Ba cách trị kiết lỵ trong dân gian
Quan điểm của Đông y về nguyên nhân và cơ chế bệnh kiết lỵ
Kiết lỵ chủ yếu biểu hiện tăng số lần đi cầu, đau bụng, mót rặn (đi chưa hết phân), phân có máu – mủ. Bệnh hay xảy ra vào mùa hạ – thu.
Dựa trên y văn cổ và quan điểm danh gia cận đại, nguyên nhân – cơ chế có thể tóm tắt:
1/ Ngoại cảm thời tà: Nhiệt thấp (thử thấp), độc dịch xâm phạm vào tạng phủ, khiến thấp – nhiệt ứ đọng, hoặc khí độc lan rộng, gây cản trở khí huyết, dồn đọng với thử thấp, độc dịch rồi sinh mủ – máu (hóa thành kiết lỵ thể thấp nhiệt hay thể dịch độc). Thường “nhiệt nhiều tổn huyết → đỏ (xích)”, “thấp nhiều thương khí → trắng (bạch)”, “khí huyết đều tổn → đỏ trắng lẫn (xích bạch).” Ngoài thử thấp, nếu hàn thấp xâm nhập dạ dày – ruột, hàn ngưng, thấp trệ, khí huyết bế tắc, phối hợp chất cặn bã bẩn, cũng có thể gây đi lỵ.
2/ Nội thương đồ ăn: Ăn phải thực phẩm ôi thiu, hoặc ăn thường xuyên nhiều đồ béo ngọt, sinh thấp nhiệt tích tụ, làm khí huyết ngưng tắc, hóa mủ máu (thể thấp nhiệt). Nếu thấp nhiệt đọng lâu, dễ hao âm huyết → kiết lỵ thể âm hư. Hoặc ăn nhiều thức sống lạnh, hại tỳ vị, nước đọng trong, thành hàn thấp ở ruột, sinh kiết lỵ mủ máu (thể hàn thấp). Thức ăn bẩn có thể riêng lẻ thành bệnh hoặc kết hợp với tà khí bên ngoài (lạnh, nóng…) mà phát.
3/ Nội thương thất tình: Tâm trạng uất ức, giận dữ hại can, can khí phạm tỳ, khí huyết ứ đọng, thức ăn khó tiêu, lâu ngày dồn đọng sinh kiết lỵ (từng đợt). Hoặc lo nghĩ nhiều làm tỳ hư, đồ ăn ứ trệ, tổn hại khí huyết, lâu ngày cũng sinh lỵ. Đây là yếu tố thúc đẩy kiết lỵ mạn (gọi “hưu tức lỵ” – lỵ nghỉ rồi tái phát).
4/ Tỳ thận hư: Tỳ thận hư yếu thường liên quan mật thiết giai đoạn lỵ kéo dài. Lỵ lâu không dứt làm tỳ vị thương tổn, ảnh hưởng đến thận. Hoặc hàn thấp tấn công phá “trung dương,” lâu dần khiến mệnh môn hỏa suy; thấp nhiệt làm hao tân dịch, khiến thận âm suy kiệt. Ngoài ra, người vốn thể chất hư nhược (tỳ thận yếu), lại gặp hàn thấp hoặc vì lỵ nhiệt dùng thuốc hàn lương quá liều, làm nguyên khí càng suy, sinh kiết lỵ thể dương hư.
Bệnh chủ yếu ở ruột (trường), nhưng ruột gắn chặt với dạ dày (vị). Nếu tà khí ủ lâu xông ngược lên dạ dày, hoặc lỵ lâu làm hao khí chính, khiến dạ dày hư nghịch → bệnh “tiểu sả bất tiến thực” (không ăn uống được), gọi là “cấm khẩu lỵ.” Nếu kéo dài mãi, chính khí suy kiệt, tà còn vướng, hoặc điều trị sai (chưa hết tà đã dùng thuốc co se sớm), hoặc ăn uống kiêng cữ không đúng, quan hệ tình dục quá độ… khiến lỵ dai dẳng, lúc phát lúc lui, gọi “hưu tức lỵ.”
Chú ý gì khi biện chứng kiết lỵ trong Đông y?
