Bệnh thận IgA là một chẩn đoán mang tính miễn dịch – bệnh lý học, thuộc nhóm bệnh viêm cầu thận mà không kèm theo bệnh hệ thống nào khác, đặc trưng bởi lắng đọng dạng hạt của kháng thể IgA tại vùng trung mô cầu thận qua sinh thiết thận, lâm sàng chủ yếu biểu hiện tiểu máu.
Tỷ lệ mắc bệnh thận IgA ở Trung Quốc chiếm khoảng 26% – 34% các bệnh cầu thận nguyên phát. Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng 80% trường hợp phát bệnh trong độ tuổi từ 16–35. Hiếm gặp trước 10 tuổi và sau 50 tuổi. Tỷ lệ nam:nữ khoảng 3:1.
[Biểu hiện lâm sàng]
(1) Tiểu máu nhục nhỡn (nhìn bằng mắt thường) phát tác: Thường xuất hiện sau nhiễm khuẩn đường hô hấp trên (như viêm amidan), viêm dạ dày ruột cấp, viêm tủy xương, viêm phúc mạc, zona… đôi khi xuất hiện sau tiêm vắc-xin hoặc vận động mạnh.
Phổ biến nhất là tiểu máu xuất hiện rất sớm sau viêm hầu họng (24–72 giờ, đôi khi chỉ vài giờ), do đó còn gọi là “tiểu máu đồng bộ với viêm họng”.
Tiểu máu đại thể thường kéo dài vài giờ đến vài ngày, thường dưới 3 ngày và dễ tái phát.
(2)Tiểu máu vi thể có/không kèm protein niệu không triệu chứng:
Thường được phát hiện qua khám sức khỏe định kỳ như kiểm tra học sinh, nhập ngũ, trước hôn nhân, và được chẩn đoán xác định bằng sinh thiết thận. Là biểu hiện chính ở trẻ em và thanh niên.
(3) Protein niệu: Đa số người bệnh có protein niệu nhẹ, định lượng 24 giờ <1g. Một số ít (10%–24%) có protein niệu lượng lớn, thậm chí hội chứng thận hư.
(4) Hội chứng viêm thận tiến triển nhanh: Ít gặp, biểu hiện bằng tiểu máu đại thể dai dẳng, protein niệu lượng lớn, chức năng thận suy giảm nhanh chóng, có thể kèm phù và tăng huyết áp nhẹ đến vừa.
Y học cổ truyền điều trị bệnh thận IgA với tiểu máu là chứng trạng chủ yếu như thế nào?
(1)Thanh nhiệt lương huyết: Thuộc ngoại cảm phong nhiệt: Có biểu hiện sợ lạnh nhẹ, sốt cao, khô họng đau rát, ho, nghẹt mũi khát nước, tiểu máu đại thể (tiểu huyết nhỡn nhục), lưỡi đỏ rêu mỏng, mạch phù sác →Phép trị: Sơ phong tán nhiệt, thanh nhiệt lương huyết→ Dùng Ngân Bồ Huyền Mạch Cam Cát thang: Kim ngân hoa, bồ công anh, huyền sâm, mạch môn, cam thảo sống, cát cánh.
Thuộc tâm kinh nhiệt thịnh: Bứt rứt vùng ngực, miệng lưỡi lở loét, khát nhiều, tiểu máu, tiểu hơi rát, lưỡi đỏ, mạch tế sác nên Thanh tâm dưỡng âm, thanh nhiệt lương huyết; Dùng Đạo Xích tán gia vị: Sinh địa, đạm trúc diệp, hoạt thạch, cam thảo chi, thông thảo, tây thảo, hoàng cầm, ích mẫu, mao căn; Can kinh hỏa vượng: Xuất hiện chứng trạng Đau đầu, mắt đỏ, đau hông sườn, miệng đắng, dễ cáu, tiểu máu, nước tiểu đỏ, táo bón, lưỡi đỏ rêu vàng mỏng, mạch huyền đại nên thanh can tả hỏa, thanh nhiệt lương huyết→ Dùng Gia giảm Long đởm tả can thang: Long đởm thảo, hoàng cầm, chi tử, sinh địa, trạch tả, xa tiền tử, hoạt thạch, cam thảo sinh, Tây thảo, ích mẫu, mao căn.
