PHÒNG NGỪA BỆNH MẠCH VÀNH.-冠心病预防.
1/ Bệnh mạch vành có thể phòng ngừa được không?
Sự hình thành bệnh mạch vành (viết tắt: BNMV) liên quan đến nhiều yếu tố, trong đó chia thành yếu tố không thể đảo ngược và yếu tố có thể đảo ngược. Nhóm không thể đảo ngược chủ yếu gồm di truyền, tuổi tác, giới tính. Nhóm có thể đảo ngược gồm tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, hút thuốc, béo phì, ít vận động, yếu tố tâm lý – tinh thần v.v.
Nghiên cứu y học hiện đại xác nhận, trong số các yếu tố gây BNMV, bốn yếu tố tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, hút thuốc, béo phì có vai trò hàng đầu và có thể điều chỉnh. Nhiều nghiên cứu lâm sàng và cơ bản cho thấy, mảng xơ vữa động mạch – cơ sở bệnh lý của BNMV – có khả năng thoái giảm (tức là có thể cải thiện được). Tích cực loại bỏ các yếu tố nguy cơ sẽ làm giảm tỷ lệ tử vong do BNMV.
Cụ thể, từ thập niên 1960 ở một số nước phát triển đã bắt đầu vận động bỏ thuốc lá, thập niên 1970 chú trọng điều trị tích cực tăng huyết áp, thập niên 1980 khuyến khích tầm soát và điều trị rối loạn mỡ máu – nhờ vậy, tại nhiều quốc gia công nghiệp phương Tây, tỉ lệ tử vong do BNMV giảm liên tục. Ở Mỹ, giai đoạn 1968–1987, nhờ triển khai các biện pháp dự phòng, tỉ lệ tử vong do bệnh tim mạch giảm 25%. Tại Phần Lan – quốc gia có tỉ lệ BNMV cao hàng đầu thế giới – họ đã điều chỉnh chế độ ăn một cách chủ động, kiểm soát huyết áp, giảm hút thuốc, kiểm soát cân nặng… Kết quả, trong 10 năm từ 1972 đến 1982, tỷ lệ tử vong do BNMV ở nam giảm 24%, ở nữ giảm 64%.
Ngoài ra, quá trình hình thành BNMV kéo dài, nếu kịp thời phát hiện và điều chỉnh các yếu tố gây bệnh có thể đảo ngược, ta có thể phòng ngừa hoặc làm chậm sự xuất hiện bệnh mạch vành.
- Nên bắt đầu phòng ngừa bệnh mạch vành từ khi nào?
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến bệnh mạch vành là xơ vữa động mạch. Quá trình tiến triển này thực tế bắt đầu từ thời thơ ấu, trải qua một giai đoạn tiềm ẩn không triệu chứng kéo dài, đến tuổi trưởng thành mới bộc lộ biểu hiện lâm sàng rõ rệt. Tuy nhiên, tổn thương sớm của xơ vữa động mạch vẫn ở giai đoạn có thể hồi phục. Nếu đã sang giai đoạn muộn, những biến đổi trở nên không thể đảo ngược. Vì thế, thời kỳ tốt nhất để phòng ngừa BNMV là ngay từ lúc còn nhỏ. Các điểm chính cần chú ý:
- Chế độ ăn hợp lý, tránh béo phì
- Trẻ em đang tuổi phát triển cần đủ protein, vitamin, khoáng chất, chất xơ và năng lượng cần thiết; tránh thừa mỡ và đồ ngọt.
- Khuyến khích dùng dầu thực vật, hạn chế mỡ động vật, ăn nhạt, hạn chế muối, cân đối thịt – rau, và không thể thiếu rau xanh, trái cây.
- Thường xuyên vận động, tăng cường thể lực
- Hằng ngày cần có thời gian luyện tập thân thể, tham gia thể dục thể thao, giúp tiêu hao năng lượng, duy trì cân nặng hợp lý, phòng ngừa béo phì.
- Vận động cũng cải thiện chức năng tim mạch, tăng sức co bóp cơ tim, hạ trương lực mạch, giúp mạch vành giãn, huyết áp hạ thấp hơn, giảm triglyceride và độ nhớt máu. Những yếu tố này đều có lợi cho việc phòng bệnh mạch vành và cao huyết áp.
- Phòng ngừa tăng huyết áp
- Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ độc lập của BNMV, có mối quan hệ nhân quả với BNMV, do đó cần chú trọng phòng ngừa tăng huyết áp từ nhỏ, đặc biệt với trẻ có tiền sử gia đình (cha mẹ bị tăng huyết áp).