“Cảnh Nhạc Toàn Thư – Kiết Lỵ” nói: “Phàm trị lỵ tật, tối đương sát hư thực, biện hàn nhiệt, thử tả lỵ trung tối đại quan hệ.” (凡治痢疾,最当察虚实、辨寒热,此泻痢中最大关系。)Muốn trị kiết lỵ, trước hết phải xác định hư – thực, phân biệt hàn – nhiệt. Đây là quan trọng nhất. Việc biện chứng phải kết hợp tứ chẩn (vọng, văn, vấn, thiết) thu thập đủ thông tin, tập trung vào mấy điểm:
Thường trắng (hoặc đục như nước mũi) → phần lớn là hàn, còn nông (ở khí), tức “thuần bạch vô nhiệt chứng,” nhưng nếu lỵ lâu cũng có thể thấy.
Thường đỏ tươi → thuộc nhiệt, ở sâu (huyết), “huyết bị nhiệt ép.”
Đỏ trắng lẫn → khí huyết đều thương. Đỏ nhiều trắng ít → nhiệt; trắng nhiều đỏ ít → hàn.
Đỏ tím sẫm → ứ huyết, có thể do “nhiệt đốt sâu, thấp độc làm ứ.” Hoặc tím xạm và loãng → dương hư…
Nhìn chung, cần vừa nhìn màu, vừa xem tính chất (đặc, loãng, hôi…) mà tổng hợp phân tích.
Nếu do ngoại tà, sau đi cầu thì đỡ bớt. Hàn tà → bụng đau co rút; nhiệt tà → đau quặn, hậu môn nóng rát. Trường hợp tích tụ → đau bụng cứng tức, ấn đau.
Thể hư → mót rặn mà đi xong không giảm. Thể hư hàn → đau âm ỉ, thích ấm, thích xoa, không rặn nhiều. Khí hư, khí sắp thoát → thường đi nhiều lần. Khí hạ hãm → đi xong càng mót. Âm huyết hư → thường cảm giác ngồi lâu mà không ra.
Nếu chỉ toàn mủ máu, ít cặn phân → bệnh nặng. Có cặn phân → tương đối nhẹ.
Nếu giảm số lần đi ngoài nhưng lại thấy chướng bụng, nôn, bứt rứt, thở gấp, sốt cao, mạch căng… → tà độc còn mạnh, bốc lên.
Nếu lỵ kèm “cấm khẩu không ăn được,” bệnh nhân lả, nấc… là dấu hiệu vị khí sắp tan.
Nếu lỵ ra máu mủ đặc, khát, co rút gân, mặt môi đỏ lựng, mạch gấp to → tân dịch sắp cạn.
Nếu liên tục đi ngoài, hoặc không kiểm soát, hoặc bỗng không thấy lỵ nhưng cơ thể kiệt quệ, sợ lạnh, tứ chi lạnh, mạch yếu… → dương khí sắp thoát. Đều là dấu hiệu nguy kịch, cần lưu tâm đặc biệt.
Nguyên tắc chữa kiết lỵ theo Đông y
Bất kể hư hay thực, trong ruột luôn có tích trệ, khí huyết tắc. Vì vậy, trục tích, điều khí, hòa huyết là nguyên tắc cơ bản. Tuy nhiên, tùy tình hình cụ thể hư – thực, cấp – mạn mà gia giảm.
Giai đoạn đầu, bụng đau, mót rặn, phân nhầy mủ máu, lưỡi vàng nhờn, mạch huyền hoạt và thực→ đa số là thực (nhiệt). Nên “thanh nhiệt hóa thấp, giải độc,” kèm hành khí hoạt huyết đạo trệ, không nên dùng thuốc cố sáp như Anh túc xác, Mẫu lệ, Long cốt, Kha tử (vì sẽ “Quan môn lưu khấu” (关门留寇) là đóng cửa giữ giặc.
