I/ Ý nghĩa căn bản của Thương hàn và tạp bệnh
Vì có liên quan đến vấn đề thương hàn và tạp bệnh, cũng như vấn đề biện chứng luận trị, nên cần phải giải thích cụ thể hàm nghĩa của nó. {Thương Hàn Luận} Thuật ngữ ” thương hàn” dùng để chỉ bệnh thương hàn theo nghĩa hẹp, không phải là bệnh thương hàn theo nghĩa rộng. Nghĩa rộng của Thương hàn là chỉ về tất cả các chứng ngoại cảm nhiệt bệnh, như trong “Tố vấn Nhiệt luận”, nói rằng “tất cả những người bị sốt ngày nay đều là sốt thương hàn”, bao gồm các bệnh sốt do phong, lạnh, thấp, ấm, nắng và nóng, gây ra các bệnh phát sốt đều thuộc loại thương hàn nghĩa rộng này. Nghĩa hẹp của thương hàn chỉ giới hạn trên phương diện ngoại cảm phong hàn. Chúng ta hãy xem nội dung của {Thương Hàn Luận}, bao gồm Trúng phong, sốt thương hàn, bệnh sốt, bệnh phong ôn và nhiều bệnh sốt khác nhau, đây chính là nghĩa rộng của thương hàn. Tuy nhiên, trọng điểm của bài viết lại là quy luật lý pháp phương dược (Lý luận-Trị pháp- Phương dược- Dược vật) của thương hàn nghĩa hẹp, đối với ôn bệnh và phong ôn chỉ có thể nói là đại khái không rõ ràng. Vì thế, {Thương Hàn Luận} là bộ y thư luận về nghĩa hẹp của thương hàn. Tại sao các thế hệ sau phát triển ra học thuyết về ôn bệnh? Cho thấy trên phương diện ôn bệnh cũng có điểm thiếu sót. Nhưng cũng có một số y gia như Trần Tu Viên phản đối điều này, cho rằng {Thương Hàn Luận} cũng có thể trị ôn bệnh, thang Ma Hạnh Thạch cao (tức là Ma Hạnh Cam Thạch thang), Quế chi nhị việt tỳ nhất thang cũng đều là những phương thang trị ôn bệnh, đây chính là cưỡng từ đoạt lý vậy.
Mở đầu
Tạp bệnh là gì? Là chỉ về nhiều loại bệnh ngoại trừ thương hàn. Việc phân loại trong thời cổ đại không chi tiết như bây giờ và tất cả các bệnh sốt ngoại cảm cấp tính như sốt thương hàn đều được gọi chung là tạp bệnh. Chúng ta cũng có thể nghĩ rằng một số tạp bệnh cũng tương đương với một số bệnh mãn tính, nhưng không phải là tuyệt đối. Một số tạp bệnh cũng có các bệnh cấp tính. So với sốt cấp tính như sốt thương hàn, các tạp bệnh cũng thuộc phạm vi bệnh mãn tính. Nói cách khác: “Tạp” có nghĩa là “nhiều”, trong đó đề cập đến một loạt các bệnh, trừ bệnh thương hàn.
Thương hàn Tạp bệnh là hai phạm vi bệnh lý, thương hàn là cấp tính ngoại cảm nhiệt bệnh, tạp bệnh chính là những biến hoá như rối loạn tạng phủ âm dương, khí huyết tân dịch thất thường, chính là nhiều loại dạng bệnh. Tuy thương hàn và tạp bệnh là hai phạm vi khác nhau, nhưng trên phương diện cơ thể chúng lại có liên hệ hỗ tương không thể tách rời. Vì thế nếu chỉ luận thương hàn mà không luận tạp bệnh, hoặc chỉ luận tạp bệnh mà không luận thương hàn, thì đều là thiếu sót. Cũng như câu nói: “ 合而论之则双美,分 之而论则两伤” “Hợp nhi luận chi tắc song mỹ, phân chi nhi luận tắc lưỡng thương”.(Hợp mà luận cả hai đều tốt, phân chia ra mà luận thì cả hai cùng tổn thương) Đặc điểm khoa học của 《Thương hàn tạp bệnh luận 》được biểu hiện ở đó. Để làm rõ sự thật này, người viết sẽ giải thích mối quan hệ giữa bệnh thương hàn và các tạp bệnh về một số vấn đề chính trong chuyên luận về {Thương Hàn Luận}.
II/ Biện chứng lục kinh của {Thương Hàn Luận}.
