là tăng cường sữa, đậu, cá biển, rong biển và thực phẩm giàu chất xơ, tăng cường vận động cần thiết và luyện tập thể dục thể thao hợp lý, hạn chế rượu bia, cai thuốc lá, khám sức khỏe định kỳ để phát hiện và phòng ngừa sớm các bệnh liên quan.
Khi nói đến phương pháp điều trị bằng thuốc cho bệnh nhân cao tuổi bị tăng huyết áp, thuốc chẹn kênh canxi là lựa chọn đầu tiên, chẳng hạn như nifedipine và verapamil, có thể làm giảm hiệu quả huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương. Nifedipine có tác dụng mạnh hơn và phù hợp với những người có huyết áp cao. Verapamil được sử dụng để điều trị tăng huyết áp nhẹ ở người cao tuổi. Tuy nhiên, thuốc này có tác dụng ức chế chức năng nút xoang nhĩ và dẫn truyền nhĩ thất, do đó cần thận trọng khi sử dụng thuốc này nếu có tình trạng loạn nhịp tim. Trong những năm gần đây, một thế hệ thuốc chẹn kênh canxi mới đã bắt đầu xuất hiện và được sử dụng để điều trị tăng huyết áp, chẳng hạn như amlodipine (Lovasc) và felodipine. Những loại thuốc này có tác dụng kéo dài và có thể hạ huyết áp trong 24 giờ. Những ưu điểm này phù hợp với đặc tính dung nạp của người cao tuổi nên thích hợp để điều trị tăng huyết áp ở người cao tuổi.
Thuốc lợi tiểu thiazid như hydrochlorothiazid có tác dụng hạ huyết áp tốt và cũng có thể dùng, nhưng liều lượng phải nhỏ và chú ý bổ sung kali để tránh gây rối loạn nước và điện giải.
Có thể sử dụng thuốc ức chế men chuyển như captopril, enalapril và các thuốc ức chế men chuyển thế hệ mới như Avonda, Lotensin có tác dụng điều trị tăng huyết áp ở người cao tuổi tốt và không có tác dụng phụ.
Các loại thuốc nêu trên có thể dùng riêng lẻ hoặc kết hợp. Nói chung, nếu sức cản ngoại vi lớn và huyết áp cao thì có thể dùng nifedipine; nimodipine có thể được sử dụng cho những người bị suy tim. Thuốc lợi tiểu như hydrochlorothiazide có tác dụng nhẹ hơn và phù hợp với bệnh nhân tăng huyết áp nhẹ đến trung bình; Đối với những người có huyết áp cứng đầu hơn, có thể sử dụng kết hợp thuốc chẹn kênh canxi, thuốc ức chế men chuyển và thuốc lợi tiểu.
Thuốc chẹn beta không nên dùng cho bệnh nhân cao tuổi bị tăng huyết áp có nguy cơ tổn thương nút xoang (như hội chứng nút xoang bệnh lý), suy thất trái và bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính. Thuốc chẹn hạch giao cảm như methyldopa, clonidine và chloramphenicol có hiệu quả trong điều trị tăng huyết áp ở người cao tuổi, nhưng chúng dễ gây ra biến động huyết áp và giảm huyết áp đột ngột nên thường không thích hợp để sử dụng. Chúng chỉ phù hợp với tình trạng tăng huyết áp từ trung bình đến nặng khi các thuốc chống tăng huyết áp khác không có hiệu quả. Các loại thuốc như guanazosin, guanethidine và salicylate dễ gây hạ huyết áp tư thế đứng và do đó bị hạn chế sử dụng. Hydrazine và chlorpromazine thường không phù hợp với người cao tuổi bị tăng huyết áp. Bởi vì những loại thuốc này có khả năng gây nhịp tim nhanh và làm tăng gánh nặng cho tim. Reserpine có thể gây ra hoặc làm trầm trọng thêm bệnh trầm cảm ở người cao tuổi và không được khuyến cáo sử dụng.
Ngoài ra, trong quá trình điều trị tăng huyết áp ở người cao tuổi cần lưu ý những điểm sau:
① Người cao tuổi thường kèm theo xơ cứng động mạch thận và suy giảm chức năng thận ở nhiều mức độ khác nhau, vì vậy liều dùng phải nhỏ, thường được kiểm soát ở mức khoảng 1/2 đến 2/3 lượng thông thường, để tránh tích tụ thuốc hoặc độc tính và tác dụng phụ.
② Người cao tuổi bị tăng huyết áp thường bị xơ vữa động mạch toàn thân. Do đó, tránh tình trạng huyết áp giảm đột ngột và huyết áp dao động lớn. Tốt nhất nên kiểm soát huyết áp tâm thu ở mức 21,3 kPa (16mmHg) và huyết áp tâm trương ở mức 12,0-13,3 kPa (9~10 mmHg)để tránh tình trạng cung cấp máu không đủ cho các cơ quan quan trọng như tim, não, thận do huyết áp quá thấp.
③Chức năng điều hòa huyết áp của người cao tuổi kém, nên cố gắng tránh sử dụng thuốc chẹn hạch giao cảm để phòng ngừa tình trạng hạ huyết áp tư thế đứng.
④ Tránh sử dụng thuốc lợi tiểu quai mạnh để tránh mất cân bằng nước và điện giải.
⑤ Khả năng co bóp cơ tim và chức năng nút xoang nhĩ của người cao tuổi kém, nên tránh dùng riêng các thuốc hạ huyết áp ức chế co bóp cơ tim, ảnh hưởng đến hệ dẫn truyền tim.
⑥ Giảm cân không thực sự quan trọng trong điều trị tăng huyết áp ở người cao tuổi. Trên thực tế, số người béo phì mắc bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi tương đối ít hơn so với thanh thiếu niên.
⑦ Việc hạn chế muối natri nên được thực hiện dần dần, vì sau khi hạn chế muối, khẩu vị của người cao tuổi sẽ thay đổi, ảnh hưởng đến cảm giác thèm ăn, gây hại cho sức khỏe.
⑧ Khuyến khích bệnh nhân cao tuổi bị tăng huyết áp tập thể dục thường xuyên rất có lợi cho việc cải thiện chất lượng cuộc sống của họ.
⑨ Việc hạn chế hút thuốc lá ở người cao tuổi không nên quá nghiêm ngặt, cũng không nên quá chú trọng vào việc thay đổi những thói quen đã hình thành trong nhiều năm, tránh ảnh hưởng đến tâm trạng của họ, gây bất lợi cho việc điều trị tăng huyết áp.
⑩ Khi điều trị tăng huyết áp ở người cao tuổi, cũng cần chú ý đến tác động của các yếu tố khác đối với người cao tuổi. Những thay đổi như cái chết của người thân, địa vị xã hội và tình hình kinh tế cá nhân đều sẽ tác động đến suy nghĩ và hành vi của người cao tuổi. Cảm xúc của người cao tuổi rất dễ thay đổi, đây là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến huyết áp. Ví dụ, sau khi nghỉ hưu, người cao tuổi thường có cảm giác “vô dụng” hoặc “bị xã hội bỏ rơi”, điều này luôn khiến họ bối rối và làm trầm trọng thêm sự bi quan của họ. Do đó, khi điều trị tăng huyết áp ở người cao tuổi, cần giảm thiểu tối đa hoặc loại bỏ các yếu tố gây biến động huyết áp như lo lắng, tức giận. Và tạo dựng, thiết lập môi trường, chế độ nghỉ ngơi phù hợp cho người cao tuổi, tham gia một số hoạt động xã hội, thể thao phù hợp với khả năng của mình. Điều này không chỉ có lợi cho việc điều trị tăng huyết áp mà còn giúp cuộc sống về già trọn vẹn hơn và kéo dài tuổi thọ.