Nếu kèm lạnh – nóng, đau nhức cơ thể→ nên phối thêm “giải biểu.” Nếu kèm ứ thức ăn (nôn mùi chua, ợ hôi, đầy bụng) → thêm thuốc “tiêu đạo.” Nếu tà khí cực thịnh, phát bệnh nhanh chóng, phân máu tươi tím, phiền táo, hôn mê, co giật là “dịch độc lỵ,” phải thanh nhiệt lương huyết giải độc, kèm thuốc mở khiếu chống co giật. Nếu tà xông lên vị, gây “cấm khẩu lỵ,” nên “thanh nhiệt giải độc, hòa vị giáng nghịch.”
Bệnh kéo dài thì phần nhiều là hư. Nếu tỳ dương không vận hóa, hàn – ẩm ứ đọng tại trung tiêu điều trị nên “ôn trung lý tỳ.” Nếu bệnh lâu khiến tỳ thận đều hàn, cửa không kiên cố (quan môn bất cố nên “ôn bổ cố sáp,” tránh thuốc công phạt mạnh. Nếu lỵ lâu, không ăn được, mạch yếu điều trị nên “bổ tỳ kiện vị, ích khí cố thoát.” Nếu lỵ dai dẳng, lúc phát lúc lui lâu năm, phần nhiều do chữa không kịp lúc hoặc dùng thuốc cầm sớm quá, khiến “chính hư tà lưu,” hoặc ăn uống thất thường, quan hệ quá độ… Gọi đó là “hưu tức lỵ,” điều trị nên“phù chính, khử tà.”
Tóm lại, “nhiệt lỵ thì thanh, hàn lỵ thì ôn, lỵ mới phát có thực chứng phải thông, lỵ lâu ngày có hư cần bổ. Nếu hàn – nhiệt lẫn lộn thì vừa thanh vừa ôn; Hư – thực lẫn lộn thì dùng phép vừa thông vừa sáp. Nếu phân đỏ nhiều nên chú trọng thuốc dưỡng huyết, phân trắng nhiều nên chú trọng thuốc dưỡng khí. Bệnh sơ khởi phần nhiều là thực, bệnh lâu ngày thường thuộc hư. Lỵ hay tái phát (hưu tức lỵ) thường là gốc hư ngọn thực (bản hư tiêu thực). Trong khi điều trị, cần phải nắm vững cân bằng giữa khứ trừ bệnh tà và phù trợ chính khí, đồng thời luôn chú ý bảo vệ vị khí là căn bản.
Kiết lỵ trong Đông y có thể tương ứng một số bệnh lý hiện đại như lỵ do vi khuẩn (cấp hoặc mạn), lỵ a-míp (cấp hoặc mạn), viêm loét đại tràng không đặc hiệu (mạn), viêm đại tràng mạn, viêm đại tràng co thắt dị ứng, ngộ độc thức ăn do vi khuẩn, rối loạn hấp thu… Khi biểu hiện lâm sàng phù hợp với chứng trạng kiết lỵ của Đông y, có thể tham khảo phác đồ biện chứng luận trị.
ĐÔNG Y ĐIỀU TRỊ KIẾT LỴ CẤP TÍNH NHƯ THẾ NÀO?
Kiết lỵ cấp bao gồm các thể lỵ do thấp nhiệt, lỵ do hàn thấp, lỵ do dịch độc. Nếu được điều trị kịp thời và đúng cách thì tiên lượng thường tốt. Nhưng nếu bỏ sót hoặc trị sai, bệnh có thể kéo dài thành kiết lỵ mạn hoặc tà độc xâm nhập sâu, quấy nhiễu thần minh, gây biến chứng như ngất (quyết thoát) và hôn mê, thậm chí tử vong.
1/ Thể thấp nhiệt
Triệu chứng: đau bụng, mót rặn, phân nhầy lẫn đỏ trắng, hậu môn nóng rát, tiểu ít đỏ, rêu lưỡi nhờn vàng, mạch hoạt sác.
Phép trị: Thanh nhiệt giải độc, điều khí hành huyết. Dùng Thược Dược Thang gia giảm, bệnh sơ khởi thường bỏ Nhục Quế, thêm Kim Ngân Hoa gồm: Xích Thược 15g, Đương Quy 9g, Hoàng Liên 5g, Binh Lang 5g, Mộc Hương 5g, Sinh Đại Hoàng 9g, Hoàng Cầm 9g, Kim Ngân Hoa 10g, Chích Cam Thảo 5g. Toàn phương có tác dụng thanh nhiệt giải độc, điều khí hành huyết, là phương dược chủ yếu dùng để điều trị chứng kiết lỵ thấp nhiệt.