(2)Tư thận thanh lợi: Âm hư nội nhiệt, bức huyết sai đường: Đau mỏi lưng, lòng bàn tay chân nóng, họng khô, khát nước thích uống mát lạnh, táo bón, nước tiểu đỏ, lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác nên tư âm bổ thận, thanh nhiệt lợi niệu→ Dùng Gia vị Tri bá địa hoàng thang: Tri mẫu, hoàng bá, sinh địa, sơn thù, sơn dược, đan bì, phục linh, trạch tả, Tây thảo, đại tiểu kế, thạch vi, ích mẫu, mao căn.
(3)Ích khí kiện tỳ:Tỳ khí hư nhược, khí bất nhiếp huyết: Nên kiện tỳ ích khí nhiếp huyết→ Dùng Gia vị Bổ trung ích khí thang: đảng sâm, sinh hoàng kỳ, bạch truật, đương quy, cam thảo, trần bì, thăng ma, sài hồ, lưu ký nô.
(4) Hoạt huyết hóa ứ: Hầu hết các trường hợp tiểu máu đều có huyết ứ. Nếu dấu hiệu huyết ứ không rõ ràng, có thể thêm vị lương huyết hoạt huyết vào các bài thuốc thanh nhiệt lương huyết hoặc tư âm thanh lợi là có thể cầm tiểu máu. Nếu biểu hiện huyết ứ rõ ràng, cần chủ trị bằng hoạt huyết hóa ứ.→ Dùng Gia giảm Huyết phủ trục ứ thang: Sài hồ, chỉ thực, xích thược, cam thảo, đương quy, xuyên khung, sinh địa, đào nhân, hồng hoa, ngưu tất, sinh trắc bá diệp, mã tiên thảo, ích mẫu, mao căn.
Y học cổ truyền điều trị bệnh thận IgA với protein niệu (đản bạch niệu) là chứng trạng chủ yếu như thế nào?
(1) Kiện tỳ ích khí:Với tỳ khí hư tổn, biểu hiện: Sắc mặt kém tươi, thở ngắn, mệt mỏi, ăn uống kém, bụng chướng, miệng nhạt không khát, tứ chi đau mỏi, lưỡi nhạt nhuận, mạch trầm nhược.
→ Phép trị: Kiện tỳ ích khí
→ Dùng Gia giảm Sâm linh bạch truật tán: Đảng sâm, phục linh, bạch truật, biển đậu, trần bì, sơn dược, ý dĩ nhân, liên tử, liên tu, sa nhân.
(2)Kiện tỳ cố thận: Với tỳ thận khí hư, có biểu hiện: Đau mỏi teo gối, tiểu đêm nhiều, lưỡi béo nhuận mềm có dấu răng, mạch trầm tế.
→ Phép trị: Kiện tỳ cố thận
→ Dùng Sâm linh bạch truật tán gia bổ cốt chỉ, phục linh tử, kim anh tử.
(3)Ích khí dưỡng âm: Với khí âm lưỡng hư, có biểu hiện: Sắc mặt vàng nhạt, toàn thân mỏi mệt, đau mỏi lưng gối, ăn uống kém, bụng trướng, nóng lòng bàn tay chân, miệng khô khát, đại tiện táo, lưỡi hơi đỏ, to, có dấu răng, mạch trầm tế.
→ Dùng bài Sâm kỳ địa hoàng thang: Đảng sâm, sinh hoàng kỳ, sinh địa, sơn thù, sơn dược, đan bì, phục linh, trạch tả.
(4)Tuyên sướng tam tiêu: Với trường hợp khí trệ tam tiêu gây phù thũng, có biểu hiện: Toàn thân phù thũng, bụng trướng đau, chi dưới phù và cứng, có thể kèm tức ngực, ăn kém.
