| Các phương pháp không dùng thuốc để điều trị cao huyết áp.
Tài liệu tham khảo:
Cao huyết áp có những liệu pháp không dùng thuốc nào?
Đối với bệnh nhân cao huyết áp nhẹ, phương pháp điều trị đầu tiên là liệu pháp không dùng thuốc. Còn đối với bệnh nhân cao huyết áp trung bình và nặng, trên cơ sở điều trị bằng thuốc kết hợp với liệu pháp không dùng thuốc, cố gắng giảm liều lượng thuốc để đạt được hiệu quả điều trị lý tưởng. Đây chính là nguyên tắc chung trong điều trị cao huyết áp.
Vậy, cao huyết áp có những phương pháp không dùng thuốc nào?
(1) Kiểm soát cân nặng
Một cuộc điều tra toàn quốc ở Mỹ cho thấy, những người thừa cân nên nỗ lực giảm cân, đây là cách tốt nhất để hạ huyết áp. Tài liệu nghiên cứu của Nhật Bản cũng cho rằng béo phì là yếu tố gây bệnh cao huyết áp chủ yếu, 80% bệnh nhân cao huyết áp có thể hạ huyết áp thông qua giảm cân. Các nhà y học nước ta nêu rõ, dù là bệnh nhân cao huyết áp hay người béo phì có huyết áp bình thường, việc giảm cân đều có thể làm giảm huyết áp, làm chậm nhịp tim, giảm axit uric trong huyết tương, giảm cholesterol và đường huyết, đồng thời có thể giảm liều lượng thuốc điều trị.
Phương pháp tính cân nặng đơn giản: Lấy chiều cao (cm) – 105 ±10% sẽ ra khoảng cân nặng chuẩn (tính bằng kg). Nếu vượt quá giới hạn trên nghĩa là thừa cân.
Đối với người lao động bình thường hoặc người vận động bình thường có mức béo phì dưới +10%, nam giới nên cung cấp khoảng 2000 kcal/ngày, nữ giới khoảng 1800 kcal/ngày; đối với người béo phì khoảng +20%, nam nên nạp khoảng 1700 kcal, nữ khoảng 1500 kcal/ngày; đối với người béo phì nặng, nam khoảng 1100-1400 kcal, nữ khoảng 1000-1200 kcal/ngày.
Cơ chế giảm huyết áp khi giảm cân có thể liên quan đến việc giảm tiết insulin, ức chế hệ giao cảm, ức chế hệ renin – aldosterone, v.v.
(2) Vận động thích hợp
Nghiên cứu của Đại học Harvard (Mỹ) cho thấy, tập thể dục hoặc vận động ít nhất 3 lần mỗi ngày, mỗi lần 20 phút, có thể cải thiện tình trạng huyết áp. Các học giả trong nước khuyến khích bệnh nhân trung niên và cao tuổi tập khí công, Thái Cực Quyền, chú ý tâm tĩnh, thân lỏng, hơi thở đều, kiên trì bền bỉ sẽ giúp cải thiện cao huyết áp. Vì vậy, bệnh nhân cao huyết áp nên tham gia đều đặn các môn thể thao vừa sức như khiêu vũ, đi bộ, chạy chậm, tập khí công, Thái Cực Quyền… nhưng cần tránh các hoạt động thi đấu hoặc vận động quá kịch liệt.
(3) Hạn chế muối ăn
Nghiên cứu cho thấy, muối ăn có liên quan mật thiết với sự phát sinh cao huyết áp. Trong cộng đồng ăn trên 20g muối/ngày, tỷ lệ mắc cao huyết áp lên đến 30%. Ở vùng Đông Bắc, Hoa Bắc (Trung Quốc), tỷ lệ cao huyết áp cao hơn miền Nam, liên quan đến thói quen ăn mặn. Theo báo cáo, tỷ lệ cao huyết áp trong dân tộc Tạng ở Lhasa (Tây Tạng) cao nhất nước (17%), do họ uống trà mặn quanh năm, lượng muối ăn vào rất nhiều.
Trong điều kiện bình thường, nhu cầu sinh lý về natri của cơ thể mỗi ngày chỉ khoảng 0,5g. Thực tế, lượng muối trong khẩu phần thường cao tới 10-15g. Bệnh nhân cao huyết áp nên giảm muối, tốt nhất dưới 5g muối/ngày, nhưng không nên quá thấp vì bệnh nhân khó thích ứng.
(4) Bổ sung kali thích hợp
Hiện nay, tác dụng hạ huyết áp của kali được chú ý. Có báo cáo cho biết, mỗi ngày nạp 5-7g kali có thể giảm 4-9mmHg huyết áp. Nghiên cứu trên động vật cũng cho thấy, dù kali không trực tiếp hạ huyết áp, nhưng cũng có thể ngăn ngừa đột quỵ, phì đại tâm thất, suy giảm chức năng thận, giảm tỉ lệ tử vong do biến chứng cao huyết áp. Vì vậy, bệnh nhân cao huyết áp nên bổ sung kali thích hợp. Trái cây, rau xanh, đậu đỗ là nguồn giàu kali, bệnh nhân có thể ăn nhiều các loại thực phẩm này.