Một số trường hợp cụ thể:
Nếu lỵ giai đoạn đầu kèm triệu chứng biểu như sốt, sợ lạnh, đau mình mẩy, mạch Phù – Sác, có thể dùng cách giải biểu với Hoạt Nhân Bại Độc Tán. Trong đó dùng Đảng Sâm 10g toạ trấn trung châu (Trấn giữ ở giữa)kiện trung, phối hợp nhị“Hoạt” (Khương Hoạt 10g, Độc Hoạt 10g), nhị“Hồ” (Tiền Hồ 10g, Sài Hồ 10g) và Xuyên Khung 10g để đưa tà ra ngoài (theo phép “Nghịch lưu vãn chu” (逆流挽舟) kéo thuyền ngược dòng” của Du Gia Ngôn). Thêm Chỉ Xác 8g để khai khí ở trung tiêu, Phục Linh 8g trừ thấp ở hạ tiêu, Cát Cánh 8g trị tê ở thượng tiêu, Cam Thảo 6g hòa hợp các vị thuốc.
Nếu biểu tà chưa giải mà lý nhiệt đã mạnh (sốt, ra mồ hôi, mạch gấp), dùng Cát Căn Cầm Liên Thang giải biểu, thanh lý: Cát Căn 15g, Hoàng Cầm 9g, Hoàng Liên 9g, Chích Thảo 6g.
Khi đã giải xong biểu mà lỵ vẫn chưa dứt, có thể thêm Hương Liên Hoàn (Hoàng Liên + Mộc Hương) để điều khí thanh nhiệt.
Kiết lỵ thường kèm tích thực thức ăn. Nếu lỵ không thông, đau bụng sợ ấn, rêu nhờn, mạch hoạt, thiên về thấp → thêm Mộc Hương Binh Lang Hoàn. Thiên về nhiệt → dùng Chỉ Thực Đạo Trệ Hoàn để hành khí trừ trệ, phá tích tả nhiệt.
Nếu nhiệt nhiều hơn thấp, phân đỏ nhiều trắng ít, miệng khô khát, dùng Bạch Đầu Ông Thang (trong phần chữa tiêu chảy mạn) chủ đạo để thanh nhiệt, lương huyết, giải độc, gia thêm Ngân Hoa 10g, Địa Du 10g, Xích Thược 10g, Đan Bì 10g…
Nếu thấp nặng hơn nhiệt, phân trắng nhiều đỏ ít, tức ngực rõ, có thể phối hợp Vị Linh Thang (xem phần chữa tiêu chảy cấp) để đồng thời xử lý.
2/ Thể dịch độc lỵ
Triệu chứng: Phát bệnh đột ngột, phân ra mủ – máu tươi, đau bụng dữ dội, mót rặn nặng hơn thể thấp nhiệt, hoặc sốt cao, khát, nhức đầu, bứt rứt, nặng thì hôn mê, co giật, lưỡi đỏ sẫm, rêu vàng khô, mạch hoạt sác.
Phép trị: Thanh nhiệt lương huyết, giải độc.
Phương thuốc: Bạch Đầu Ông Thang hợp Thược Dược Thang làm bài chủ, có thể thêm Đan Bì 10g để tăng khả năng lương huyết, giải độc, cầm lỵ.
Nếu bệnh nhân lâm vào tình trạng thần hôn nói sảng, hoặc co giật, mạch căng mảnh, lưỡi đỏ khô, rêu vàng, tức là nhiệt độc xâm phạm vào营血 (doanh huyết), nên phối thêm Tê Giác Địa Hoàng Thang (dùng Thủy Ngưu Giác 30g thay Tê Giác, Sinh Địa 30g, Xích Thược 12g, Đan Bì 9g) và uống kèm Tử Tuyết Đan, Chí Bảo Đan (2–3g) để thanh nhiệt, lương huyết, khai khiếu. Nếu nhiệt cực gây động phong, co giật, thêm bột Sừng Linh Dương 0,3g (uống sống), Câu Đằng 10g (cho vào sau), Thạch Quyết Minh 15g (nấu trước) để bình can, trấn kinh.