Biện chứng lục kinh là vấn đề quan trọng nhất của {Thương Hàn Luận}, là biện chứng chủ yếu của {Thương Hàn Luận}. Rốt cuộc có phải biện chứng lục kinh dùng để biện chứng thương hàn và biện chứng tạp bệnh? “太阳之为病,脉浮,头项强痛而恶寒”;“阳 明之为病,胃家实是也”;“少阳之为病,口苦、咽干、目眩是也”;“太阴之为病, 腹满而吐,食不下, 自利益甚,时腹自痛,若下之,必胸下结硬” “Thái dương chi vi bệnh, mạch phù đầu hạng cường thống nhi ố hàn” , “Dương minh chi vi bệnh vị gia thực thị dã” ; “Thiếu dương chi vi bệnh, khẩu khổ, yết can, mục huyễn thị dã”; “Thái âm chi vi bệnh, phúc mãn nhi thổ, thực bất hạ, tự lợi ích thậm, thời phúc tự thống, nhược hạ chi, tất hung hạ kết ngạnh”Bệnh của kinh Thái dương, mạch phù đau cứng cổ gáy và ghét lạnh; Bệnh ở Dương minh, chính vị thực (thực chứng của dạ dày và ruột); Bệnh ở Thiếu dương, miệng đắng, họng khô, hoa mắt; Bệnh ở Thái âm đầy bụng ẩu thổ, ăn không tiêu (bất hạ), tiêu chảy tệ hơn, đau bụng, nếu dùng phép hạ, tất dưới ngực sẽ kết cứng lại . Đây là tất cả về bệnh thương hàn, hoặc nó bao gồm cả tạp bệnh? Một số người nghĩ rằng đó là bệnh thương hàn. Điều này không đúng, bởi vì Trương Trọng Cảnh là một người Hán và viết sách rất nghiêm cẩn. Nếu vì là bệnh thương hàn, sẽ không nói “Thái dương chi vi bệnh”, mà nên nói là “Thái dương chi thương hàn”, v.v. Đã không nói đến “Thương hàn” tức là một cách nhìn có nghĩa rộng. Hơn nữa, ở “Thái dương chi vi bệnh” phần tổng cương biểu chứng ở phần dưới có câu “Thái dương bệnh, hoặc dĩ phát nhiệt, hoặc vị phát nhiệt, tất ố hàn, thể thống, ẩu nghịch, mạch âm dương câu khẩn giả”(Bệnh ở kinh Thái dương, hoặc đã sốt hoặc chưa, tất ớn lạnh, đau người, ẩu thổ, mạch âm dương đều khẩn), gọi là bệnh thương hàn. Các y gia như Kha Vận Bá và Phương Hữu Chấp đã nhìn ra vấn đề này, đề xuất “六经为诸病而设”,“非为伤寒一病而设” (Lục kinh vi chư bệnh nhi thiết), (Phi vi thương hàn nhất bệnh nhi thiết) Lục kinh được thiết lập cho mọi bệnh, không thiết lập riêng cho thương hàn; Nhấn mạnh Lục kinh chính là tổng kết quy luật phát bệnh của kinh lạc tạng phủ từ biểu vào lý (từ ngoài vào trong).
Nếu chúng ta có kinh nghiệm thực tiễn, sẽ thấy dù sử dụng lý luận {Thương Hàn Luận} trên lâm sàng, hay dùng Lục kinh biện chứng, không những điều trị thương hàn mà cũng kiêm trị được tạp bệnh. Thực tiễn chính là tiêu chuẩn kiểm nghiệm chân lý duy nhất. Vì lập luận của Trương Trọng Cảnh là từ biểu vào lý, từ dương đến âm, vì thế chỉ có Thái dương bệnh là cương lĩnh của biểu chứng, “Vị gia thực”(thực chứng của dạ dày và ruột) của Dương minh bệnh chính là do thương hàn truyền kinh đến Vị, tân dịch của Vị bị tổn hại tạo thành chứng táo nhiệt, phân khô thành chứng táo bón, gọi là Dương minh bệnh. Đồng thời, trong {Thương Hàn Luận} còn có những nguyên nhân như thực phẩm qua đêm không tiêu hoá hoặc các nguyên nhân khác tạo thành đại tiện táo kết (táo bón). Vì thế, trong {Thương Hàn Luận} đã có đến 3 thang Thừa khí, còn có Tỳ ước hoàn (là Ma tử nhân hoàn). Chứng đại tiện táo kết có nhiều nguyên nhân, cũng phát sinh ở tạp bệnh, cấp phúc chứng hoặc tắc ruột, mà bệnh không phải do truyền từ Thái dương vào Dương minh, chỉ cần thấy có các hội chứng như bĩ đầy, táo thực kiên là có thể dùng thang Đại thừa khí hoặc Đại sài hồ để điều trị. Thiếu dương bệnh cũng vậy, có biểu hiện “Miệng đắng, họng khô, hoa mắt” Phương trị liệu chủ yếu là thang Tiểu sài hồ. Bệnh viêm gan trên lâm sàng hiện đại, mà bệnh không do Thái dương bệnh truyền biến, chỉ cần có các hội chứng như ngực, cạnh sườn trướng đầy, tâm phiền ẩu thổ, thường dùng Tiểu sài hồ gia giảm để điều trị, có thể thu được hiệu quả trị liệu rất tốt.