Tại sao người cao tuổi nên bắt đầu dùng thuốc hạ huyết áp với liều lượng nhỏ?
Người cao tuổi chuyển hóa thuốc chậm hơn vì lưu lượng máu đến thận giảm dần theo tuổi tác. Theo thống kê, lưu lượng máu tới thận giảm 10% sau mỗi 10 năm kể từ khi trưởng thành. Lưu lượng máu tới thận giảm làm giảm khả năng đào thải thuốc của thận. Khi dùng cùng một liều thuốc cho người già và người trẻ, người già sẽ có nồng độ thuốc trong máu cao hơn do tốc độ thanh thải qua thận thấp hơn. Ngược lại, khi người cao tuổi bị tăng huyết áp thường kèm theo tình trạng xơ vữa động mạch thận, xơ hóa, làm giảm tốc độ lọc cầu thận, ảnh hưởng đáng kể đến khả năng thanh thải thuốc của thận. Trước hai lý do trên, các chuyên gia y tế nhấn mạnh, bệnh nhân cao tuổi mắc bệnh tăng huyết áp nên bắt đầu sử dụng thuốc hạ huyết áp với liều lượng nhỏ. Điều này không chỉ tránh được tình trạng tích tụ thuốc trong cơ thể mà còn tránh được tình trạng hạ huyết áp do huyết áp giảm quá nhanh.
Tương tự như vậy, khi việc điều trị có hiệu quả và cần giảm liều thuốc, nên giảm dần liều bắt đầu từ liều nhỏ. Nguyên nhân là do tăng huyết áp ở người cao tuổi là một căn bệnh mãn tính. Nếu giảm liều đột ngột, có thể gây tăng huyết áp trở lại, dẫn đến hội chứng cai thuốc như đau đầu, chóng mặt và kích thích thần kinh giao cảm. Trong những trường hợp nghiêm trọng, nó thậm chí có thể dẫn đến bệnh não do tăng huyết áp và đột quỵ.
Tại sao không nên vội vàng hạ huyết áp ở người cao tuổi bị đột quỵ não cấp?
Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ chính gây đột quỵ cấp tính. Theo thống kê, trong số các trường hợp đột quỵ, 76,5% có tiền sử tăng huyết áp, nguy cơ đột quỵ ở bệnh nhân tăng huyết áp cao gấp 6 lần so với người có huyết áp bình thường. Sự xuất hiện và tiên lượng của đột quỵ có liên quan chặt chẽ đến mức độ và thời gian mắc bệnh tăng huyết áp.
Đối với những bệnh nhân bị đột quỵ cấp kèm theo tăng huyết áp, quan điểm truyền thống là phải ngay lập tức cho họ dùng thuốc hạ huyết áp để nhanh chóng đưa huyết áp trở lại mức bình thường, nhưng y học hiện đại không khuyến khích điều này.
Một số học giả chỉ ra rằng, ngoài tình trạng tăng huyết áp vốn có, tình trạng tăng huyết áp ở bệnh nhân cao tuổi bị đột quỵ não cấp phần lớn là do yếu tố phản xạ, đây là phản ứng bù trừ của cơ thể nhằm đảm bảo tưới máu não hiệu quả. Bởi vì ở giai đoạn cấp của đột quỵ, dù là xuất huyết não hay nhồi máu não, rối loạn tuần hoàn máu tại chỗ sẽ gây phù não, dẫn đến tăng áp lực nội sọ. Để duy trì nguồn cung cấp máu hiệu quả cho não, cơ thể chỉ có thể làm như vậy bằng cách tăng huyết áp. Nếu huyết áp bị hạ quá sớm và đột ngột trong giai đoạn cấp tính của đột quỵ, chắc chắn lượng máu cung cấp cho mô não bị bệnh sẽ giảm, làm mở rộng phạm vi chảy máu hoặc nhồi máu và làm tình trạng bệnh trầm trọng hơn.
Nói chung, tăng huyết áp phản xạ sẽ tự động giảm huyết áp trong vòng vài ngày sau khi áp lực nội sọ được giảm bằng cách sử dụng các thuốc mất nước như furosemid và mannitol. Do đó, đối với bệnh nhân cao tuổi bị đột quỵ cấp, nếu không mắc bệnh tim mạch vành nghiêm trọng, suy tim, cơn tăng huyết áp và các triệu chứng khác, có thể duy trì huyết áp ở mức 29,3/14,4 kPa (220/100 mmHg) trong vài ngày đầu mà không cần điều trị thuốc chống tăng huyết áp tích cực. Tuy nhiên, nếu huyết áp cao hơn 29,3/14,4kPa (220/100mmHg) và xảy ra bệnh não tăng huyết áp hoặc suy tim ban đầu hoặc bệnh tim mạch vành trở nên trầm trọng hơn, có thể áp dụng biện pháp điều trị chống tăng huyết áp phù hợp. Tiêu chuẩn để giảm huyết áp là kiểm soát huyết áp tâm thu trong khoảng 21,3-24/kPa (160-180 mm Hg). Cần lưu ý khi lựa chọn thuốc, cần thận trọng khi sử dụng thuốc chẹn kênh calci, natri nitroprusside, hydralazine… vì các thuốc trên có thể làm giãn mạch máu não, tăng áp lực nội sọ, giảm tưới máu não, làm trầm trọng thêm phù não và tổn thương tế bào thần kinh. Có thể sử dụng thuốc ức chế men chuyển thrombin và thuốc chẹn beta để hạ huyết áp ở mức độ vừa phải.
Người cao tuổi bị tăng huyết áp nên dùng thuốc hạ huyết áp vào thời điểm nào là tốt nhất?
Dưới tác động của đồng hồ sinh học của cơ thể con người, huyết áp cũng thay đổi trong vòng 24 giờ. Thông thường, huyết áp tiếp tục tăng sau khi thức dậy vào sáng sớm, đạt đỉnh điểm vào khoảng 8 đến 10 giờ sáng, sau đó giảm dần, có dao động nhẹ từ 3 đến 6 giờ chiều. Sau khi ngủ, phần lớn cơ thể ở trạng thái nghỉ ngơi, quá trình trao đổi chất chậm lại và huyết áp cũng giảm theo. Huyết áp thấp nhất từ nửa đêm đến trước khi thức dậy, lưu lượng máu chậm và mô não không được cung cấp đủ máu. Một số chất đông máu trong máu, chẳng hạn như tiểu cầu và fibrinogen, cũng rất dễ bám vào nội mạc mạch máu và kết tụ thành cục máu đông. Đặc biệt ở người cao tuổi bị xơ vữa động mạch, nội mạc mạch máu thô ráp, dễ hình thành cục huyết khối, làm tắc nghẽn mạch máu não và gây nhồi máu não. Do đó, nhồi máu não thường xảy ra vào sáng sớm. Từ đó, không khó để thấy rằng phương pháp truyền thống uống thuốc hạ huyết áp 3 lần/ngày là không hoàn toàn hợp lý, uống thuốc hạ huyết áp vào buổi tối, nhất là trước khi đi ngủ càng nguy hiểm hơn. Nếu bạn có thể chọn đúng thời điểm uống thuốc thì sẽ tăng cường được tác dụng của thuốc. Ngược lại, nếu không chú ý đến các yếu tố như liều lượng và thời điểm dùng thuốc, có thể gây ra những rắc rối không đáng có cho người bệnh.