Trường hợp tiêu chảy ồ ạt dẫn đến thoát dương, cần lập tức dùng Sâm Phụ Thang (Nhân Sâm 9g, Phụ Tử chế 6g) hoặc Độc Sâm Thang để hồi dương cứu nghịch, sau đó tùy chứng thêm bớt.
3/ Thể hàn thấp lỵ
Triệu chứng: Phân đỏ – trắng lẫn nhau, trắng nhiều hơn đỏ, hoặc chỉ “bã trắng” đục, kèm đau bụng co rút, mót rặn, ăn uống kém ngon, đầy tức thượng vị, đầu nặng, người uể oải, tiểu nhạt, lưỡi nhạt, rêu trắng nhờn, mạch nhu hoạt.
Phép trị: Ôn hóa hàn thấp, hành khí hòa huyết.
Phương thuốc: Dùng Vị Linh Thang gia Đương Quy 10g, Mộc Hương 6g, Pháo Khương 10g, Chỉ Thực 10g… Bài có tác dụng kiện tỳ, ôn hóa, hành khí, hoạt huyết, là chủ dược chữa lỵ thể hàn. Vì lỵ kỵ lợi tiểu, nên giảm hoặc bỏ Trạch Tả, Trư Linh.
ĐÔNG Y ĐIỀU TRỊ KIẾT LỴ MẠN TÍNH NHƯ THẾ NÀO?
Kiết lỵ mạn, như hưu tức lỵ, âm hư lỵ, hư hàn lỵ, lao lỵ…, có thể do lỵ cấp không chữa dứt hoặc ngay từ đầu đã mạn. Thường bệnh quấn quýt dai dẳng, khó khỏi, nhưng nếu biện chứngchính xác, điều trị tinh tế thoả đáng, đa số vẫn có thể đỡ hoặc khỏi; Ngược lại nếu sai hoặc không kiêng cữ, bệnh dần nặng, thậm chí tổn thương.
(1) Hưu tức lỵ
Triệu chứng: Lúc phát lúc ngừng, kéo dài không dứt, ăn ít, mệt mỏi, sợ lạnh, hay nằm. Thường tái phát do ăn uống sai, sinh hoạt bất cẩn, cảm ngoại tà, lao lực, lo buồn… Mỗi lần phát: Đau bụng, mót rặn, phân kèm nhầy hoặc lẫn đỏ, lưỡi nhạt, rêu nhờn, mạch nhu nhuyễn hoặc hư sáp.
Phép trị: Ôn trung thanh tràng, kèm điều khí tiêu trệ.
Phương thuốc: Liên Lý Thang gia giảm: Đảng Sâm 10g, Bạch Truật sao 10g, Can Khương 10g, Cam Thảo 6g, Hoàng Liên 5g, Phục Linh 10g, Binh Lang 10g, Mộc Hương 6g, Chỉ Thực 10g.
Nếu do suy nghĩ, lao tâm → phối hợp Quy Tỳ Thang: Bạch Truật sao 15g, Phục Thần 15g, Hoàng Kỳ 15g, Long Nhãn Nhục 15g, Toan Táo Nhân 15g, Đảng Sâm 10g, Mộc Hương 6g, Cam Thảo sao 6g, Đương Quy 3g, Viễn Chí 3g, Sinh Khương 6g, Đại Táo 5 quả.
Nếu do uất giận → phối hợp Thống Tả Yếu Phương (xem Đông y chữa tiêu chảy mạn) để “ức can, phù tỳ.” Nếu tỳ dương quá yếu, ruột tích lạnh, gặp lạnh là phát, phân trắng đục, mệt mỏi, lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch trầm → dùng Ôn Tỳ Thang: Đại Hoàng 12g, Phụ Tử chế 9g (sắc lâu), Can Khương 6g, Nhân Sâm 9g (sắc riêng lửa nhỏ), Cam Thảo 3g, Đương Quy 10g, Quan Quế 6g, Mộc Hương 10g để ôn trung tán hàn, tiêu trệ.