→ Phép trị: Tuyên sướng tam tiêu
→ Dùng Gia giảm Đạo thủy phục linh thang: Bạch truật, phục linh, trư linh, trạch tả, nhục quế, tô diệp, hạnh nhân, trần bì, đại phúc bì, hoạt thạch, cam thảo sống, phòng kỷ, quảng mộc hương, mộc qua, hậu phác, ngưu tất, xa tiền tử.
(5)Hoạt huyết hóa ứ: Trường hợp có dấu hiệu huyết ứ rõ ràng như: Điểm đau cố định ở eo lưng, đau nhói, sắc mặt tối sạm, môi tím hoặc sậm, tê tay chân, thống kinh, kinh nguyệt không thông, sắc kinh tím sẫm, lưỡi sậm hoặc tím xanh, có điểm ứ huyết, mạch trầm sáp.→ Nếu thiên về âm hư dùng Gia giảm Huyết phủ trục ứ thang→ Nếu thiên về khí hư dùng Gia vị Quế chi phục linh hoàn→ Nếu có ứ huyết kèm thủy thấp thì dùng Quế chi phục linh hoàn hợp Ngũ bì ẩm gia giảm: Quế chi, phục linh, xích thược, đào nhân, trần bì, đại phúc bì, tang bạch bì, sinh khương bì, ngưu tất, xa tiền tử, phòng kỷ.
(6)Thanh lợi thấp nhiệt: Với trường hợp thấp nhiệt rõ rệt, có biểu hiện: Mặt nổi mụn nhọt viêm, tức ngực không muốn ăn, bụng trên đầy tức, miệng đắng dính, khát nước mà không muốn uống, tiểu vàng đỏ, đại tiện dính, không thoải mái, lưỡi đỏ rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác.
→ Phép trị:Thanh lợi thấp nhiệt
→ Dùng Tam nhân thang: Hạnh nhân, bạch đậu khấu, ý dĩ nhân, bán hạ, hậu phác, đạm trúc diệp, hoạt thạch, thông thảo.
Tiên lượng bệnh thận IgA ra sao?
Theo dõi bệnh nhân từ khi phát hiện bệnh kéo dài trên 20 năm cho thấy, khoảng 20%–30%, thậm chí 20%–50% bệnh nhân tiến triển thành bệnh thận giai đoạn cuối. Các yếu tố tiên lượng xấu gồm:
(1)Giới tính nam, tuổi khởi phát cao → tiên lượng kém.
(2)Tiểu máu vi thể kéo dài kèm protein niệu → tiên lượng xấu.
(3)Protein niệu trung bình hoặc nặng → thường tiến triển đến suy thận, tiên lượng xấu. Tuy nhiên, nếu biểu hiện hội chứng thận hư mà tổn thương mô học nhẹ, đáp ứng tốt với glucocorticoid thì tiên lượng tốt.
(4)Tăng huyết áp, nhất là tăng huyết áp nặng khó kiểm soát → tiên lượng xấu.
(5)Thai kỳ: Với bệnh nhân không có tăng huyết áp và chưa suy thận, thai kỳ nói chung là an toàn.
Ly Nguyễn Nghị dịch
Tài liệu tham khảo:
Bệnh thận IgA được chẩn đoán như thế nào?
Nếu nam giới trẻ tuổi hoặc bệnh nhân bị tiểu máu vi thể và/hoặc protein niệu không triệu chứng phát triển viêm họng và tiểu máu cùng lúc, khả năng mắc bệnh thận IgA nên được xem xét trên lâm sàng. Tuy nhiên, cần phải sinh thiết thận và xét nghiệm miễn dịch bệnh lý để xác nhận bệnh thận IgA.
Những bệnh nào cần được phân biệt với bệnh thận IgA?