Hai năm trước, các nhà nghiên cứu Nhật Bản đã chỉ rõ rằng người cao tuổi bị tăng huyết áp cần phải uống thuốc vào ban ngày. Ở nước tôi, một số người cũng đã tiến hành quan sát lâm sàng, so sánh hiệu quả của liều propranolol đầy đủ hàng ngày bằng hai phương pháp dùng thuốc khác nhau: dùng ba lần một ngày và dùng một lần vào buổi sáng. Kết quả cho thấy, hai phương pháp này có tác dụng hạ huyết áp như nhau, điều này chứng tỏ phương pháp dùng thuốc một lần mỗi ngày vào sáng sớm cũng có thể đạt được hiệu quả điều trị tốt, các phản ứng có hại như chóng mặt, ác mộng, mệt mỏi… ít gặp hơn. Những người khác dùng nicardipine cho những bệnh nhân bị tăng huyết áp. Một nhóm uống một viên (10 mg) ba lần một ngày theo phương pháp truyền thống. Kết quả là, huyết áp giảm vào mọi thời điểm trong ngày và đêm, nhưng giai đoạn của chu kỳ 24 giờ về cơ bản vẫn giống như khi không dùng thuốc. Một nhóm khác áp dụng phương pháp thử nghiệm, tức là uống 2 viên (20 mg) một lần sau khi thức dậy vào sáng sớm và thấy rằng huyết áp thay đổi theo chu kỳ trong vòng 24 giờ. Sau khi thức dậy vào buổi sáng, huyết áp tương đối ổn định, xu hướng tăng trong ngày được kiểm soát, tình trạng giảm vào ban đêm không rõ ràng. Điều này không chỉ có thể kiểm soát hiệu quả huyết áp và giảm các biến chứng nghiêm trọng như xuất huyết não mà còn tránh được tình trạng huyết áp giảm đáng kể vào ban đêm khi ngủ. Về mặt lý thuyết, nó có thể đạt được mục tiêu làm giảm tỷ lệ nhồi máu não vào thời điểm cao điểm vào sáng sớm.
Từ đó có thể thấy rằng, đối với bệnh nhân tăng huyết áp, uống thuốc một lần vào buổi sáng sẽ tốt hơn so với phương pháp truyền thống là uống thuốc ba lần một ngày. Nó cũng có thể giảm bớt gánh nặng phải uống thuốc nhiều lần, tránh quên liều và tạo điều kiện cho việc điều trị lâu dài. Tất nhiên, thời gian tăng huyết áp được đề cập ở trên không phải là tuyệt đối. Mỗi bệnh nhân tăng huyết áp nên tìm thời điểm uống thuốc tốt nhất dựa trên việc theo dõi và điều trị huyết áp của bản thân, để đạt được hiệu quả “hiệu quả gấp đôi chỉ bằng một nửa công sức”.
Bệnh nhân cao tuổi bị tăng huyết áp chăm sóc bản thân như thế nào?
Người cao tuổi bị tăng huyết áp cần chú ý tự chăm sóc bản thân. Nhìn chung, bạn nên mang theo máy đo huyết áp riêng để có thể kiểm tra huyết áp thường xuyên và điều chỉnh liều lượng thuốc kịp thời nhằm duy trì huyết áp ở mức phù hợp nhất. Duy trì thói quen sinh hoạt đều đặn và đảm bảo ngủ đủ giấc. Chế độ ăn nên nhẹ nhàng, không quá nặng mùi và nên ăn nhiều rau và trái cây tươi. Và bạn nên chú ý kiểm soát cảm xúc của mình, giữ tâm trạng lạc quan, vui vẻ, tránh kích thích tinh thần. Bạn cũng cần phải bỏ thuốc lá và rượu bia. Vào mùa đông, cần chú ý giữ ấm, tránh kích thích lạnh, tránh đi ngược gió, không nên đi vệ sinh ngoài trời vào ban đêm hoặc ngồi xổm lâu để đại tiện. Về điều trị bằng thuốc, nên dùng thuốc hạ huyết áp nhẹ với liều lượng nhỏ. Huyết áp nên được duy trì ở mức khoảng 21,0/12,0 kPa (160/90 mmHg). Bởi vì thuốc hạ huyết áp có tác dụng quá mạnh có thể gây tụt huyết áp đột ngột, dễ dẫn đến thiếu máu cục bộ các cơ quan quan trọng và hạ huyết áp tư thế, gây khó chịu cho người bệnh, thậm chí là huyết khối não và nhồi máu cơ tim. Hiện nay, người ta thường cho rằng bệnh nhân cao tuổi bị tăng huyết áp nên dùng thuốc chẹn kênh canxi như nitroglycerin, nicardipine, nimodipine… có tác dụng tăng lưu lượng máu đến các cơ quan quan trọng như tim, não, cải thiện chức năng tim, não và thận.
Những điều kiêng kỵ trong cuộc sống hàng ngày của bệnh nhân cao tuổi mắc bệnh tăng huyết áp là gì?
(1) Tránh kích động về mặt cảm xúc. Nghiên cứu y học hiện đại đã chỉ ra rằng, mọi kích thích tiêu cực như lo lắng, buồn phiền, bồn chồn, lo âu, cũng như căng thẳng tinh thần, mệt mỏi đều có thể kích thích dây thần kinh giao cảm và làm tăng các chất hoạt mạch như catecholamine trong mạch máu, gây co mạch toàn thân, nhịp tim tăng nhanh, huyết áp tăng, thậm chí xuất huyết não. Cũ0000000 Người bệnh tăng huyết áp cần chú ý kiểm soát cảm xúc, luôn vui vẻ, ổn định tinh thần, tránh vui mừng, tức giận quá mức.
(2) Tránh mệt mỏi quá mức. Mệt mỏi quá mức có thể làm trầm trọng thêm các bệnh như tăng huyết áp và bệnh tim mạch vành. Bệnh nhân cao huyết áp cao tuổi thường có thể lực kém và sức đề kháng yếu. Vì vậy, họ nên sắp xếp cuộc sống một cách khoa học để đảm bảo cân bằng giữa công việc và nghỉ ngơi, tránh làm tình trạng bệnh trầm trọng hơn do mệt mỏi quá mức từ các hoạt động giải trí, việc nhà hay đi lại.
(3) Tránh ăn quá nhiều. Chức năng tiêu hóa của người cao tuổi bị suy giảm. Ăn quá nhiều dễ gây ra chứng khó tiêu, viêm tụy cấp, viêm dạ dày ruột và các bệnh khác. Đồng thời, ăn quá nhiều có thể khiến cơ hoành di chuyển lên trên, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của tim và phổi. Ngoài ra, quá trình tiêu hóa thức ăn đòi hỏi một lượng lớn máu phải tập trung ở đường tiêu hóa, làm giảm lượng máu cung cấp cho tim và não, gây ra đột quỵ.
(4) Tránh uống quá nhiều rượu. Uống quá nhiều rượu, đặc biệt là rượu mạnh, có thể làm tăng huyết áp. Ngoài ra, người cao tuổi khả năng giải độc gan kém, dễ gây xơ gan, bệnh cơ tim, niêm mạc dạ dày teo lại dễ gây viêm, chảy máu nên không nên uống quá nhiều.