Tóm lại, nên xem xét bệnh của lục kinh theo nghĩa rộng, đây chính là tổng kết quy luật phát bệnh của Trương Trọng Cảnh đối với tạng phủ kinh lạc, chọn lục kinh với 6 loại hình để điều khiển các bệnh, có âm có dương, có biểu có lý, có hàn có nhiệt, có hư có thực, đều là từ một phân thành hai (ý nói về tính đối lập). Quan hệ giữa bệnh Tam dương và thương hàn khá dễ hiểu, tam âm bệnh thì tương đối khó hơn. Thí dụ như, thái âm bệnh là bệnh tỳ vị có tính hư hàn, thượng thổ hạ tả; Không có khả năng đều do ngoại cảm truyền vào, ăn uống sống lạnh, tố chất tỳ dương hư đều chính là nguyên nhân bệnh. Xét theo phương pháp phân chứng lục kinh, chính là thương hàn tạp bệnh cộng luận (luận chung cả thương hàn và tạp bệnh). Trong quá trình dùng phương pháp phân chứng của lục kinh để điều khiển và khái quát bệnh trên lâm sàng, gọi là biện chứng luận trị, làm sao có thể nói đơn thuần là truyền biến của thương hàn? Vì thế, Trương Trọng Cảnh có câu nói: 虽未能尽愈诸病,庶可以见病知源,若能寻余所集,思过半矣。” “Tuy vị năng tận dũ chư bệnh, thứ khả dĩ kiến bệnh tri nguyên, nhược năng tầm dư sở tập, tư quá bán hĩ”(Tuy chưa có thể trị hết bệnh, để có thể thấy bệnh biết được nguồn gốc, tìm được phần còn lại là đã làm được quá phân nửa rồi)
III/ Biến chứng của Thương hàn
Biến chứng thương hàn là do bệnh thương hàn phát triển thành, chính là do trị liệu không đúng, hoặc do phát hãn nhầm, hoặc phát hãn quá nhiều, hoặc dùng hoả liệu, hoặc thổ nhầm, hạ nhầm, hoặc do ngậm nước lạnh mà thành bệnh. Do điều trị không đúng, tạo thành một bệnh hoàn toàn khác, bệnh lúc đầu là thương hàn cũng được, là trúng phong cũng được, đều không còn tồn tại, xuất hiện một bệnh mới. Loại bệnh mới này có tính hàn, tính nhiệt, tính hư, tính thực, tình huống phức tạp phi thường. Trong 《Thương hàn luận》 chiếm 1/3 nội dung chính là luận về biến chứng. Về phương diện điều trị biến chứng, tuy bắt đầu là do thương hàn, nhưng sau khi điều trị sai lầm mà phát sinh biến hoá, phân tích và trị liệu đều phức tạp hơn lúc chưa điều trị sai lầm, có phép ổn định rối loạn, có phép cấp cứu, phân tiêu bản hoãn cấp (gốc ngọn, nhanh chậm) v.v…Biến chứng tuyệt đối không phải là thương hàn đơn thuần, trên thực tế có liên quan đến rất nhiều tạp bệnh. Thí dụ như sau khi phát hãn bụng trướng đầy, trước đó có khả năng có Thái dương bệnh, sau khi phát hãn, biểu đã giải, nhưng bụng lại trướng. Chứng đầy bụng ở thời điểm này là do tạng Tỳ không kiện vận, đàm khí ngưng kết gây ra; Điều trị nên dùng thang Hậu phác Sinh khương Bán hạ Cam thảo Nhân sâm. Đây là thang tễ dùng để điều trị tạp bệnh, là phép tam bổ thất tiêu (Ba phần bổ bảy phần tiêu), rất thường sử dụng trên lâm sàng. Và còn rất nhiều những trường hợp tương tự như vừa nêu. Vì thế, trong biến chứng ở sách {Thương Hàn Luận} có một nội dung nhất định chính là luận về ý nghĩa của tạp bệnh.
IV/ Chứng hỗn hợp trong {Thương Hàn Luận}
Chứng hỗn hợp là chỉ về các tật bệnh khác xen lẫn trong thương hàn. Sự vật khách quan đều có tính phức tạp, Con người bị bệnh cũng không đơn giản. Sau khi bị sốt thương hàn, tồn tại những tình huống xác thực biểu hiện như ớn lạnh phát sốt, đầu và thân thể đau nhức, nhưng cũng thấy thương hàn luôn luôn có chứng chen lẫn. Chứng chen lẫn là gì? Thí dụ như, thông thường hay nói sốt thương hàn kèm theo thương thực chính là bên trong ăn không tiêu kèm theo ngoại cảm phong hàn, tại thời điểm này, phương pháp đổ mồ hôi để điều trị bệnh thương hàn đơn thuần là không đủ. Lại như, với gia đình hen suyễn, thang Quế chi gia Hậu phác hạnh tử quế, gia đình hen suyễn là người có tố chất bệnh suyễn, thậm chí là người có tạng tâm suy yếu. Sau khi bị sốt thương hàn, không những có khả năng biến chứng suyễn phức tạp, còn có thể tiến thêm một bước, xuất hiện mạch kết đại, tim hồi hộp, Thời điểm này dùng Ma hoàng thang trị liệu có thích hợp? Cần phải nhanh chóng sử dụng thang Chích cam thảo.