- Nên định kỳ đo huyết áp cho học sinh. Nếu huyết áp nằm gần mức cao của thang chuẩn, cần hướng dẫn chế độ sinh hoạt: giảm cân, tăng hoạt động thể lực, cải thiện dinh dưỡng, giảm muối, tăng cường canxi…
- Tránh tác hại của hút thuốc
- Hiện nay, nhiều trẻ em phải hít khói thuốc thụ động (do người lớn hút) và không ít học sinh tập tành hút thuốc, trở thành thế hệ nghiện thuốc lá mới.
- Cần đẩy mạnh giáo dục y tế, áp dụng biện pháp cần thiết để ngăn trẻ em trở thành nạn nhân của thuốc lá.
- Phòng ngừa cấp I bệnh mạch vành là gì? Nội dung gồm những gì?
Phòng ngừa cấp I là việc can thiệp các yếu tố nguy cơ ở nhóm người chưa mắc bệnh mạch vành, nhằm ngăn cản hoặc trì hoãn sự hình thành xơ vữa động mạch.
Những yếu tố nguy cơ được công nhận gồm:
- Giới tính nam
- Tiền sử gia đình bị BNMV sớm (bố mẹ hoặc anh em ruột phát bệnh nhồi máu cơ tim hay đột tử trước 55 tuổi)
- Hút thuốc (≥10 điếu/ngày)
- Tăng huyết áp
- HDL-C thấp < 0,9 mmol/L (35 mg/dl)
- Đái tháo đường
- Tiền sử mắc bệnh mạch máu não hoặc mạch ngoại vi tắc nghẽn
- Béo phì nặng (trọng lượng vượt ≥30% so với tiêu chuẩn)
Trong các yếu tố này, giới tính và tiền sử gia đình không thể thay đổi, còn lại đều có thể phòng ngừa hoặc điều trị được. Nếu thực hiện tốt các biện pháp phòng ngừa cấp I, ta có thể trì hoãn xơ vữa động mạch, giảm tỷ lệ xuất hiện BNMV. Những biện pháp chủ yếu:
- Kiểm soát tăng huyết áp
- Ở Trung Quốc (và nhiều nước đang phát triển), tỷ lệ tăng huyết áp và hút thuốc đều cao. Do đó, kiểm soát huyết áp trở nên đặc biệt quan trọng.
- Bệnh nhân tăng huyết áp nên ăn nhạt, tránh quá nhiều muối, ăn nhiều rau, đậu (giàu kali) và thực phẩm giàu canxi, tránh rượu, tránh béo phì, kết hợp vận động, giữ tinh thần vui vẻ.
- Chọn thuốc hạ áp cần lưu ý đồng thời kiểm soát các yếu tố nguy cơ khác (mỡ máu, đường máu, fibrinogen, bất thường điện tâm đồ…) để vừa đưa huyết áp về bình thường, vừa giảm được nguy cơ BNMV.
- Hạ mỡ máu
- Một thử nghiệm lâm sàng về giảm cholesterol để phòng BNMV cho thấy, mức giảm nguy cơ BNMV tỉ lệ thuận với mức giảm cholesterol và thời gian duy trì nó.
- Duy trì cholesterol ở mức lý tưởng trong thời gian dài có thể ngăn ngừa BNMV khởi phát hoặc ít nhất không làm nặng thêm bệnh.
- Cần tuyên truyền rộng rãi, giúp mọi người biết rõ mức cholesterol của mình, từ đó có biện pháp điều chỉnh hợp lý.
- Về ăn uống, cần giữ ưu điểm truyền thống như ít chất béo, nhiều rau, giảm bớt nhược điểm như ít protein, ít canxi, nhiều muối. Duy trì tổng cholesterol trong dân cư dưới 5,2 mmol/L (200 mg/dl). Với người trên 6,24 mmol/L (240 mg/dl) nên điều trị bằng kết hợp thuốc và liệu pháp không dùng thuốc dưới sự hướng dẫn của bác sĩ.
- Bỏ thuốc lá
- Thống kê cho thấy, ở Trung Quốc khoảng 2,9–3,1 trăm triệu người hút thuốc, và 2,2 trăm triệu người bị ảnh hưởng gián tiếp (hít khói thuốc thụ động).