(5) Hạn chế rượu, bỏ thuốc lá
Uống rượu có thể làm tăng nồng độ các hoóc-môn vỏ tuyến thượng thận và catecholamin, ảnh hưởng đến angiotensin, vasopressin, aldosterone, và tính thấm của màng tế bào, từ đó làm tăng huyết áp. Thường xuyên uống rượu còn ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị bằng thuốc, khiến huyết áp khó kiểm soát. Do đó, bệnh nhân cao huyết áp nên hạn chế uống rượu, tốt nhất dưới 25g/ngày (khoảng 1 lạng rượu trắng), hoặc tốt nhất là không uống. Bia có độ cồn thấp cũng cần kiểm soát.
Điều tra dịch tễ cho thấy, người hút thuốc tăng nguy cơ cao huyết áp ác tính, tăng nguy cơ mắc bệnh mạch vành và đột tử. Vì vậy, nên bỏ thuốc lá.
(6) Bổ sung canxi vừa phải
Bệnh nhân cao huyết áp thường có lượng canxi hấp thu thấp. Bổ sung canxi hoặc tăng uống nước cứng (chứa nhiều khoáng) và sữa có thể làm giảm huyết áp ở mức độ nhất định.
(7) Giữ tinh thần lạc quan
Nghiên cứu y học hiện đại chứng minh, buồn rầu, bi thương, lo lắng, phiền muộn… đều có thể làm tăng tiết catecholamin và các chất vận mạch khác trong máu, từ đó tăng huyết áp. Vì vậy, bệnh nhân cao huyết áp cần chú ý kiểm soát cảm xúc, loại bỏ tạp niệm, giữ tâm trạng thoải mái và cân bằng tâm lý, có lợi cho việc duy trì chức năng bình thường của trung khu thần kinh cao cấp, giúp giảm huyết áp.
Phương pháp thư giãn – mặc tưởng có thể hạ huyết áp không?
Hiện nay người ta cho rằng, ngoài các yếu tố di truyền, chế độ ăn uống và cân nặng, sự căng thẳng tinh thần kéo dài cũng liên quan đến sự phát sinh cao huyết áp.
Nghiên cứu y học hiện đại chứng minh, cơ thể chịu kích thích bất lợi từ môi trường trong và ngoài, gây căng thẳng tinh thần và tổn thương lặp đi lặp lại, dẫn đến rối loạn cân bằng hưng phấn và ức chế ở vỏ não. Từ đó, ở trung khu vận mạch dưới vỏ não hình thành ổ hưng phấn ưu thế của xung thần kinh co mạch, gây co thắt tiểu động mạch toàn thân, tăng kháng lực ngoại vi, dẫn đến cao huyết áp. Đồng thời, kích thích bất lợi còn gây rối loạn nội tiết, tăng tiết catecholamin và adrenaline, ảnh hưởng phản ứng của mạch máu, làm tăng huyết áp. Vì vậy, ngoài điều trị thuốc, nên kết hợp điều trị tâm lý thích hợp, chẳng hạn như phương pháp thư giãn – mặc tưởng, có thể giúp huyết áp giảm dần và ổn định ở mức lý tưởng.
Phương pháp thư giãn – mặc tưởng gồm bốn yếu tố: tập luyện tinh thần lặp đi lặp lại, thái độ chấp nhận thụ động, tư thế thư giãn và môi trường yên tĩnh. Sau đây là một cách tập luyện đơn giản:
- Ngồi yên ở một tư thế thích hợp.
- Nhắm mắt lại.
- Cố gắng thả lỏng tất cả các cơ, bắt đầu từ bàn chân, từ từ đi lên, đến cơ mặt, giữ cho cơ bắp thư giãn hoàn toàn.
- Thở bằng mũi, khi thở ra, thầm nhẩm từ “một” trong đầu. Ví dụ: hít vào… thở ra “một”, hít vào… thở ra “một”, cứ thế lặp lại.
- Tiếp tục trong 20 phút. Bạn có thể mở mắt ra xem giờ, không dùng đồng hồ báo thức. Kết thúc, hãy nhắm mắt ngồi yên vài phút, rồi hãy mở mắt.
- Không cần lo lắng liệu bạn đã hoàn toàn thư giãn chưa, cứ giữ thái độ tự nhiên. Khi tư tưởng rối loạn, cứ để kệ, đừng tự trách mình, tiếp tục nhẩm “một”. Mỗi ngày tập 1-2 lần. Không nên tập trong vòng 2 giờ sau bữa ăn, vì quá trình tiêu hóa có thể cản trở phản ứng thư giãn.
Điểm mấu chốt của phương pháp là gạt bỏ tạp niệm, dùng ý nghĩ dẫn dắt và暗示 bản thân thư giãn. Nghiên cứu cho thấy, khi bệnh nhân làm đúng yêu cầu, có thể đạt hiệu quả như một số thuốc hạ áp. Khi bạn ngừng thư giãn và quay lại cuộc sống bận rộn, huyết áp vẫn có thể duy trì ở mức thấp hơn, tương tự như khi dùng thuốc.