Lại như, người hư yếu sau khi bị ngoại cảm, hồi hộp phiền muộn, nên sử dụng thang Tiểu kiến trung, đây là loại hình chính hư tà thực (chính khí hư, tà khí thực), có vấn đề tiêu bản hoãn cấp. Lại như, sau khi bị thương hàn toàn thân đau nhức, lại có chứng trạng hư hàn bên trong hạ lợi thanh cốc (đại tiện ra nước trong kèm theo thực phẩm chưa tiêu hoá, không có mùi phân), Trương Trọng Cảnh nhấn mạnh không nên phát hãn, Vì bên trong cơ thể hư hàn, không có hoả để làm chín thuỷ cốc, làm sao còn có thể phát hãn? Nên cấp cứu bên trong (cấp cứu kỳ lý), dùng thang Tứ nghịch, vì thế việc đầu tiên là dùng thang Tứ nghịch để cứu lý, đợi đến khi chứng hạ lỵ thanh cốc (đi đại tiện ra nước)khỏi hẳn, sau đó dùng thang Quế chi để cứu biểu. Vì thế, chứng hỗn hợp rất phức tạp, hỗn hợp hư thực, hỗn hợp hàn nhiệt, hỗn hợp đàm thuỷ, huyết ứ khí trệ, còn có những vấn đề như kinh nguyệt phụ nữ v.v… , nếu không có những nhận thức về tạp bệnh thì hiển nhiên không thể giải quyết các chứng hỗn hợp nêu trên, phương án tốt nhất là cần phải chú trọng cả hai phương diện thương hàn và tạp bệnh.
Nói đến kinh nguyệt của phụ nữ, có đặc điểm sinh lý và bệnh lý, khi xuất hiện bệnh phụ khoa nhiệt ứ huyết thực, nếu không hiểu biết về phụ khoa thì có khả năng trị bệnh không? Đơn thuần trị thương hàn, đơn thuần dựa vào thang Ma hoàng, thang Quế chi, thang Đại, Tiểu thanh long có được không? Khẳng định là không. Lại như, ,“老怕伤寒少怕痨” lão phạ thương hàn thiểu phạ lao (Người già sợ thương hàn, người trẻ sợ bệnh lao), người già dương khí đã suy, năng lực kháng bệnh thấp kém, khi cảm thụ phong hàn, phần lớn do Thái dương bệnh phát triển nhanh chóng thành Thiếu âm bệnh, xuất hiện mạch vi tế nhưng có hội chứng muốn ngủ. Thái dương và Thiếu âm có quan hệ biểu lý, Thiếu âm dương khí suy trước, tự nhiên dễ xâm nhập Thiếu âm. Thời điểm này nếu chỉ nhấn mạnh vào thương hàn là thiếu sót, vì thế {Y tông kim giám – Thương hàn tâm pháp yếu quyết} viết: :“六经为病尽伤寒,气同病异岂期然,推其形 藏原非一,因从类化故多端。” “Lục kinh vi bệnh tận thương hàn, khí đồng bệnh dị khải kỳ nhiên, thôi kỳ hình tàng nguyên phi nhất, nhân tòng loại hoá cố đa đoan.” Đoạn văn trên rất khoa học, nhấn mạnh được vấn đề quan hệ giữa nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài. Nguyên nhân bên trong là nguồn gốc là căn nguyên, nguyên nhân bên ngoài chính là điều kiện. Nếu như chỉ xem xét cơ chế ngoại cảm của thương hàn, không suy xét đến cơ chế nội thương, như tố chất tạng phủ, giới tính nam nữ, tuổi tác già trẻ, khu vực sinh sống, như thế có thể gọi là biện chứng luận trị sao? Làm thế nào để có thánh thư của y học, có nguyên tắc của y học, để đánh giá cao về nó?
V/ Tạp bệnh trong Thương hàn luận
Rất nhiều bài văn trong THL (Thương hàn luận)
đã không đề cập đến các tên bệnh của lục kinh như Thái dương bệnh, cũng không đề cập đến những tên bệnh cụ thể như trúng phong (đột quỵ) hoặc thương hàn, chỉ viết kèm với , bệnh có.. như bệnh có phát nhiệt ớn lạnh, bệnh thường xuất mồ hôi, bệnh bĩ ở dưới cạnh sườn, căn bản không liên quan với thương hàn, hiển nhiên là luận về tạp bệnh. Bệnh bĩ dưới cạnh sườn, cũng là hiện nay chúng ta nói đến chứng Can Tỳ thũng đại (gan tuỵ sưng lớn), với thương hàn có quan hệ gì? Do đó, {Thương Hàn Luận} là một bộ sách y học điều trị cả thương hàn và tạp bệnh, và đích thực là một bộ sách biện chứng luận trị. Như vậy nói về học tập, bộ sách đã giúp chúng ta có một tầm nhìn rất xa, và đã nâng biện chứng luận trị lên một tầm cao mới.