- Nghiên cứu cho thấy, một người 25 tuổi, nếu hút 1–9 điếu/ngày, tuổi thọ giảm 4,6 năm; 10–19 điếu giảm 5,5 năm; 20–29 điếu giảm 6,2 năm; trên 40 điếu giảm 8,3 năm.
- Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) từng đặt câu hỏi: “Hút thuốc hay sức khỏe?” để kêu gọi mọi người bỏ thuốc. Quan trọng nhất vẫn là ý chí. Dù có dùng thuốc hay châm cứu hỗ trợ, kết quả cuối cùng vẫn tùy thuộc quyết tâm của mỗi người.
- Tăng cường vận động thể lực
- Vận động là cách bảo vệ sức khỏe hiệu quả. Các hình thức chuyển động đều nhịp như đi bộ, leo cầu thang, chạy bộ, đi xe đạp, bơi tốt hơn một số hình thức khác.
- Nếu mỗi ngày (hoặc ít nhất cách ngày) bạn tập 20–30 phút với mức vừa phải (khoảng 50–70% khả năng gắng sức tối đa), hiệu quả tăng cường chức năng tim mạch rất rõ rệt.
- Điều chỉnh tính cách nhóm A (A-type personality)
- Đặc trưng: cảm giác thời gian gấp gáp, hiếu thắng, dễ kích động, thiếu kiên nhẫn…
- Nghiên cứu West Collaborative (Mỹ) cho thấy, nhóm người tính cách A mắc BNMV gấp 2 lần nhóm B.
- Vì thế, người nhóm A nên có chiến lược giảm stress, bằng liệu pháp tâm lý, khí công, Thái Cực quyền, học cách bình tĩnh, v.v.
- Phòng ngừa cấp II là gì? Nội dung gồm những gì?
Phòng ngừa cấp II là áp dụng các biện pháp cho người đã mắc BNMV, nhằm khống chế tiến triển bệnh, ngăn ngừa biến chứng, giúp họ phục hồi tốt hơn. Tất cả biện pháp phòng ngừa cấp I đều rất quan trọng cho phòng ngừa cấp II. Đồng thời cần tránh các tác nhân khởi phát cơn mạch vành, như: ăn quá no, uống rượu nhiều, làm việc gắng sức, căng thẳng thần kinh, xúc động mạnh, đột ngột nhiễm lạnh…
Trong trường hợp các phương pháp kể trên chưa đạt hiệu quả, cần dùng thuốc (theo hướng dẫn của bác sĩ) với tác dụng phụ thấp, như thuốc giãn mạch vành, thuốc chẹn β, để phòng ngừa cơn BNMV. Nếu có cơn cấp (đau thắt ngực nặng), phải nằm nghỉ hoàn toàn, lập tức dùng thuốc giãn mạch vành, tốt nhất điều trị tại chỗ, đợi tình trạng tương đối ổn mới chuyển viện. Cách làm này giúp giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim. Khi bệnh ổn định dần, bắt đầu tập luyện phục hồi theo lộ trình.
Những năm gần đây, nhiều nhà khoa học khuyến khích dùng liều thấp aspirin dài hạn, có tác dụng chống kết tập tiểu cầu, ngăn ngừa BNMV và nhồi máu cơ tim cấp.
Làm thế nào để phòng ngừa nhồi máu cơ tim?
Để ngăn ngừa nhồi máu cơ tim, ngoài việc tham khảo các nguyên tắc và biện pháp được nêu trong phòng ngừa cấp II của bệnh mạch vành, trong sinh hoạt thường ngày cũng cần chú ý những điểm sau:
- Tuyệt đối không mang vác vật nặng quá sức.
- Khi bê vác vật nặng, cơ thể buộc phải cúi gập và nín thở; về mặt sinh lý, điều này tương tự như khi dùng sức rặn đại tiện, đây là nguyên nhân hay gặp khiến bệnh nhân cao tuổi bị mạch vành dễ bị nhồi máu cơ tim.
- Giữ tinh thần thư giãn, sống vui vẻ, duy trì tâm trạng bình hòa.
- Khi đối diện với bất cứ việc gì, hãy bình tĩnh xử lý. Nên tham gia các hoạt động thể dục thể thao vừa phải, tránh những giải thi đấu cạnh tranh quyết liệt. Trường hợp vẫn tham gia, cần lấy mục đích luyện tập để nâng cao sức khỏe, tận hưởng niềm vui chứ không nên đặt nặng thành tích.