(5) Tránh làm huyết áp giảm đột ngột. Huyết áp động mạch của cơ thể là động lực thúc đẩy máu chảy đến các mô và cơ quan khác nhau. Việc đảm bảo lưu lượng máu cần thiết cho các mô và cơ quan khác nhau có ý nghĩa rất quan trọng. Tuy nhiên, nếu huyết áp giảm đột ngột, lượng máu cung cấp cho các mô và cơ quan trong cơ thể sẽ không đủ, đặc biệt là các cơ quan quan trọng như não, tim, gan, thận. Rối loạn chức năng có thể xảy ra do thiếu máu cục bộ và thiếu oxy, thậm chí có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng. Nếu mô não không được cung cấp đủ máu, nó sẽ gây ra tình trạng chóng mặt và hôn mê, được gọi là tổn thương não do thiếu máu cục bộ. Nếu cơ tim không được cung cấp đủ máu sẽ gây ra tình trạng đau thắt ngực, tổn thương cơ tim và trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến nhồi máu cơ tim.
(6) Tránh táo bón. Nếu bị táo bón, bạn sẽ phải nín thở và rặn khi đi đại tiện, điều này sẽ khiến huyết áp tăng đột ngột. Khi bạn thư giãn, huyết áp của bạn sẽ giảm nhanh chóng. Điều này đặc biệt đúng khi bạn đi đại tiện ở tư thế ngồi xổm. Điều này có thể gây ra sự thay đổi lớn, có thể dẫn đến xuất huyết não và nhồi máu cơ tim khi đi đại tiện. Vì vậy, bạn nên giữ cho ruột của mình mở vào những thời điểm bình thường.
Những định kiến nào còn tồn tại về bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi?
Gần đây, Tạp chí Y khoa Bắc Mỹ đã đưa tin rằng sau đây là một số định kiến phổ biến nhất mà mọi người thường có về bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi.
(1) “Người lớn tuổi có huyết áp cao hơn người trẻ tuổi là điều bình thường.” Nhìn chung, huyết áp của người cao tuổi cao hơn người trẻ tuổi nên có công thức tính như sau: huyết áp tâm thu bình thường = 100 + tuổi. Nhưng điều này không thể nói chắc chắn được. Huyết áp của những người lao động chân tay suốt đời, những người có thân hình gầy hoặc những người ăn chế độ ít muối, nhiều kali sẽ không tăng theo tuổi tác. Do đó, người ở mọi lứa tuổi có huyết áp tâm thu ≥140mmHg và huyết áp tâm trương ≥90mmHg không thể được coi là có huyết áp bình thường.
(2) “Tăng huyết áp ở người cao tuổi không cần phải điều trị vì tiên lượng của họ không kém như ở người trẻ tuổi.” Trên thực tế, điều này không đúng. Các nghiên cứu gần đây cho thấy, tỷ lệ tử vong do biến chứng tim mạch ở nhóm tuổi 65-74 cao gấp 4,3 lần so với nhóm có huyết áp 149-160/90-95 mmHg và ở nhóm có huyết áp ≥160/90 mmHg cao gấp 8 lần so với nhóm có huyết áp bình thường. Hơn nữa, nguy cơ của tăng huyết áp tâm thu đơn độc và tăng huyết áp tâm trương gần như giống nhau.
(3) “Tăng huyết áp ở người cao tuổi nói chung không cần điều trị. Huyết áp giảm sau khi điều trị có thể gây ra tác dụng có hại như tưới máu không đủ cho các cơ quan quan trọng.” Quan điểm này chưa đầy đủ. Việc hạ huyết áp đột ngột quá mức ở những bệnh nhân bị tăng huyết áp lâu năm thực sự có thể dẫn đến tăng tỷ lệ tử vong, chủ yếu liên quan đến việc giảm lưu lượng máu lên não. Tuy nhiên, nếu kiểm soát đúng cách, hạ huyết áp từ từ và đều đặn, không chỉ cơ chế điều hòa tự động lưu lượng máu não được phục hồi dần mà còn giảm được mức tiêu thụ oxy của cơ tim, từ đó làm giảm cơn đau thắt ngực.
(4) “Chưa có bằng chứng chứng minh việc hạ huyết áp ở người cao tuổi có thể làm giảm nguy cơ biến chứng tim mạch.” Câu tuyên bố này chỉ đúng một nửa. Việc hạ huyết áp tâm thu ở người cao tuổi không ảnh hưởng đến nguy cơ biến chứng tim mạch, nhưng huyết áp tâm trương thì không. Gần đây, một quan sát tại Hoa Kỳ cho thấy sau khi điều trị, tỷ lệ tử vong của 2.376 người cao tuổi có huyết áp tâm trương > 90 mmHg (60-69 tuổi) giảm 16,4% và tỷ lệ đột quỵ giảm 45,5% so với nhóm chứng.
(5) “Người lớn tuổi ít dung nạp thuốc hạ huyết áp hơn người trẻ tuổi.” Đây hoàn toàn là định kiến. Theo báo cáo quan sát 5 năm tại Hoa Kỳ, trong số những bệnh nhân tăng huyết áp ở mọi nhóm tuổi, tỷ lệ những người ngừng thuốc do tác dụng phụ thấp nhất ở nhóm tuổi 60-69, chỉ ở mức 24,8%, trong khi tỷ lệ này là 38% ở nhóm tuổi 50-59, 36,8% ở nhóm tuổi 40-49 và 34% ở nhóm tuổi 30-39.
(6) “Người lớn tuổi không có khả năng uống thuốc đều đặn như người trẻ tuổi.” Lý do chính cho quan điểm này là nhiều người cao tuổi mắc các chứng rối loạn tâm thần, hay quên, v.v. Nhưng thực tế cho thấy hầu hết người cao tuổi cũng quan tâm đến sức khỏe của mình như những người trẻ tuổi. 80% nhóm tuổi 60-69 có thể uống thuốc đều đặn, trong khi tỷ lệ tuân thủ của nhóm tuổi 50-59 và nhóm tuổi 30-49 chỉ là 75%.
(7) “Thuốc lợi tiểu không nên được sử dụng như là thuốc lựa chọn đầu tiên để điều trị tăng huyết áp ở người cao tuổi.” Điều này áp dụng cho người cao tuổi bị tăng huyết áp tâm trương, nhưng việc sử dụng thuốc hạ huyết áp ở người cao tuổi bị tăng huyết áp tâm thu sẽ không làm giảm thể tích máu và cung lượng tim vì thuốc làm giảm huyết áp bằng cách giảm tổng sức cản mạch máu.
Bệnh nhân cao tuổi bị tăng huyết áp chăm sóc bản thân như thế nào?
Tăng huyết áp là căn bệnh thường gặp ở người cao tuổi, dễ dẫn đến các biến chứng như tai biến mạch máu não, bệnh mạch vành, nhồi máu cơ tim, suy thận, đe dọa tính mạng. Vì vậy, bệnh nhân cao tuổi bị tăng huyết áp không được coi thường. Trong khi đang tích cực điều trị, họ cũng phải chú ý đến việc tự chăm sóc bản thân.