Bản {Kim quỹ yếu lược} hiện nay chính là tại thời nhà Tống, được học sĩ hàn lâm Vương Chu thu được trong một gian hàng và đã bị mối mọt.
Giới thiệu Lục kinh
Có thể thấy được lịch sử lâu đời của nó, sự khiếm khuyết không toàn vẹn cũng khó tránh khỏi. Từ nội dung, KQYL (Kim quỹ yếu lược) là tác phẩm của Trương Trọng Cảnh, với 10 quyển phương tễ {Thương Hàn Luận} bổ sung, một số bài văn còn tồn tại những đoạn lặp lại, như {{Thương Hàn Luận} – Quyết âm bệnh} và { Kim quỹ yếu lược – Ẩu thổ uế hạ lợi bệnh}. Sau thời Tống, một vài y gia cường điệu phân biệt 10 quyển {Thương Hàn Luận} và {Kim quỹ yếu lược} phân biệt là sách trị thương hàn và tạp bệnh, đã triệt để tách rời {Thương hàn tạp bệnh luận}, những nhận thức này còn ảnh hưởng đến ngày nay. Sự thực là, hai bộ sách tuy có những điểm nhấn riêng, nhưng chúng cũng đan xen chồng chéo nhau, không thể tách rời.
III/ Lục kinh là gì?
{Thương Hàn Luận} chính là trung tâm của biện chứng lục kinh. Vậy, lục kinh chính xác là gì? Lục kinh là tên hay là vật? Về điều này ý kiến trong giới Trung y cũng không thống nhất. Từ sau thời nhà Tống, Thành Vô Kỷ với {Chú giải {Thương Hàn Luận} }, Chu Hoành {Nam dương hoạt nhân thư} v.v…và các sách chú thích {Thương Hàn Luận} khác, từ đó các quan điểm về lục kinh cũng tăng lên.
1/ Nhận thức của các nhà chú giải lục kinh qua các thời đại
Từ nhà Tống đến nhà Minh, phần lớn các nhà chú giải đều thừa nhận lục kinh có tính vật chất, đồng thời không chỉ đơn thuần là tên gọi, vì hội chứng của lục kinh đều được kiến lập trên cơ sở vật chất nhất định, cơ sở vật chất này chính là phản ảnh sinh bệnh lý của tạng phủ kinh lạc, cho nên gọi chúng là lục kinh. Đến thời nhà Thanh, một số y gia bắt đầu phủ định sự quan hệ giữa lục kinh và kinh lạc. Đến thời gian gần đây, nhiều nhà chú giải công khai cho rằng lục kinh chỉ là một cái tên mà thôi, gọi là Thái dương bệnh cũng được mà gọi là ABCD cũng được, chỉ thừa nhận hội chứng bệnh của lục kinh. Ở Nhật bản cũng có những nhà chú giải duy trì quan điểm này, đồng thời đổ lỗi cho những người nói về tạng phủ kinh lạc, phủ nhận lục kinh của {Thương Hàn Luận} là kế thừa một khía cạnh của {Tố vấn – Nhiệt luận}.
