|
DỰ PHÒNG CAO HUYẾT ÁP. Tài liệu tham khảo: (1) Hạn chế muối: Lượng natri cao có thể gây ứ đọng muối nước trong cơ thể, làm phù tế bào cơ trơn mạch máu, khiến lòng mạch thu hẹp, tăng sức cản mạch và tăng thể tích máu, từ đó làm tăng huyết áp. Vì vậy, cần hạn chế lượng muối tiêu thụ. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo mỗi người chỉ nên tiêu thụ dưới 5g muối mỗi ngày. Tuy nhiên, ở nước ta, lượng muối trung bình hàng ngày (tính cả lượng natri trong thực phẩm quy đổi ra muối) khoảng 7-20g, cao hơn nhiều so với khuyến cáo của WHO. Nguyên nhân chủ yếu: (2) Bổ sung kali: Bổ sung kali giúp bài tiết natri, giảm phản ứng tăng huyết áp do kích thích thần kinh giao cảm, đồng thời ổn định và cải thiện chức năng thụ cảm áp lực. Trong chế độ nấu nướng truyền thống, kali dễ bị mất, do đó nên ăn nhiều rau xanh, trái cây tươi như rau chân vịt, chuối, cam… để bổ sung kali. (3) Tăng cường protein chất lượng cao: Protein chất lượng cao thường là protein động vật và protein từ các loại đậu. Nghiên cứu cho thấy chất lượng protein liên quan đến tỷ lệ mắc cao huyết áp và đột quỵ. Lượng protein trong khẩu phần của người dân nước ta nhìn chung ở mức gần bình thường nhưng chất lượng kém, thiếu các axit amin thiết yếu. Vì vậy, cần tăng cường protein chất lượng cao trong khẩu phần. (4) Bổ sung canxi: Mối liên quan giữa canxi và huyết áp là trọng điểm nghiên cứu suốt hơn 10 năm qua. Nhiều báo cáo cho rằng thiếu canxi trong chế độ ăn có thể làm tăng huyết áp. Canxi có tác dụng ổn định màng tế bào, nâng ngưỡng kích thích, làm mạch máu khó co thắt, đồng thời điều hòa bơm canxi và nồng độ Na⁺, K⁺ nội bào, ngăn huyết áp tăng. Vì vậy, cần chú ý bổ sung canxi, chủ yếu qua thực phẩm động vật, đặc biệt là sữa và chế phẩm từ sữa, sau đó là các sản phẩm từ đậu và rau tươi. (5) Giảm béo: Béo phì chủ yếu do ăn nhiều, ít vận động. Lượng calo thừa tích lũy dưới dạng mỡ. Khi trọng lượng cơ thể vượt quá 20% so với chuẩn gọi là béo phì. Béo phì gây tăng insulin máu, dẫn đến ứ đọng muối nước, gây cao huyết áp. Kiểm soát lượng ăn (đặc biệt tinh bột), tăng cường vận động, giảm cân giúp giảm insulin và noradrenalin, từ đó hạ huyết áp. Cần tuyên truyền giảm cân khoa học: trước hết hạn chế ăn, giảm tổng lượng calo, tránh dinh dưỡng dư thừa, sau đó tăng cường vận động, tránh ăn nhiều đường, đồ ngọt. (6) Cai thuốc lá: Hút thuốc gây nhiều tác hại cho cơ thể, đặc biệt làm tổn thương nội mạc động mạch, gây co thắt mạch, làm tăng huyết áp. Ở bệnh nhân cao huyết áp, hút thuốc còn giảm hiệu quả dự phòng bệnh mạch vành của việc điều trị hạ áp. Vì vậy, cần quyết tâm cai thuốc lá. (7) Cai rượu: Rượu có thể làm tăng nhạy cảm của mạch máu với các chất gây tăng huyết áp, làm tăng huyết áp. Chúng tôi khuyến cáo cai hẳn rượu, ít nhất là không uống rượu mạnh. Người có yếu tố nguy cơ cao huyết áp càng cần tuyệt đối không uống rượu. Thế nào là dự phòng cấp 2 đối với cao huyết áp? (1) Thực hiện đầy đủ các biện pháp dự phòng cấp 1. (2) Điều trị cao huyết áp có hệ thống và quy củ: (3) Lựa chọn phương pháp đo huyết áp tối ưu, tức đo vào lúc huyết áp đạt đỉnh để đảm bảo huyết áp đã hạ thực sự về bình thường. Tóm lại, phòng và điều trị cao huyết áp cần được coi trọng. Cần nắm vững kiến thức liên quan, kiểm tra định kỳ tại bệnh viện để nắm rõ tình trạng bệnh, thiết lập và duy trì quan niệm điều trị suốt đời, dự phòng suốt đời, chắc chắn có thể kiểm soát sự phát triển bệnh, ngăn ngừa biến chứng và kéo dài tuổi thọ. Phòng ngừa cao huyết áp ở phụ nữ như thế nào? (1) Phụ nữ khác nam giới về đặc điểm sinh lý, thường gặp một số bệnh lý đặc trưng, như hội chứng cao huyết áp thai nghén (gọi tắt là tiền sản giật), thường xảy ra từ tuần 24 thai kỳ đến 2 tuần sau sinh, biểu hiện chính là cao huyết áp, phù, protein niệu. Trường hợp nặng có thể co giật, hôn mê, đe dọa tính mạng mẹ và con. Do đó, cần chú ý phòng ngừa. Phòng ngừa tiền sản giật: chủ yếu dựa vào chăm sóc thai kỳ tốt, nắm rõ huyết áp trước và đầu thai kỳ. Mỗi lần khám thai cần đo huyết áp, cân nặng, kiểm tra protein niệu. Đặc biệt chú ý với người có tiền sử gia đình bị tiền sản giật, có cao huyết áp mạn tính, bệnh thận, tiểu đường, đa thai hoặc đa ối. Nghiên cứu cho thấy uống aspirin liều thấp (50-150mg/ngày) trong giai đoạn giữa và cuối thai kỳ có thể giảm 65% nguy cơ tiền sản giật, gợi ý aspirin có thể giảm cao huyết áp thai kỳ. (2) Phụ nữ dùng thuốc tránh thai uống có tỷ lệ khá lớn ở nước ta. Cần giám sát huyết áp ở đối tượng dễ mắc, phát hiện sớm tăng huyết áp để ngừng thuốc kịp thời, chuyển sang biện pháp tránh thai khác, từ đó ngăn chặn cao huyết áp. Người có nguy cơ gồm: béo phì, tuổi cao, hút thuốc, tiểu đường, rối loạn mỡ máu, tiền sử cao huyết áp thai kỳ, bệnh thận, gia đình có tiền sử cao huyết áp và bệnh tim mạch não. Biện pháp phòng ngừa: Trước hết hỏi tiền sử bệnh. Nếu có các yếu tố nguy cơ trên, ngừng thuốc tránh thai, dùng biện pháp khác. Sau đó tiến hành kiểm tra sức khỏe: đo huyết áp, cân nặng, khám vú, gan thận, phụ khoa trước khi dùng làm đối chứng. Nếu không thể dùng thuốc tránh thai uống thì không nên dùng, và cần định kỳ kiểm tra huyết áp. Năm đầu mỗi 3 tháng đo huyết áp 1 lần, sau đó mỗi 6 tháng 1 lần. Làm thế nào để phòng ngừa cao huyết áp ở trẻ em? (1) Cần nâng cao nhận thức toàn xã hội về tầm quan trọng của việc đo huyết áp ở trẻ. Trường học và bệnh viện nên đưa đo huyết áp vào chương trình kiểm tra sức khỏe định kỳ cho thanh thiếu niên. (2) Hình thành thói quen ăn uống tốt: ăn nhạt, nhiều rau xanh, trái cây, hạn chế thức ăn nhiều mỡ, cholesterol. Chú ý bữa ăn đúng giờ, đúng lượng, tránh偏食 (kén ăn), hạn chế đồ ăn vặt và đồ ngọt. (3) Giảm căng thẳng tinh thần và áp lực học tập: tránh gánh nặng tâm lý, cân đối giữa học và nghỉ ngơi, duy trì tâm trạng thoải mái, đặc biệt trong kỳ thi, giữ cảm xúc ổn định để phòng ngừa tăng huyết áp. (4) Phát hiện bệnh sớm và điều trị kịp thời: Trẻ có tiền sử gia đình cao huyết áp nên được đo huyết áp định kỳ hoặc đột xuất. Khi thấy huyết áp có dấu hiệu tăng, phải