(2) Âm hư lỵ
Triệu chứng: Tiêu ra lẫn mủ máu, hoặc máu tươi đặc, đau vùng rốn, mót rặn mà phân không ra, ăn ít, phiền muộn, miệng khô, lưỡi đỏ sẫm, ít rêu hoặc nhẵn bóng ít tân dịch, mạch tế sác.
Phép trị: Dưỡng âm thanh tràng.
Phương thuốc: Hoàng Liên A Giao Thang bỏ Kê tử hoàng (trứng) thêm Đương Quy, Pháo Khương, Qua Lâu, Cam Thảo: Hoàng Liên 5g, Hoàng Cầm 8g, A Giao 10g (nung chảy), Bạch Thược 10g, Đương Quy 10g, Pháo Khương 5g, Qua Lâu 10g, Cam Thảo 5g.
Nếu nóng hại tân dịch, khát, tiểu ít, lưỡi khô → thêm Sa Sâm 10g, Thạch Hộc 15g; Nếu phân ra máu nhiều → thêm Đan Bì, Xích Thược, Mặc Hạn Liên, Địa Du than (mỗi thứ 10g) để lương huyết cầm máu; Nếu còn thấp nhiệt (đắng miệng, hậu môn nóng rát) → thêm Hoàng Bá, Tần Bì (mỗi thứ 10g) để thanh giải thấp nhiệt.
(3) Hư hàn lỵ
Triệu chứng: Phân loãng kèm “Bạch đỗng” (白冻) bã trắng, có khi không kiểm soát, hoặc đau âm ỉ bụng, ưa ấm, ưa xoa, ăn ít, mệt mỏi, lạnh tay chân, lưng gối mỏi, lưỡi nhạt rêu trắng, mạch trầm nhỏ yếu.
Thể nhẹ: Ôn trung, trừ hàn, kiện tỳ, hóa thấp. Dùng Phụ Tử Lý Trung Hoàn: Phụ Tử chế 10g (sắc trước 45–60’), Đảng Sâm 10g, Can Khương 5g, Bạch Truật sao 9g, Cam Thảo sao 6g. Có thể gia Nhục Đậu Khấu sao, Phục Linh mỗi 9g để hỗ trợ công dụng kiện tỳ táo thấp.
Thể nặng: Ôn bổ tỳ thận, thu sáp cố thoát. Dùng Đào Hoa Thang hoặc Chân Nhân Dưỡng Tạng Thang.
Đào Hoa Thang: Xích Thạch Chi 30g, Can Khương 9g, Gạo tẻ 30g.
Chân Nhân Dưỡng Tạng Thang: Đảng Sâm 10g, Đương Quy 9g, Bạch Truật sao 12g, Nhục Đậu Khấu nướng 12g, Nhục Quế 3g, Cam Thảo sao 6g, Bạch Thược 15g, Mộc Hương nướng 9g, Hạt Kha nướng 12g, vỏ Anh Túc sao 3g.
Hai bài này đều có tác dụng cố sáp, ngăn thoát. Đôi khi phối hợp nhau, nhưng vỏ Anh Túc không nên dùng lâu.
Nếu bệnh kéo dài, tỳ hư khí hãm, ít hơi, sa trực tràng → dùng Bổ Trung Ích Khí Thang (xem Đông y chữa tiêu chảy mạn) gia giảm, ích khí bồi trung, thăng“thanh dương.” Cử hãm.
(4) Lao lỵ
Triệu chứng: Phân ra lẫn đỏ trắng, kéo dài không dứt, triều nhiệt (sốt buổi chiều vào giờ Thân 15h~17h), người gầy, chân tay nóng, ăn không ngon, sợ lạnh, thở ngắn, mệt mỏi, lưng gối yếu, tóc khô, mắt vô thần, rêu lưỡi vàng hoặc trắng nhạt, mạch tế nhược vô lực hoặc hư đại.
Phép trị: Kiện tỳ ích vị, liễm tinh, thấm thấp. Dùng Tứ Quân Tử Thang, thêm Hoài Sơn, Liên Nhục, Trần Bì:
Đảng Sâm 10g, Bạch Truật sao 9g, Phục Linh 9g, Hoài Sơn 9g, Liên Nhục 9g, Trần Bì 9g, Cam Thảo sao 6g.