2/ Thực chất của lục kinh
Căn cứ trên tinh thần “Bách hoa tề phóng, Bách gia tranh minh”(Trăm hoa đua nở, trăm trường phái tư tưởng) cá nhân tôi cho rằng lục kinh là vật chất. Trung y loại bỏ gắn bó giữa tạng phủ và kinh lạc, như vậy sẽ nói thế nào về truyền thống? Trương Trọng Cảnh nói rất rõ ràng, tuyển dụng {Tố vấn}, {Cửu quyển}, {Thập bát nan}, {Âm dương đại luận}, {Thai lô}, {Dược lục}, làm sao có thể từ bỏ kinh mạch của lục kinh phân chứng trong {Tố vấn – Nhiệt luận}, câu đầu tiên chính là “太阳之为病,脉浮,头项强痛 而恶寒”(Thái dương chi vi bệnh, mạch phù, đầu hạng cường thống nhi ố hàn), với {Tố vấn – Nhiệt luận}, Cự dương là nơi tụ hội của dương (là tên khác của kinh Thái dương), mạch nối với Phong phủ, ứng với nhau, chính là phản ứng bệnh lý giống nhau. Đồng thời, {Thương Hàn Luận} có nhiều nơi nói đến kinh lạc và truyền kinh. Thí dụ như, thái dương bệnh, đau đầu 7 ngày trở lên thì tự khỏi, là do thời gian đi hết kinh Thái dương. Nếu lại muốn tái kinh, châm kinh Túc dương minh, khiến kinh không truyền mà khỏi bệnh, nếu không có kinh mạch sẽ không thể châm thích Dương minh. Lại như, thái dương bệnh lúc đầu uống thang Quế chi, bệnh không khỏi lại thêm khó chịu, châm hai huyệt Phong Trì, Phong phủ và không uống thang Quế chi liền khỏi bệnh, như vậy việc phủ nhận kinh mạch có đúng không? Trung y được xây dựng trên phép biện chứng và chủ nghĩa duy vật. Học thuyết tạng phủ kinh lạc chính là sinh lý học của Trung y, nếu như phủ định điều này thì chắc chắn không thể theo đó mà luận bệnh. Hội chứng bệnh lục kinh phát sinh ở ngoài lục kinh, ở da hay ở lông ư? Gọi là biện chứng, chính là nhận thức chính xác biến hoá sinh bệnh lý của kinh lạc tạng phủ. Biến hoá sinh bệnh lý của kinh lạc tạng phủ, doanh vệ khí huyết phản ảnh được bản chất của bệnh. Nếu như không có vận động của vật chất, làm sao có thể biện chứng? Biện chứng lục kinh của Thương hàn luận chính là phân biệt những phản ảnh khách quan của tạng phủ kinh lạc. Nếu như tách rời tiền đề thảo luận về phân chứng lục kinh thì chính là điều không tưởng. Y gia Trương Giới Tân (thời Minh) từng nói: Kinh mạch giả, tạng phủ chi chi diệp; Tạng phủ giả, kinh mạch chi căn bản (Kinh lạc là cành là lá của tạng phủ, tạng phủ là căn bản (gốc rễ của kinh lạc)); Phương pháp trị liệu thập nhị kinh là: Thấy rõ âm dương, phân tích biểu lý, phân biệt khí huyết, thấy rõ hư thực. Sự sống của con người, bệnh tật, con người sở dĩ trị được bệnh, nguyên nhân của bệnh, đều do như vậy. Sự hiểu biết này về kinh mạch và các tạng phủ nói chung có lợi cho sự hiểu biết của chúng ta về lục kinh. Tạng phủ và kinh lạc liên quan với nhau, kinh lạc thông hành trong ngoài, như cành lá của cơ thể; Tạng phủ ẩn tàng trong cơ thể, tựa như gốc rễ của cơ thể, cấu thành một kết cấu chỉnh thể. Vì thế, một vài sinh bệnh lý của tạng phủ có thể thông qua kinh lạc phản ảnh ra ngoài, mà tật bệnh của kinh lạc cũng có thể truyền vào tạng phủ, cấu thành một quan hệ xuất nhập hữu cơ của biểu lý âm dương. Chúng ta trên lâm sàng có thể nắm vững sinh bệnh lý của thập nhị kinh mạch, cũng chính là nắm được sinh bệnh lý của tạng phủ kinh lạc, như vậy sẽ có thể khi biện chứng biết rõ âm dương, thông đạt biểu lý, biết hàn nhiệt, phân rõ hư thực, từ đó sẽ có năng lực phân tích và điều trị bệnh. Đó chính là đặc điểm hàng đầu của Trung y. Lục kinh phản ảnh được bệnh biến của thủ túc kinh mạch với tạng phủ tương ứng, chính là tổng quát của tạng phủ kinh lạc. Thí dụ như, Thái dương bệnh trên thực tế chính là bệnh biến của Thủ Túc Thái dương kinh và bàng quang, tiểu trường. Lại như, bệnh của kinh dương minh, cũng chính là vị gia thực (tên bệnh dạ dày do nhiệt kết ở dương minh), chính bệnh biến ở vị phủ.