(1) Viêm cầu thận cấp sau nhiễm liên cầu khuẩn: Giống như bệnh thận IgA, bệnh này dễ xảy ra ở nam giới trẻ tuổi. Tiểu máu xảy ra sau khi nhiễm trùng đường hô hấp trên (hoặc viêm amidan cấp tính), có thể có protein niệu, phù nề, tăng huyết áp và thậm chí tổn thương thận. Sự khác biệt giữa hai loại này là bệnh nhân mắc bệnh thận IgA sẽ bị tiểu máu trong một khoảng thời gian ngắn (1 đến 3 ngày) sau khi nhiễm trùng đường hô hấp trên và một số bệnh nhân có nồng độ IgA trong huyết thanh tăng cao. Viêm thận cấp thường biểu hiện các triệu chứng lâm sàng của hội chứng viêm thận cấp khoảng 2 tuần sau khi nhiễm liên cầu khuẩn. Giảm nồng độ C3 trong huyết thanh và mức IgA bình thường có thể giúp phân biệt.
(2) Viêm cầu thận tăng sinh trung mô không phải IgA: Tỷ lệ viêm cầu thận tăng sinh trung mô không phải IgA cao ở nước tôi. Khoảng 1/3 số bệnh nhân có biểu hiện tiểu máu đơn thuần. Rất khó để phân biệt bệnh này với bệnh thận IgA trên lâm sàng. Phải phân biệt bằng xét nghiệm miễn dịch bệnh lý sinh thiết thận.
(3) Bệnh lý màng đáy thận mỏng: Biểu hiện lâm sàng chính của bệnh lý màng đáy thận mỏng là tiểu máu tái phát và khoảng một nửa số trường hợp có tiền sử gia đình. Biểu hiện lâm sàng là lành tính. Nồng độ Pf4 trong nước tiểu có thể giúp phân biệt bệnh này với bệnh thận IgA. Bệnh này phải được phân biệt với bệnh thận IgA bằng kính hiển vi điện tử sinh thiết thận.
(4) Viêm thận ban xuất huyết Henoch-Schonlein: Bệnh nhân có thể biểu hiện bằng tiểu máu vi thể hoặc thậm chí tiểu máu đại thể. Sinh thiết thận có thể cho thấy tình trạng lắng đọng IgA lan rộng ở trung mô tương tự như trong bệnh thận IgA nguyên phát. Tuy nhiên, bệnh nhân bị viêm thận xuất huyết thường có các triệu chứng điển hình là xuất huyết dưới da, đau bụng và đau khớp.
Phương pháp điều trị chung cho bệnh thận IgA bao gồm những gì?
(1) Đối với những bệnh nhân bị tiểu máu đại thể tái phát, có thể cân nhắc cắt amidan. Việc sử dụng kháng sinh mạnh ngay khi xảy ra nhiễm trùng đường hô hấp trên có thể làm giảm tỷ lệ nhiễm trùng đường hô hấp trên ở một số bệnh nhân mắc bệnh thận IgA.
(2) Đối với bệnh nhân tăng huyết áp, cần chủ động kiểm soát và duy trì huyết áp ở mức bình thường để giảm tổn thương huyết động, mạch máu và làm nặng thêm các tổn thương thận hiện có.
Điều trị bệnh thận IgA bằng thuốc như thế nào?
Hiệu quả của glucocorticoid có thể đạt tới 70% đối với bệnh nhân có protein niệu nhiều và hội chứng thận hư có thay đổi bệnh lý thận nhẹ.
Đối với bệnh nhân mắc bệnh thận IgA có biểu hiện lâm sàng là suy thận tiến triển nhanh, nguyên tắc điều trị cũng giống như nguyên tắc điều trị viêm thận tiến triển nhanh và có thể điều trị bằng liệu pháp xung methylprednisolone, cyclophosphamide và tăng cường trao đổi huyết tương.
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng liên tục dipyridamole và warfarin có thể cải thiện sự phát triển của bệnh xơ cứng cầu thận và làm chậm quá trình xảy ra suy thận giai đoạn cuối. Captopril có thể làm giảm protein niệu ở những bệnh nhân mắc bệnh thận IgA.