ĐÔNG Y VỚI CHỨNG “CẤM KHẨU LỴ”
Cấm khẩu lỵ nghĩa là bệnh nhân lỵ mà không ăn uống được hoặc ăn vào là nôn. Chia thành hai thể: hư và thực.
Thực chứng
Thường do thấp nhiệt, dịch độc kết tụ ở ruột, công lên vị (dạ dày), khiến vị mất điều hòa.
Triệu chứng: Kiết lỵ mủ máu, ngực bụng đầy tức, nấc cụt, không muốn ăn, hơi thở hôi, rêu lưỡi vàng nhờn, mạch hoạt sác.
Phép trị: Tả nhiệt, hòa vị, tân khổ thông giáng.
Phương thuốc: “Khai Cấm Tán” gia giảm: Hoàng Liên 5g, Thạch Xương Bồ 8g, Phục Linh 8g, Trần Bì 8g, Bán Hạ 8g, lá sen (Hà Diệp Đế) 6g, Đại Hoàng 6g, gạo “Trần Thương” 5g. Nấu đậm, chia ít lần uống. Có tác dụng thăng thanh giáng trọc, thanh nhiệt hoá thấp, giáng nghịch hoà trung.
Nếu nôn nhiều, tổn hao vị dịch, lưỡi đỏ khô, mạch tế sác → thêm Tây Dương Sâm 6g (sắc riêng), Mạch Môn 10g, Thạch Hộc 15g, Lô Căn 15g để dưỡng âm của vị; Cũng có thể dùng Nhân Sâm 10g + Hoàng Liên sao gừng 5g nấu, chia từng ngụm (nôn lại uống tiếp) để hết cấm khẩu. Nếu uống thuốc cứ nôn, có thể ngậm chút “Ngọc Thư Đan” rồi uống thuốc khác sau. Ngoài ra chứng này còn có thể giã ốc + ít xạ hương đắp vào rốn để dẫn nhiệt đi xuống.
Hư chứng
Thường do tỳ vị vốn hư hoặc lỵ dài khiến dạ dày hư nghịch.
Triệu chứng: Buồn nôn, không thể ăn, miệng nhạt, không khát, cơ thể gầy yếu, chất lưỡi nhạt, mạch nhược.
Phép trị: Kiện tỳ, hòa vị, giáng nghịch, ngừng nôn.
Phương thuốc: “Hương Sa Lục Quân Tử Thang” hoặc “Sâm Linh Bạch Truật Tán” (xem chữa tiêu chảy mạn) gia nước gừng. Hoặc Nhân Sâm, Phục Linh, Liên Nhục, Thạch Xương Bồ (mỗi 10g), thêm nước gừng sắc uống.
“Hương Sa Lục Quân Tử Thang”: Nhân Sâm 10g, Bạch Truật sao 9g, Phục Linh 9g, Mộc Hương 6g, Sa Nhân 6g, Cam Thảo sao 6g.
Nếu dạ dày hàn, nôn không ngừng, thêm Nhục Quế 3g, Bổ Cốt Chỉ 8g, Can Khương 6g để ấm thận, ôn vị. Nếu đi lỵ liên tục, không ăn, tay chân lạnh, mạch yếu là bệnh nặng, cần dùng “Độc Sâm Thang” hoặc “Sâm Phụ Thang” để bổ khí, hồi dương cấp cứu.
“Sâm Phụ Thang”: Nhân Sâm 9g, Phụ Tử chế 6g (hiện có chế phẩm tiêm tĩnh mạch).
CÁC BÀI THUỐC DÂN GIAN CHỮA KIẾT LỴ
Trong dân gian có rất nhiều phương thuốc đơn giản. Xin trích một số để tham khảo:
DÙNG PHƯƠNG PHÁP CẠO GIÓ (QUÁ SA) TRỊ VIÊM RUỘT CẤP VÀ KIẾT LỴ
Cả hai, khi dùng cạo gió, thường tác động vào kinh mạch Đốc, Túc Thái Âm, Túc Dương Minh. Các huyệt hay dùng và vị trí:
Giải thích:
Lương y Nguyễn Nghị dịch