(1) Giữ cho cảm xúc của bạn ổn định. Y học cổ truyền Trung Quốc từ lâu đã coi “bảy cảm xúc” (vui, giận, lo, nghĩ, buồn, sợ và sốc) là nguyên nhân bên trong gây ra bệnh tật, và có câu nói rằng “Bách bệnh sinh vu khí” (百病生于气) mọi bệnh tật đều do khí gây ra. Nghiên cứu y học hiện đại cũng chứng minh rằng cảm xúc tiêu cực có thể làm tăng nhịp tim và huyết áp. Do đó, người bệnh cao tuổi mắc bệnh tăng huyết áp nên chú ý kiểm soát cảm xúc, giữ đầu óc minh mẫn, bình tĩnh đối mặt, vun đắp sở thích, thú vui riêng, biết tận hưởng cuộc sống. Điều này sẽ có lợi cho quá trình điều hòa thần kinh nội tiết, duy trì chức năng co bóp và thư giãn mạch máu ở trạng thái tốt nhất, huyết áp sẽ tự nhiên giảm xuống và ổn định.
(2) Chế độ ăn uống phải hợp lý. Người cao tuổi bị tăng huyết áp cần chú ý nguyên tắc ít muối, ít chất béo, nhiều protein khi lựa chọn thực phẩm. Lượng muối tiêu thụ hàng ngày không nên vượt quá 10 gam, tốt nhất là dưới 5 gam. Chủ yếu sử dụng các loại dầu thực vật như dầu lạc, dầu hạt cải, dầu đậu nành… và hạn chế tối đa lượng mỡ động vật và cholesterol. Điều này không chỉ giúp ngăn ngừa xơ vữa động mạch mà còn giúp kiểm soát huyết áp. Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu protein của cơ thể, ngoài protein từ ngũ cốc, sữa, thịt nạc, cá và các thực phẩm khác cũng cần được bổ sung. Đồng thời, cần cung cấp đủ rau xanh, trái cây để bổ sung vitamin và điều hòa cân bằng điện giải trong cơ thể.
(3) Mặc quần áo rộng rãi. Nếu thắt cà vạt quá chặt, nó sẽ chèn ép xoang cảnh và gây ra biến động huyết áp. Nếu thắt đai quá chặt, khoang bụng sẽ bị chèn ép, máu trong khoang bụng sẽ dồn về tim, não và các cơ quan khác, làm tăng huyết áp. Vì vậy, quần áo của bệnh nhân cao huyết áp cao tuổi không nên quá chật mà nên mềm mại và rộng rãi. Vào mùa đông, tốt nhất nên mặc quần áo bằng vải lụa cotton, quần áo bằng len lạc đà,… vừa nhẹ vừa ấm.
(4) Hoạt động phải phù hợp. Lao động chân tay và tập thể dục quá mức, làm việc và học tập cường độ cao, đặc biệt là công việc trí óc kéo dài có thể làm tăng huyết áp và làm tình trạng bệnh trở nên trầm trọng hơn. Vì vậy, chúng ta nên sắp xếp cuộc sống khoa học, có thời gian biểu đều đặn, sinh hoạt hợp lý, kết hợp làm việc và nghỉ ngơi để tránh tình trạng bệnh trở nên trầm trọng hơn do mệt mỏi quá mức từ các hoạt động văn hóa, giải trí, việc nhà, vận động cơ thể hay đi du lịch. Bạn nên ngủ đủ giấc từ 8 đến 9 tiếng mỗi ngày. Đồng thời, hãy ngâm chân trong nước nóng từ 20 đến 30 phút mỗi tối trước khi đi ngủ. Sau khi rửa sạch, xoa bóp huyệt Dũng Tuyền, Túc Tam Lý và các huyệt đạo khác. Điều này có thể giúp tăng cường sức khỏe và giảm huyết áp.
(5) Uống thuốc đều đặn. Khi được chẩn đoán mắc bệnh tăng huyết áp, bạn nên dùng thuốc hạ huyết áp theo chỉ định của bác sĩ để kiểm soát dần huyết áp trong phạm vi bình thường. Đừng bao giờ bỏ cuộc và dừng lại. Việc uống thuốc ngắt quãng rồi tự ý dừng thuốc không những không kiểm soát được huyết áp mà còn có thể gây ra các biến chứng như xuất huyết não. Do đó, bệnh nhân cao tuổi bị tăng huyết áp nên tuân thủ “dùng thuốc suốt đời” theo hướng dẫn của bác sĩ. Điều này có ý nghĩa rất lớn trong việc ngăn ngừa và làm chậm sự xuất hiện của các biến chứng.
Tăng huyết áp ở người cao tuổi Cao Xuân Đông Thiên thiên kiện khang Toàn khoa/ Nội khoa 464-2001-0527 www.cmn.com.cn
Tăng huyết áp là một căn bệnh phổ biến ở người cao tuổi và là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong và tàn tật ở người cao tuổi ở đất nước tôi. Theo số liệu thống kê, 25% bệnh nhân tăng huyết áp không sử dụng thuốc đúng cách. Người ta đều biết rằng bệnh tăng huyết áp không được điều trị có thể dễ dẫn đến các biến chứng như đột quỵ, suy tim và bệnh niệu độc. Cần nhắc nhở những người bạn lớn tuổi rằng tình trạng tăng huyết áp ở người cao tuổi có thể dễ dẫn đến một biến chứng khác – hội chứng thiếu máu não – do sử dụng thuốc hạ huyết áp không đúng cách. Các triệu chứng của bệnh bao gồm chóng mặt, đau đầu, yếu chân tay và cơn thiếu máu não thoáng qua. Trong những trường hợp nghiêm trọng, có thể xảy ra tình trạng suy giảm ý thức và huyết khối não.
Mặc dù não chỉ nặng 2% trọng lượng cơ thể nhưng lượng oxy tiêu thụ của não chiếm tới 20% tổng lượng oxy tiêu thụ của cơ thể, khiến não trở thành cơ quan tiêu thụ oxy lớn nhất trong cơ thể. Người bình thường có thể tự động điều chỉnh lưu lượng máu. Khi huyết áp giảm xuống mức nhất định, các mạch máu não sẽ giãn ra để duy trì tưới máu thích hợp. Nhưng đối với bệnh nhân cao tuổi bị tăng huyết áp, mạch máu của họ bị lão hóa, thành mạch dày lên và cứng lại, lòng mạch hẹp lại, chức năng tâm thu và tâm trương của mạch máu bị hạn chế, huyết áp tâm thu tăng đáng kể, huyết áp tâm trương không tăng đáng kể, chênh lệch áp lực mạch lớn, độ nhớt của máu tăng. Ngoài ra, do chức năng gan, thận suy giảm, chuyển hóa chậm ở người cao tuổi nên thuốc dễ tích tụ, làm tăng tác dụng hạ huyết áp. Do đó, việc sử dụng thuốc hạ huyết áp không đúng cách dễ dẫn đến tình trạng huyết áp giảm nhanh và mạnh, gây ra hội chứng thiếu máu não. Từ đó có thể thấy rằng, thuốc hạ huyết áp cần được người cao tuổi lựa chọn và điều chỉnh có chủ đích dưới sự giám sát và hướng dẫn của bác sĩ. Huyết áp cao có thể được hạ dần xuống mức phù hợp trong vòng 1 tuần, nhưng không nên hạ đột ngột xuống mức bình thường. Sau khi dùng thuốc, khi các triệu chứng và mức huyết áp đã được kiểm soát hiệu quả, có thể giảm liều theo kế hoạch cho đến khi huyết áp có thể được duy trì ở mức lý tưởng (tức là liều duy trì) với liều tối thiểu. Bệnh nhân tuyệt đối không được tự ý ngừng thuốc hoặc thay đổi thuốc theo lời đồn, nếu không sẽ khó tránh khỏi tình trạng huyết áp dao động và có thể dẫn đến tai nạn.