- Nhìn chung, để đạt hiệu quả rèn luyện, mỗi tuần nên có ít nhất 3 buổi tập thể dục nghiêm túc, mỗi lần ít nhất 20 phút nhưng cũng không nên vượt quá 50 phút. Lúc bắt đầu, cần làm nóng cơ thể (như giơ tay, duỗi chân…). Khi kết thúc, nên thả lỏng một chút, không nên dừng lại đột ngột hoặc tập xong là nằm ngay xuống giường, vì sẽ dễ gây hoa mắt chóng mặt, không tốt cho tim.
- Trước khi tập, cần kiểm tra khả năng chịu đựng thể lực. Không nên vận động quá độ, vì huyết áp có thể tăng đột ngột, gây mệt mỏi quá mức cho thất trái, làm nguy cơ suy tim cao hơn.
- Mức tập luyện có thể dựa trên độ tuổi và tình trạng sức khỏe. Nếu tim – phổi bình thường, có thể dựa vào nhịp tim tối đa an toàn sau khi tập: công thức là 220–(tuổi)220 – (tuổi)220–(tuổi) × 0,75. Ví dụ, bạn 60 tuổi thì (220–60)×0,75=120(220 – 60) × 0,75 = 120(220–60)×0,75=120. Nếu thường xuyên vượt ngưỡng 120 lần/phút, sẽ có tác động không tốt cho cơ thể.
- Không nên tắm (tắm toàn thân) khi quá no hoặc quá đói.
- Nhiệt độ nước tốt nhất xấp xỉ nhiệt độ cơ thể. Nước quá nóng sẽ làm mạch máu da giãn mạnh, một lượng lớn máu dồn ra bề mặt cơ thể, dẫn đến thiếu máu não, thiếu máu tim.
- Thời gian tắm không nên quá dài; Pphòng tắm thường ngột ngạt, không thoáng khí, khiến mức chuyển hóa cơ thể tăng, dễ gây thiếu oxy, mệt mỏi, nhất là đối với bệnh nhân cao tuổi, người bị bệnh mạch vành. Trường hợp bệnh mạch vành nặng, tốt nhất nên tắm với sự hỗ trợ của người khác.
- Chú ý sự biến đổi khí hậu.
- Trong điều kiện giá rét hoặc khi khối không khí lạnh tràn về mạnh, mạch vành có thể co thắt, dẫn đến hình thành huyết khối và gây nhồi máu cơ tim cấp. Khi thời tiết thay đổi đột ngột, áp suất không khí thấp, người bệnh mạch vành thường cảm thấy khó chịu rõ rệt.
- Tại Trung Quốc, người ta nhận thấy thời tiết lạnh, gió lớn, mưa dầm là những yếu tố có thể gây nhồi máu cơ tim. Vì vậy, khi thời tiết xấu, bệnh nhân mạch vành cần giữ ấm, có thể tăng cường dùng thuốc giãn mạch vành để phòng ngừa.
- Các biện pháp bảo vệ trong sinh hoạt hằng ngày rất quan trọng, đồng thời cần hiểu và nhận biết dấu hiệu tiền triệu nhồi máu cơ tim để xử trí kịp thời.
- Khoảng 70% bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp có triệu chứng báo trước, gồm:
- Cơn đau thắt ngực đột nhiên nặng hơn rõ rệt.
- Đau thắt ngực dữ dội hơn bình thường, ngậm nitroglycerin khó cải thiện.
- Đau kèm buồn nôn, nôn mửa, đổ mồ hôi nhiều hoặc nhịp tim chậm rõ rệt.
- Trong lúc đau thắt ngực, xuất hiện suy tim hoặc khiến suy tim vốn có nặng thêm.
- Điện tâm đồ: ST chênh lên nhất thời hoặc hạ xuống đáng kể, T âm hoặc T nhọn cao, kèm loạn nhịp.
- Ở người cao tuổi bị bệnh mạch vành, đột ngột xảy ra rối loạn nhịp, suy tim, sốc, khó thở hoặc ngất mà không rõ nguyên nhân.
- Các dấu hiệu tiền triệu này thường xuất hiện trong vòng 1 tuần trước khi phát bệnh, một số trường hợp sớm hơn vài tuần, có đến 40% xảy ra 1–2 ngày trước cơn nhồi máu. Có trường hợp lặp lại nhiều lần.