can thiệp sớm. Đồng thời cần chú ý phòng ngừa và điều trị các bệnh gây cao huyết áp thứ phát, như viêm họng, viêm cầu thận cấp… (5) Khuyến khích trẻ vận động: Thời kỳ phát triển, vận động thể thao rất quan trọng, vừa tiêu hao năng lượng dư thừa, vừa tăng dung tích sống của phổi, tăng cường chức năng tim phổi và lực co bóp cơ tim, giúp phát triển trí lực và thể lực. Đối với trẻ béo phì, giảm cân hiệu quả dựa trên vận động kết hợp kiểm soát ăn uống. Ngoài ra, cấm trẻ hút thuốc, uống rượu, giảm thiểu tiếng ồn cũng là biện pháp phòng ngừa. Tóm lại, hình thành thói quen vệ sinh tốt và lối sống lành mạnh từ nhỏ là biện pháp hữu hiệu phòng ngừa cao huyết áp. Bệnh nhân cao huyết áp tự phòng ngừa như thế nào? Cao huyết áp là một “thủ phạm” ảnh hưởng đến sức khỏe, do đó để phòng ngừa cần: (1) Giữ tinh thần ổn định: Tâm trạng tốt, ổn định là yếu tố quan trọng giúp duy trì huyết áp ổn định. Căng thẳng thần kinh làm tăng hoạt động giao cảm và tủy thượng thận, tăng huyết áp. Bệnh nhân cao huyết áp cần giữ tâm trạng lạc quan, không lo âu quá mức, kiểm soát cảm xúc, giảm những ý nghĩ tiêu cực. (2) Chú ý vận động, giảm cân nếu thừa cân: Tập thể dục thường xuyên, tham gia thể thao cải thiện hệ tim mạch, giúp sự co giãn mạch máu trở lại bình thường, giảm đường huyết và mỡ máu, phòng và giảm cao huyết áp. Giảm cân cũng là biện pháp hạ huyết áp tốt, ngăn ngừa xơ vữa động mạch. Giảm cân nên kết hợp hạn chế ăn và tăng vận động, không dùng thuốc xổ bừa bãi. (3) Sinh hoạt điều độ, có quy luật: Theo nhịp sinh học, cần ngủ đúng giờ, dậy đúng giờ, ăn đúng bữa. Với bệnh nhân cao huyết áp, nếp sống điều độ là điều kiện đảm bảo huyết áp ổn định, phục hồi sức khỏe. Cần bảo đảm ngủ đủ, tránh suy nghĩ căng thẳng hoặc xem phim, TV kích thích trước khi ngủ 1 giờ. (4) Chế độ ăn ít mỡ, ít cholesterol: Hạn chế chất béo động vật (mỡ lợn, bơ) và thực phẩm nhiều cholesterol (lòng đỏ trứng, trứng cá). Ăn nhiều dầu thực vật (dầu đậu nành, dầu cải) vì chứa acid béo chưa no, giúp đào thải cholesterol, giảm nồng độ cholesterol trong máu. (5) Ăn nhiều thực phẩm giàu i-ốt như rong biển, tảo biển… vì i-ốt giảm sự lắng đọng cholesterol lên thành động mạch, ngăn ngừa xơ vữa mạch. (6) Ăn nhiều rau quả giàu vitamin C: Vitamin C tham gia tạo chất nền gian bào, tham gia phản ứng oxy hóa khử trong cơ thể, giúp hạ cholesterol, giảm lipid máu. (7) Ít ăn thực phẩm kích thích mạnh như ớt cay, trà đặc, cà phê, không hút thuốc, hạn chế rượu. Nên ăn nhiều thức ăn nhạt, giàu protein như đậu phụ, huyết heo… (8) Hạn chế lượng muối: Ăn nhiều muối gây ứ đọng natri-nước, tăng thể tích máu, tăng gánh nặng tim và gây tăng huyết áp. Mỗi ngày không quá 5g muối. (9) Tạo thói quen đi đại tiện đúng giờ mỗi ngày. Ăn nhiều thực phẩm giàu chất xơ như đậu, cần tây… để ức chế hấp thu cholesterol. Tóm lại, người bệnh cao huyết áp cần chú ý từ chế độ ăn, sinh hoạt, tinh thần đến vận động để tự phòng ngừa và kiểm soát bệnh, ngăn ngừa biến chứng và kéo dài tuổi thọ. Trường Xuân dịch
|