Việc sử dụng kết hợp thuốc hạ huyết áp ở bệnh nhân cao tuổi bị tăng huyết áp cần phải thận trọng. Thuốc giãn mạch thường được sử dụng trước, bắt đầu với liều nhỏ và nên dùng thêm một lượng nhỏ thuốc lợi tiểu như một biện pháp hỗ trợ để tránh làm tăng độ nhớt của máu càng nhiều càng tốt. Thuốc ức chế trung tâm thần kinh giao cảm và ngoại biên và thuốc chẹn beta cũng nên được sử dụng thận trọng hoặc với liều lượng nhỏ để tránh tình trạng giảm tưới máu não. Nhìn chung, bệnh nhân cao tuổi bị tăng huyết áp có thể lựa chọn thuốc dựa trên các nguyên tắc sau:
Nếu xảy ra hội chứng giảm tưới máu não, cần điều chỉnh liều thuốc hoặc ngừng thuốc kịp thời theo hướng dẫn của bác sĩ. Có thể thực hiện theo dõi huyết áp động nếu cần thiết. Nó có thể phản ánh toàn diện nhịp sinh học năng động của huyết áp. Quan sát xem thuốc hạ huyết áp có kiểm soát hiệu quả huyết áp trong vòng 24 giờ sau khi uống hay không, quan sát tác dụng điều trị của thuốc đối với tình trạng huyết áp cao tại một thời điểm cụ thể, thời gian tác dụng và có làm giảm huyết áp quá mức hay không.
Các vấn đề liên quan đến tăng huyết áp
Mức huyết áp liên tục có mối tương quan với tỷ lệ mắc bệnh tim mạch, do đó định nghĩa về tăng huyết áp là không chính xác. Nhiều rối loạn liên quan đến tăng huyết áp xảy ra ở những người thường được coi là có huyết áp “bình thường”. Do đó, nguy cơ mắc bệnh tim mạch ở bệnh nhân tăng huyết áp không chỉ phụ thuộc vào mức huyết áp mà còn phụ thuộc vào số lượng và mức độ của các yếu tố nguy cơ khác tồn tại đồng thời; Nguy cơ mắc bệnh tim mạch ở bệnh nhân thường phụ thuộc nhiều hơn vào các yếu tố nguy cơ khác chứ không chỉ phụ thuộc vào mức huyết áp. Ví dụ, hai bệnh nhân nam có cùng mức huyết áp là 145/90 mmHg. Một người 65 tuổi, bị tiểu đường và có tiền sử thiếu máu não thoáng qua. Người còn lại 40 tuổi nhưng không có tiền sử bệnh tiểu đường hoặc bệnh tim mạch khác. Nhóm thứ nhất có nguy cơ gặp phải biến cố tim mạch lớn trong một năm cao gấp 20 lần. Ngược lại, hai người đàn ông khác cùng độ tuổi có số lượng và mức độ tương tự các yếu tố nguy cơ khác, một người có mức huyết áp là 170/105 mmHg và người kia có mức huyết áp là 145/90 mmHg. Nhóm trước có nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao gấp 2-3 lần so với nhóm sau. Do đó, trong điều trị lâm sàng bệnh nhân tăng huyết áp, việc xác định và can thiệp các yếu tố nguy cơ là vô cùng quan trọng.
2.1 Các yếu tố nguy cơ gây tăng huyết áp
Các yếu tố nguy cơ gây tăng huyết áp đã được nghiên cứu quốc tế xác định là: thừa cân, chế độ ăn nhiều muối và uống rượu ở mức trung bình đến cao. Các nghiên cứu dịch tễ học ở nước tôi cũng chỉ ra rằng ba yếu tố này có mối tương quan đáng kể với tỷ lệ mắc bệnh tăng huyết áp, nhưng mỗi yếu tố đều có những đặc điểm riêng.
2.1.1 Thừa cân và béo phì
Chỉ số khối cơ thể trung bình (kg/m2) của người dân Trung Quốc là khoảng 21-24,5 đối với nam giới trung niên và khoảng 21-25 đối với nữ giới trung niên. Sự khác biệt về chỉ số khối cơ thể giữa các nhóm dân số có tác động đáng kể đến mức huyết áp và tỷ lệ mắc bệnh tăng huyết áp. Ví dụ, mức huyết áp và tỷ lệ mắc bệnh tăng huyết áp ở người dân Trung Quốc cao hơn ở miền bắc và thấp hơn ở miền nam, với sự khác biệt lớn giữa các vùng, tương tự như sự khác biệt về chỉ số khối cơ thể giữa các nhóm dân số. Một nghiên cứu triển vọng trên 10 nhóm người ở quốc gia tôi cho thấy cứ tăng 1% chỉ số khối cơ thể ban đầu thì nguy cơ phát triển tăng huyết áp chắc chắn (huyết áp tâm thu ≥160 mmHg hoặc huyết áp tâm trương ≥90 mmHg) trong vòng 5 năm tăng 9%. Một nghiên cứu hợp tác Trung-Mỹ về dịch tễ học bệnh tim mạch cho thấy, cứ mỗi lần chỉ số khối cơ thể ban đầu tăng trong vòng 3 đến 4 năm, nguy cơ mắc bệnh tăng huyết áp (huyết áp tâm thu ≥140 mmHg hoặc huyết áp tâm trương ≥90 mmHg hoặc dùng thuốc chống tăng huyết áp) tăng 57% đối với phụ nữ và 50% đối với nam giới. Điều này cho thấy mặc dù chỉ số khối cơ thể của người dân Trung Quốc thấp hơn so với người dân phương Tây nhưng tình trạng thừa cân, béo phì vẫn là yếu tố nguy cơ gây tăng huyết áp và chỉ số khối cơ thể trung bình cùng tỷ lệ thừa cân, béo phì của người dân có xu hướng tăng trong 10 năm qua.
2.1.2 Uống
Nếu định nghĩa uống rượu là uống ít nhất một lần một tuần thì tỷ lệ uống rượu ở nam giới trung niên tại nước tôi là khoảng 30%-66%, còn ở nữ giới là khoảng 2%-7%. Một nghiên cứu hợp tác Trung-Mỹ về dịch tễ học bệnh tim mạch cho thấy so với những người không uống rượu, những người đàn ông tiếp tục uống rượu có nguy cơ mắc bệnh tăng huyết áp cao hơn 40% trong vòng 4 năm.
2.1.3 Chế độ ăn nhiều muối, ít kali, ít canxi và ít protein động vật
Lượng muối tiêu thụ của người dân Trung Quốc cao hơn các nước phương Tây, khoảng 12-18 gam mỗi ngày ở miền Bắc và khoảng 7-8 gam mỗi ngày ở miền Nam. Có mối tương quan đáng kể giữa lượng natri hấp thụ vào cơ thể và mức huyết áp. Sau khi kiểm soát tổng lượng calo, hệ số tương quan giữa lượng natri trong chế độ ăn và huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương lần lượt là 0,63 và 0,58. Một nghiên cứu trên 14 nhóm người cho thấy nếu lượng muối trung bình tiêu thụ hàng ngày của mỗi người trong dân số tăng 2 gam thì huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương trung bình sẽ tăng lần lượt là 2,0 mmHg và 1,2 mmHg. Các nghiên cứu trên người dân Thiên Tân và ba nhóm người ở đất nước tôi đều cho thấy lượng natri tiêu thụ hàng ngày hoặc lượng natri bài tiết qua nước tiểu trong 24 giờ của một cá nhân có mối tương quan tích cực đáng kể với huyết áp của họ.