- Khi xảy ra các triệu chứng nói trên, cần hết sức chú ý và xử trí kịp thời. Trước hết, bệnh nhân nên nằm nghỉ tuyệt đối, giữ yên tĩnh, tránh căng thẳng, ngậm nitroglycerin dưới lưỡi. Nếu có điều kiện, nên mời bác sĩ đến khám tại chỗ và sẵn sàng chuyển bệnh nhân đến bệnh viện. Việc di chuyển phải êm ái, bệnh nhân không nên tự đi bộ, nếu tương đối ổn định thì nằm cáng để đưa đi. Trên đường, có thể duy trì hoặc ngắt quãng thuốc giãn mạch vành. Nếu triệu chứng nặng, điện tâm đồ thay đổi rõ, nên xử trí như nhồi máu cơ tim. Những người có dấu hiệu báo trước và được can thiệp kịp thời, một số tránh được nhồi máu cơ tim cấp; hoặc nếu xảy ra, phạm vi nhồi máu cũng nhỏ hơn, biến chứng ít và tỷ lệ hồi phục cao hơn đáng kể.
Làm sao phòng ngừa tái phát nhồi máu cơ tim sau khi khỏi bệnh?
Trong khoảng 20 năm trở lại đây, nhờ tăng cường theo dõi và cải thiện điều trị, tỷ lệ tử vong trong viện của bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp đã giảm đáng kể, từ khoảng 30% xuống dưới 10%. Tuy nhiên, tỷ lệ tái nhồi máu hoặc nhiều lần nhồi máu lại tăng, trở thành nguyên nhân chính gây tử vong sau khi đã qua được cơn nhồi máu đầu. Vì thế, ngoài việc điều trị tích cực ở giai đoạn cấp, cần chú trọng phục hồi và phòng ngừa cấp II sau nhồi máu cơ tim, nhằm kéo dài tuổi thọ, nâng cao chất lượng sống và khả năng lao động. Các biện pháp phòng ngừa cấp II sau nhồi máu cơ tim gồm:
- Tuyên truyền giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân và gia đình, giúp họ hiểu biết về căn bệnh, nhận rõ ý nghĩa của các biện pháp phòng – trị để giảm lo âu và phối hợp tích cực.
- Bố trí chế độ ăn hợp lý, giảm tổng chất béo, chất béo bão hòa, cholesterol; người thừa cân cần giới hạn năng lượng. Nếu sau 3 tháng điều chỉnh ăn uống mà mỡ máu vẫn cao, nên dùng thuốc điều chỉnh mỡ máu dựa trên đặc điểm rối loạn lipid cụ thể.
- Thuyết phục bệnh nhân bỏ thuốc lá.
- Hút thuốc không chỉ là yếu tố nguy cơ gây xơ vữa động mạch, mà còn là nguy cơ lớn gây đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim và tái nhồi máu.
- Những ai nhồi máu cơ tim đã hồi phục nhưng tiếp tục hút, khả năng tái phát gấp 2 lần so với người không hút hoặc đã bỏ.
- Nghiên cứu đa trung tâm tại Na Uy cho thấy, trong vòng 17 tháng sau cơn nhồi máu, nhóm bỏ thuốc có tỷ lệ tái nhồi máu giảm 45% so với nhóm vẫn hút; sau 3 năm, tỷ lệ tử vong do bệnh tim và tái nhồi máu đều thấp hơn hẳn ở nhóm bỏ thuốc.
- Hút thuốc thụ động cũng nguy hiểm tương tự, vì vậy, cần động viên thân nhân bệnh nhân bỏ thuốc, và cố gắng tạo môi trường làm việc không khói thuốc.
- Cơ chế hút thuốc có thể làm co thắt mạch vành, kích thích tiểu cầu kết tụ, giảm dự trữ mạch vành và tuần hoàn bàng hệ. Với người tăng cholesterol máu, mức độ hút thuốc tỉ lệ thuận với mức độ nặng của xơ vữa động mạch vành, nên nguy cơ tái nhồi máu càng cao.
- Hoạt động thể lực, tập luyện phù hợp
- Có thể đi bộ, tập thể dục, Thái Cực quyền, khí công… để tăng cường sức khỏe.
- Với bệnh nhân kèm tăng huyết áp hoặc đái tháo đường, cần kiểm soát thỏa đáng các bệnh này.
- Dùng thuốc chống kết tập tiểu cầu
- Tiểu cầu đóng vai trò lớn trong hình thành xơ vữa động mạch, co thắt mạch vành, hình thành huyết khối hay tắc vi tuần hoàn cơ tim, dẫn đến thiếu máu cơ tim, nhồi máu cơ tim hoặc đột tử.