Phương pháp thư giãn đơn giản, dễ thực hiện, phù hợp với nhiều loại bệnh nhân, không chỉ là lựa chọn hàng đầu cho bệnh nhân cao huyết áp nhẹ mà còn là biện pháp hỗ trợ cho bệnh nhân cao huyết áp nặng đang dùng thuốc.
Sinh học phản hồi là gì? Nó có hiệu quả gì trong điều trị cao huyết áp?
Liệu pháp sinh học phản hồi là một liệu pháp tâm lý (hành vi) sử dụng thiết bị điện tử hiện đại – máy phản hồi sinh học – để xử lý các thông tin sinh học liên quan đến tâm sinh lý (như nhịp tim, huyết áp, nhu động dạ dày-ruột, hoạt động cơ bắp, điện não đồ, độ ẩm da…) và hiển thị dưới dạng âm thanh, ánh sáng (phản hồi). Qua đó, người được điều trị giống như “soi gương” để “thấy” hoặc “nghe” được những thay đổi trong hoạt động sinh lý của cơ thể, hiểu rõ chức năng nội tạng, và dưới sự hướng dẫn của bác sĩ, học cách kiểm soát có ý thức hoạt động tâm sinh lý của bản thân, nhằm điều chỉnh chức năng cơ thể và phòng trị bệnh. Việc sử dụng công nghệ và phương pháp sinh học phản hồi để điều trị bệnh được gọi là liệu pháp sinh học phản hồi.
Liệu pháp sinh học phản hồi thích hợp với tất cả các bệnh thân-tâm gây ra do căng thẳng quá mức, có hiệu quả tốt đối với đau nửa đầu, bệnh mạch vành, rối loạn thần kinh tim, cường giáp, co thắt cơ mặt, rối loạn thần kinh dạ dày-ruột, lo âu, hội chứng mãn kinh, v.v. Gần đây, nghiên cứu còn phát hiện liệu pháp sinh học phản hồi có tác dụng lớn trong việc kiểm soát huyết áp.
Cao huyết áp là một bệnh lý toàn thân do rối loạn chức năng trung khu thần kinh cao cấp, biểu hiện chủ yếu là co thắt tiểu động mạch trong giai đoạn đầu, về sau mạch xơ cứng, đồng thời cũng là một bệnh thân-tâm. Khi tiến hành sinh học phản hồi, bệnh nhân ngồi hoặc nằm yên trong phòng yên tĩnh, ánh sáng dịu, nghe bác sĩ giải thích ý nghĩa của tín hiệu âm thanh, ánh sáng từ máy phản hồi sinh học và cơ chế kiểm soát huyết áp. Sau đó, gắn cảm biến lên cơ duỗi cẳng tay, dưới sự hướng dẫn của bác sĩ, bệnh nhân thử siết hoặc thả lỏng cơ bắp, trải nghiệm sự thay đổi tín hiệu âm thanh và ánh sáng tương ứng. Tiếp theo, dưới sự hướng dẫn bằng lời hoặc chỉ dẫn của bác sĩ, bệnh nhân thư giãn lần lượt từ dưới lên trên để tất cả cơ bắp đều được thả lỏng. Trong quá trình điều trị, bệnh nhân cố gắng loại bỏ mọi tạp niệm, chú ý tín hiệu phản hồi từ máy để nhận biết tình trạng căng cơ vốn không thể cảm nhận bằng cách thông thường. Nhờ đó, bệnh nhân học cách giải tỏa căng cơ, giảm trương lực cơ, làm giãn mạch, giảm sức cản ngoại vi. Khi nhịp tim và cung lượng tim cơ bản không thay đổi, huyết áp sẽ giảm ở mức độ khác nhau. Khi huyết áp vượt quá phạm vi bình thường, ở mức cao, liệu pháp sinh học phản hồi giúp hạ huyết áp rõ rệt, có thể giảm 5-20mmHg huyết áp tâm thu, đồng thời huyết áp tâm trương cũng giảm nhẹ. Còn khi huyết áp đã về mức bình thường, liệu pháp này không làm hạ huyết áp thêm mà chủ yếu giúp duy trì, củng cố hiệu quả.
Thông thường, mỗi lần điều trị sinh học phản hồi khoảng 30 phút, mỗi ngày 1 lần, 20-30 lần là 1 liệu trình. Sau một liệu trình, huyết áp thường có thể trở về mức bình thường. Sau đó, bệnh nhân có thể rời máy, áp dụng các phương pháp học được trong quá trình điều trị để tự thư giãn, củng cố hiệu quả. Nhiều trường hợp cho thấy, sinh học phản hồi có tác dụng kiểm soát huyết áp rõ rệt, đặc biệt với cao huyết áp nguyên phát giai đoạn đầu, khi thay đổi bệnh lý chủ yếu là co thắt động mạch, hiệu quả điều trị càng tốt.
Trường Xuân dịch
|