Nghiên cứu INTERSALT cho thấy việc phân tích dữ liệu từ ba quần thể ở Trung Quốc (Bắc Kinh, Thiên Tân và Quảng Tây)
Dân số Trung Quốc có tỷ lệ natri/kali trong nước tiểu cao hơn các quần thể nghiên cứu khác và độ dốc của huyết áp tâm thu tăng theo tuổi cao hơn 45% so với các quần thể khác, dẫn đến huyết áp tăng nhanh hơn ở độ tuổi từ 25 đến 55 so với các quần thể khác, điều này cho thấy việc tiếp xúc với lượng natri cao ở dân số Trung Quốc ảnh hưởng đến huyết áp của họ nhiều hơn so với các quần thể khác. Một nghiên cứu trên ba nhóm người ở quốc gia tôi cho thấy ở những người có lượng canxi trong chế độ ăn uống thấp hơn mức trung bình, tỷ lệ natri/kali trong chế độ ăn uống có mối tương quan tích cực đáng kể với huyết áp, trong khi ở những người có lượng canxi trong chế độ ăn uống cao hơn mức trung bình, mối tương quan này không đáng kể, cho thấy lượng canxi trong chế độ ăn uống thấp ở quốc gia tôi có thể thúc đẩy tác dụng làm tăng huyết áp của natri. Một nghiên cứu trên 14 nhóm người cho thấy nếu lượng calo protein động vật trung bình hàng ngày của mỗi người tăng 1 phần trăm thì huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương trung bình sẽ giảm lần lượt 0,9 mmHg và 0,7 mmHg. Những bằng chứng nghiên cứu này cho thấy chế độ ăn nhiều muối là một yếu tố nguy cơ quan trọng dẫn đến tăng huyết áp ở người dân Trung Quốc, trong khi chế độ ăn ít kali, ít canxi và ít protein động vật làm trầm trọng thêm tác dụng phụ của natri lên huyết áp.
2.2 Huyết áp cao là yếu tố nguy cơ gây bệnh tim mạch
Theo tiêu chuẩn nghiên cứu dịch tễ học, huyết áp cao là yếu tố nguy cơ độc lập gây đột quỵ và bệnh tim mạch vành. Các nghiên cứu dịch tễ học về dân số Trung Quốc và một số thử nghiệm lâm sàng cũng cung cấp bằng chứng cho điều này.
2.2.1 Huyết áp cao là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất gây đột quỵ ở người dân Trung Quốc.
Trung Quốc là quốc gia có tỷ lệ đột quỵ cao. Năm 1997, Báo cáo nghiên cứu theo dõi bệnh tim mạch ở dân số Trung Quốc của Tổ chức Y tế Thế giới cho thấy trong số 17 dân số theo dõi ở nhiều quốc gia, tỷ lệ mắc đột quỵ trung bình hàng năm ở nam giới (35-64 tuổi) tại Bắc Kinh (1985-1990) là 247/100.000, đứng thứ năm và tỷ lệ mắc trung bình hàng năm ở nữ giới là 175/100.000, đứng thứ hai. Tỷ lệ mắc bệnh hàng năm không thay đổi nhiều trong giai đoạn theo dõi 6 năm, trong khi tỷ lệ mắc các bệnh đột quỵ ở nhóm dân số được theo dõi ở hầu hết các quốc gia khác có xu hướng giảm trong cùng kỳ. Một nghiên cứu triển vọng trên 10 nhóm người ở đất nước tôi cho thấy có mối quan hệ tuyến tính logarit giữa mức huyết áp và nguy cơ đột quỵ tương đối. Nghĩa là, sau khi kiểm soát các yếu tố nguy cơ khác, cứ mỗi 10 mmHg tăng trong huyết áp tâm thu ban đầu, nguy cơ đột quỵ tương đối tăng 49% (47% đối với đột quỵ do thiếu máu cục bộ và 54% đối với đột quỵ do xuất huyết); Cứ mỗi 5mmHg huyết áp tâm trương tăng thì nguy cơ đột quỵ tăng 46%. Kết quả phân tích tổng hợp các quần thể Đông Á cho thấy ở các quần thể Đông Á như Trung Quốc và Nhật Bản, tác động của tình trạng huyết áp cao đến tỷ lệ đột quỵ cao hơn khoảng 1,5 lần so với các quần thể phương Tây. Thử nghiệm lâm sàng tại Trung Quốc về tăng huyết áp tâm thu ở người cao tuổi là thử nghiệm có đối chứng ngẫu nhiên được tiến hành trên bệnh nhân cao tuổi bị tăng huyết áp tâm thu từ 60 tuổi trở lên. Sau 4 năm theo dõi, tỷ lệ tử vong do đột quỵ ở nhóm điều trị bằng thuốc chống tăng huyết áp thấp hơn 58% so với nhóm đối chứng dùng giả dược. Sự khác biệt đạt đến mức có ý nghĩa thống kê, cho thấy việc hạ huyết áp hiệu quả thực sự có thể làm giảm nguy cơ đột quỵ gây tử vong. Những bằng chứng trên cho thấy huyết áp cao là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất gây đột quỵ ở người dân Trung Quốc.
2.2.2 Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ gây bệnh tim mạch vành ở người dân Trung Quốc
Tăng huyết áp là một yếu tố nguy cơ độc lập gây bệnh tim mạch vành ở người dân phương Tây, điều này đã được chứng minh trong nghiên cứu Framingham và nhiều nghiên cứu triển vọng sau đó. Các nghiên cứu này đã chỉ ra rằng huyết áp cao, dù ổn định hay không ổn định, tâm thu hay tâm trương, đều là một trong những yếu tố nguy cơ độc lập gây bệnh tim mạch vành ở mọi lứa tuổi và giới tính. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng mức huyết áp và tỷ lệ mắc bệnh tim mạch vành có mối tương quan liên tục, tăng dần và mạnh mẽ. Nghiên cứu MRFIT cho thấy trong số 340.000 nam giới da trắng trong độ tuổi 35-57 được theo dõi trong 15 năm, trong tổng số ca tử vong do bệnh tim mạch vành do huyết áp cao, 31,6% là những người có huyết áp tâm thu từ 120-139 mmHg, 42,9% là những người có huyết áp tâm thu từ 140-159 mmHg và chỉ có 24,1% là những người có huyết áp tâm thu ≥160 mmHg. Nguyên nhân là do phần lớn người dân có mức huyết áp nằm trong hai nhóm đầu tiên, trong khi những người có huyết áp tâm thu ≥160 mmHg, mặc dù có nguy cơ mắc bệnh tim mạch vành cao, nhưng lại là nhóm thiểu số trong dân số. Điều này cho thấy tầm quan trọng của huyết áp “bình thường-cao” và tăng huyết áp giai đoạn I trong giai đoạn khởi phát bệnh tim mạch vành. Một nghiên cứu triển vọng về các yếu tố nguy cơ mắc bệnh tim mạch vành ở nam công nhân Công ty Capital Steel tại nước tôi cho thấy khi huyết áp tâm thu từ 120 mmHg đến 139 mmHg thì nguy cơ mắc bệnh tim mạch vành cao hơn 40% so với những người có huyết áp tâm thu dưới 120 mmHg và cao hơn 1,3 lần so với những người có huyết áp tâm thu từ 140 đến 159 mmHg. Điều này cũng minh họa vai trò của tình trạng huyết áp cao trong tỷ lệ mắc bệnh tim mạch vành ở người dân Trung Quốc. Kết quả nghiên cứu trên cho thấy tác động của mức huyết áp lên nguy cơ mắc bệnh tim mạch là liên tục. Do đó, bất kỳ định nghĩa nào về tăng huyết áp đều là giả tạo và nhiều bệnh liên quan đến huyết áp cao có thể xảy ra ở những người có huyết áp thường được coi là “bình thường”. Do tác động của tình trạng tăng huyết áp lên tỷ lệ mắc bệnh tim mạch ở người dân Trung Quốc lớn hơn so với người dân phương Tây, nếu áp dụng chiến lược kết hợp toàn bộ dân số và nhóm nguy cơ cao để tăng cường phòng ngừa ban đầu và kiểm soát tăng huyết áp dựa trên dân số nhằm hạ mức huyết áp của toàn bộ dân số, đồng thời tăng cường quản lý và điều trị bệnh nhân tăng huyết áp thì chắc chắn sẽ có tác dụng lớn hơn trong việc phòng ngừa bệnh tim mạch.