- Aspirin là thuốc chống kết tập tiểu cầu rẻ tiền, dễ tìm, ít tác dụng phụ, thích hợp dùng lâu dài.
- Dùng thuốc chẹn β (β-blocker)
- Nhiều thử nghiệm lâm sàng chứng minh, thuốc chẹn β có thể làm giảm tỷ lệ tái nhồi máu, giảm đột tử, giảm tử vong do tim, cũng như giảm tử vong chung sau nhồi máu cơ tim. Các thuốc thường dùng: Propranolol, Atenolol, Metoprolol…
- Theo dõi điều trị lâu dài
- Sau khi qua cơn nhồi máu cấp, bệnh nhân nên tiếp tục uống thuốc đều dưới hướng dẫn của bác sĩ, tái khám định kỳ để kiểm tra tình trạng và điều chỉnh thuốc.
- Nếu lại xuất hiện cơn đau thắt ngực, cần đi viện ngay để ngăn chặn tái nhồi máu.
Vì sao nói nhồi máu cơ tim tái phát nguy hiểm hơn?
Nhồi máu cơ tim (NMCT) cấp là một bệnh tổn thương tim nghiêm trọng. Tỷ lệ tử vong trong giai đoạn cấp lần đầu khoảng 15%, nhưng nếu bị lại (lần 2) thì tăng đến 35% trở lên.
- Tái phát NMCT có thể xảy ra ngay trên vùng nhồi máu cũ đã hoại tử, khiến diện tích hoại tử tiếp tục mở rộng.
- Cũng không ít trường hợp mạch vành khác bị tắc, dẫn đến vùng nhồi máu mới, làm tăng thêm diện tích tổn thương, dễ phát sinh biến chứng nặng.
- Tùy theo diện nhồi máu lớn – nhỏ, cung lượng tim có thể giảm nhiều hay ít, thậm chí suy tim, sốc tim. Nếu ảnh hưởng đến hệ dẫn truyền, có thể gây nhịp tim quá chậm, thậm chí hội chứng Adams-Stokes.
- Nhồi máu càng lớn, tính bất ổn điện trong cơ tim càng cao, ngưỡng rung thất giảm, dễ xuất hiện rung thất – một dạng loạn nhịp gây tử vong. Tái nhồi máu cũng dễ hình thành phình vách thất, thậm chí vỡ tim.
- Về mặt tâm lý, khi bị tái nhồi máu, bệnh nhân càng căng thẳng, sợ hãi, ảnh hưởng xấu đến quá trình phục hồi, hoặc làm bệnh nặng lên bất ngờ.
Vì sao bệnh nhân nhồi máu cơ tim không nên ăn quá no hay tắm ngay sau bữa no?
Ta thường nghe hoặc chứng kiến trường hợp bệnh nhân nhồi máu cơ tim, vì không cưỡng nổi lời mời mọc ân cần của người thân hay trước món ngon cao lương mà ăn quá nhiều, dẫn đến tái phát nhồi máu và thậm chí tử vong. Cũng có người vừa ăn no xong đã đi tắm, kết cục ngã khuỵu trong nhà tắm, dù cấp cứu vẫn không qua khỏi.
Lý do:
- Trong cơ thể bình thường, hệ mạch máu ở dạ dày – ruột rất phong phú. Sau bữa ăn, để đáp ứng tiêu hóa, cơ thể tăng cung lượng tim, dồn máu đến các cơ quan vùng bụng.
- Ở người vừa bị nhồi máu cơ tim, một phần cơ tim hoại tử, mất chức năng co bóp, tim còn yếu. Nếu ăn quá no, cung lượng tim càng phải tăng, gánh nặng tim càng lớn, đồng thời có thể gây phản xạ dạ dày – vành làm co thắt động mạch vành, giảm máu nuôi cơ tim, khiến thiếu máu – thiếu oxy trầm trọng hơn, suy tim nặng thêm.
- Mặt khác, khi ăn quá no, thần kinh phế vị (dây X) cũng bị kích thích mạnh, làm nhịp xoang chậm, dễ dẫn đến ngừng tim.
- Nếu tắm ngay sau bữa no, rủi ro càng cao hơn, vì nước nóng khiến giãn mạch da, tim và não thiếu máu thêm, từ đó dễ gây đột tử.
Vì vậy, bệnh nhân nhồi máu cơ tim (cả giai đoạn cấp lẫn hồi phục) nên ăn uống điều độ, tránh ăn quá no, và không nên tắm ngay sau bữa ăn.
Trường Xuân dịch