2.2.3 Tăng huyết áp làm tăng nguy cơ suy tim và bệnh thận
Những người có tiền sử tăng huyết áp có nguy cơ mắc suy tim cao gấp 6 lần so với những người không có tiền sử tăng huyết áp và cứ giảm 5mmHg huyết áp tâm trương có thể giảm 1/4 nguy cơ mắc bệnh thận giai đoạn cuối.
2.2.4 Ảnh hưởng của huyết áp mạch đến bệnh tim mạch ở người cao tuổi
Huyết áp cao là dấu hiệu cho thấy độ đàn hồi của động mạch kém. Tóm tắt phân tích kết quả của Thử nghiệm lâm sàng Trung Quốc về tăng huyết áp tâm thu ở người cao tuổi, Thử nghiệm lâm sàng châu Âu về tăng huyết áp tâm thu ở người cao tuổi và Thử nghiệm lâm sàng châu Âu về tăng huyết áp ở người cao tuổi cho thấy sau khi điều chỉnh các yếu tố như giới tính, tuổi tác, tiền sử bệnh tim mạch, hút thuốc và điều trị tích cực, huyết áp mạch ban đầu (chênh lệch giữa huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương) có mối tương quan tích cực đáng kể với tổng tỷ lệ tử vong, tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch, đột quỵ và bệnh tim mạch vành ở người cao tuổi trên 60 tuổi. Mặc dù không chắc chắn rằng mối liên hệ giữa huyết áp mạch và bệnh tim mạch có độc lập với huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương hay không, nhưng vấn đề huyết áp mạch cần được quan tâm nghiêm túc.
2.3 Các yếu tố nguy cơ khác của bệnh tim mạch
Nghiên cứu trong những năm gần đây đã chỉ ra rằng sự khởi phát của bệnh tim mạch là kết quả của tác động kết hợp của nhiều yếu tố nguy cơ. Khi một số yếu tố nguy cơ tăng ở mức vừa phải, nguy cơ tuyệt đối mắc bệnh tim mạch có thể vượt quá nguy cơ do riêng một yếu tố nguy cơ tăng cao gây ra. Ví dụ, đối với những người bị tăng huyết áp nhẹ, nguy cơ mắc bệnh tim mạch không chỉ phụ thuộc vào mức huyết áp mà còn phụ thuộc vào mức độ của các yếu tố nguy cơ khác. Nguy cơ tuyệt đối mắc bệnh tim mạch ở bệnh nhân tăng huyết áp phần lớn được xác định bởi các yếu tố nguy cơ khác ngoài mức huyết áp. Do đó, khi cân nhắc chiến lược điều trị và cường độ điều trị cho bệnh nhân tăng huyết áp, chúng ta không chỉ nên xem xét mức huyết áp của họ mà còn phải xem xét tình trạng của các yếu tố nguy cơ khác. Đây là điểm khác biệt của hướng dẫn phòng ngừa và kiểm soát tăng huyết áp mới so với trước đây. Sau đây là mô tả ngắn gọn về các yếu tố nguy cơ khác ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh tim mạch.
2.3.1 Tuổi
Tỷ lệ mắc bệnh tim mạch tăng theo tuổi tác. Ví dụ, trong số những người dân Bắc Kinh ở độ tuổi 35-74, tỷ lệ mắc bệnh tim mạch vành tăng từ 3 đến 1 lần và tỷ lệ đột quỵ tăng từ 4 đến 1 lần sau mỗi 10 năm. Điều này là do mức độ các yếu tố nguy cơ gây ra hầu hết các bệnh tim mạch tăng theo tuổi tác. Mặc dù tốc độ tăng chậm lại theo tuổi tác, nhưng nguy cơ tuyệt đối mắc bệnh do các yếu tố liên quan gây ra vẫn rất cao do tỷ lệ mắc bệnh ở người cao tuổi cao.
2.3.2 Giới tính
Tỷ lệ mắc bệnh tim mạch ở nam giới cao hơn ở nữ giới. Kết quả theo dõi 5 năm 14 quần thể ở nước tôi cho thấy, tỷ lệ mắc bệnh tim mạch vành ở nam giới trong độ tuổi 25-74 cao gấp 1,1-6,2 lần so với nữ giới, tỷ lệ đột quỵ ở nam giới cao gấp 1,2-3,1 lần so với nữ giới. Do đó, cần tăng cường can thiệp cho bệnh nhân nam.
2.3.3 Hút thuốc
Tỷ lệ hút thuốc trong dân số Trung Quốc rất cao, lên tới 60%-70% ở nam giới và thấp hơn ở phụ nữ, nhưng cũng chỉ khoảng 7%. Một nghiên cứu triển vọng trên 10 nhóm đối tượng ở nước tôi cho thấy, so với người không hút thuốc, nguy cơ mắc bệnh tim mạch vành ở người hút thuốc cao hơn khoảng 2 lần, nguy cơ đột quỵ do thiếu máu cục bộ cao hơn khoảng 1 lần, nguy cơ tử vong do ung thư cao hơn 45% và nguy cơ tử vong hoàn toàn cao hơn 21%. Theo một nghiên cứu theo cặp về việc theo dõi dân số mắc bệnh tim mạch tại Bắc Kinh, tác hại của việc hút thuốc lá đối với nhồi máu cơ tim cấp tính tỷ lệ thuận với bình phương tổng lượng thuốc lá hút. Tác hại tăng gấp bốn lần khi lượng thuốc lá hút tăng gấp đôi. Nguy cơ nhồi máu cơ tim cấp do hút thuốc lá tại khu vực giám sát của Bắc Kinh là 43%. Hút thuốc không chỉ là yếu tố nguy cơ gây bệnh tim mạch mà còn là yếu tố nguy cơ gây bệnh hô hấp và ung thư.
Trường Xuân Đường