III/ Thực chất của Biện chứng lục kinh
{Thương hàn luận} với lục kinh là trung tâm. Nếu như lục kinh chỉ đơn thuần là một tên gọi, không phản ảnh biến hoá sinh bệnh lý của tạng phủ kinh lạc, thì việc biện chứng sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Biện chứng luận trị của Trung y được chỉ đạo bởi học thuyết âm dương, lại có thể phân thành 8 phương diện cụ thể gồm: Âm dương, Biểu Lý, Hàn Nhiệt và Hư Thực. Tám phương diện này hỗ tương đối lập, hỗ tương nương dựa tồn tại, Với âm dương là hai cương lĩnh tổng quát. Thí dụ như, Thái dương bệnh chính là dương bệnh, thuộc lục phủ, là kinh dương chủ quản thể biểu và thống lĩnh phần bảo vệ cơ thể. Nếu không có thái dương phủ và Thái dương kinh, thì làm sao xác lập được Thái dương biểu chứng và Bàng quang lý chứng? Đồng thời Thái dương và Thiếu âm có quan hệ biểu lý, Bàng quang và Thận cũng như vậy. Thực là Thái dương, hư là Thiếu âm. Nếu như có đủ điều kiện khí của Thái dương hư hàn, thần vong sỉ hàn (Môi hở răng lạnh), là có thể từ Thái dương nhập vào Thiếu âm. Quan hệ giữa Dương minh với Thái âm, giữa Thiếu dương với Quyết âm cũng như vậy. Gọi là then chốt xuất nhập của âm dương biểu lý. Lục kinh chính là phản ảnh của Tạng Phủ, Ba kinh dương phản ảnh lục phủ, ba kinh âm phản ảnh ngũ tạng. Đường lối của Dương là Thực mà đường lối của âm là hư, vì thế hội chứng của ba kinh dương đều phản ảnh thực chứng, nhiệt chứng, biểu chứng, hội chứng của 3 kinh âm đều phản ảnh hư chứng, hàn chứng, lý chứng, tất cả đều có tính quy luật. Bệnh tật phát triển đến ba kinh âm là do lực kháng bệnh của chính khí suy yếu gây ra, vì thế thường xuất hiện một số hội chứng hư suy. Người thày thuốc cần nắm vững biện chứng luận trị, đầu tiên cần nắm vững âm dương, phân bệnh tật thành hai loại âm chứng với dương chứng. Nói theo biện chứng lục kinh, thì trước tiên phân thành tam dương bệnh và tam âm bệnh, sau đó tái sử dụng hai cương lĩnh âm dương để quản lý những tình huống cụ thể của Biểu Lý, Hàn Nhiệt, Hư Thực. Trương Tiên sinh sử dụng tam âm tam dương là cương lĩnh, trị bệnh cần trị tận gốc, gốc là âm dương. Như vậy là có tác dụng chỉ đạo đối với mọi loại bệnh tật. Biện chứng lục kinh bao quát vấn đề của hai phương diện. Quan hệ của cả hai như lý thuyết gốc ngọn của Trương Cảnh Nhạc, nên lục phủ có kỳ kinh, ngũ tạng cũng có kỳ kinh, khi lâm sàng biện chứng nên phân biệt rõ ràng. Tà khí nông thì bệnh ở kinh mạch, tà khí sâu thì bệnh đến tạng phủ, đều xuất hiện hội chứng tương ứng. Thí dụ như, Thái dương bị bệnh, mạch phù, đầu gáy cứng đau mà sợ lạnh, chính là chứng của kinh Thái dương, giống như bệnh ở cành cây, lá cây; Khi xuất hiện các chứng trạng của Thái dương trữ nước như phiền khát, nóng người, tiểu tiện không thuận lợi, chính là bệnh chứng của Thái dương phủ, giống như bệnh ở gốc rễ. Tuy cùng là bệnh ở kinh Thái dương, nhưng phân thành kinh và phủ. Các kinh khác cũng đều như vậy. Thí dụ như Dương minh bệnh xuất hiện mặt đỏ, đau vùng trán, đau mắt, mũi khô, nằm ngủ không yên, chính là chứng của dương minh; Nếu xuất hiện đầy bụng, phân cứng, cự án (không thích ấn nắn), đau, sốt sau trưa (triều nhiệt) là hội chứng của dương minh phủ chứng. Thứ hai, tạng với phủ, kinh với kinh chính là những liên hệ hữu cơ, tạng phủ với những thay đổi của biểu lý âm dương, và đó cũng là cơ sở để thoát khỏi bệnh tật. Thí dụ như, thiếu âm bệnh sau khi dương khí hồi phục có khả năng kháng bệnh, có khả năng xuất hiện hội chứng của biểu bệnh, như nóng toàn thân và tiểu tiện ra máu, chính là tà khí của Thiếu âm thận xuất vào bàng quang. Lục kinh bao gồm đặc điểm khí hoá của tạng phủ kinh lạc, đó chính là lý luận độc đặc của Trung y. Như ngoại giới có một dạng lục khí: Phong, hàn, thử, thấp, táo, hoả, lục kinh của cơ thể cũng có lục khí: Phong, hàn, hoả, nhiệt, táo, thấp, khi phát bệnh sẽ phản ảnh đặc điểm của bệnh. Thí dụ như, thái dương là kinh hàn thuỷ nên bệnh lý thái dương thường là thuỷ chứng và hàn chứng, như Ngũ linh tán chứng, Linh quế truật cam thang chứng, Chân võ thang chứng tất cả đều là thuỷ chứng. Lại như, khí của dương minh là táo, thường gặp ở hội chứng bĩ mãn táo kiên thực của táo bệnh; Khí của Thái âm là thấp, thường gặp hội chứng của bệnh thấp là đi tả; Bệnh ở thiếu dương sẽ xuất hiện chứng trạng đắng miệng, vì khí của thiếu dương là hoả, đắng chính là vị của hoả; Bệnh ở Quyết âm sẽ xuất hiện khí thăng lên tâm, vì quyết là tận cùng, đạt đến cực đoan, mà khí thuộc phong mộc, nên có lực đi lên, nếu mạnh quá gây chứng đau tim, đói mà không muốn ăn. Phương pháp phân chứng lục kinh của cổ nhân tóm tắt trong hai câu nói: Một là, ,“经者,径也” (kinh giả kính dã) kinh là con đường. Lục kinh tương tự như những con đường, chính là đường ra (tiến thoái)của tà khí, khi biện chứng cần phải căn cứ vào kinh để nhận biết. Dân gian Trung quốc giữ lại dấu vết lịch sử này, người bệnh lớn tuổi thường hỏi thày thuốc: Bệnh của tôi ở kinh nào? Vì sự phân bố của kinh mạch có những đặc điểm, kinh Thái dương ở biểu, kinh Thiếu dương thuộc bán biểu bán lý, kinh Dương minh thuộc lý. Câu thứ hai: ,“经者,界也” (Kinh giả, giới dã). Bệnh của Lục kinh có giới hạn và phạm vi riêng, bao gồm tạng phủ phát bệnh, quan hệ chính tà, tình huống phát bệnh v.v…Vì thế khi lâm sàng biện chứng nên căn cứ theo kinh mạch để nhận biết chứng, đây chính là ý nghĩa lâm sàng trọng đại của biện chứng lục kinh, phản ảnh được quy luật khách quan và bệnh biến hoàn chỉnh của tạng phủ kinh lạc của bệnh ở mỗi đường kinh.
{Thương hàn luận} căn cứ theo kinh để nhận biết chứng, căn cứ vào chứng để lập pháp, căn cứ vào pháp để xử phương, là đưa ra một phương pháp dùng đơn giản để chế ngự phức tạp. Lý pháp phương dược, lý chính là lý của biện chứng, điều cần trước tiên là nhận biết “Kinh”, và đây là khâu then chốt.
IV/Truyền biến của lục kinh bệnh
Lục kinh của cơ thể sau khi bị bệnh, tất nhiên sẽ hình thành một cục diện tà và chính đấu tranh, sẽ liên quan đến vấn đề truyền kinh. Thí dụ như, Thái dương bệnh là biểu chứng, tà chính đấu tranh cũng ở biểu, nếu như một vài ngày sau các chứng trạng như đau đầu, sợ lạnh, phát sốt không còn, mà xuất hiện ngực cạnh sườn đầy trướng, đắng miệng, tâm phiền hay nôn, vãng lai hàn nhiệt là chứng trạng của kinh Thiếu dương, hoặc giả đại tiện táo kết là chứng trạng của kinh dương minh thực chứng, điều này gọi là truyền biến.
1/Điều kiện truyền biến của lục kinh bệnh 11
Truyền biến của bệnh được quyết ở điều kiện, đó chính là so sánh sức mạnh của bệnh và năng lực kháng bệnh (Chính và Tà), trong đó then chốt là ở chính khí. Nếu chính khí kháng bệnh mạnh mẽ, bệnh sẽ không truyền kinh. Ngoài ra có một loại tình huống, bệnh tà đã truyền vào trong, thậm chí đã truyền đến kinh âm, do vì chính khí khôi phục và tà khí suy thoái, bệnh tà có thể thoái xuất từ âm kinh, rét run và đổ mồ hôi trên lâm sàng là những trường hợp điển hình. Do đó có thể thấy tính trọng yếu của chính khí, Trần Tu Viên tổng kết 397 phép và 113 phương trong {Thương hàn luận} thành 6 chữ : “保胃气,存津液”( Bảo vị khí, tồn tân dịch). {Thương hàn luận} viết: Phàm là bệnh, nếu phát hãn, nếu thổ, hạ, mất máu, mất tân dịch (mất nước), nếu âm dương hoà bệnh tất sẽ tự khỏi. Tại sao như vậy? Đó chính là nhấn mạnh việc bảo dưỡng chính khí. Tuy nhiên việc truyền biến của Lục kinh bệnh có quan hệ mật thiết với tình trạng mạnh yếu của tà khí, với công việc điều trị và chăm sóc thích đáng hay không, nhưng vấn đề then chốt vẫn là chính khí (năng lực kháng bệnh) của bệnh nhân. Trị pháp dùng dược xử phương của {Thương hàn luận} đều là một phân thành hai, đồng thời với việc sử dụng thang Ma hoàng để phát hãn là nói đến chống chỉ định, với những điều kiện nào thì có thể phát hãn, như thế nào thì không thể phát hãn, loại dạng mồ hôi nào thì nên phát hãn, và mức độ xuất hãn như thế nào là phù hợp. Nếu như ta cảm nhận tinh tế, đó chính là cùng với việc trừ khứ tà khí, cũng cần phải bảo tồn chính khí. Bản thân việc trừ khứ tà khí cũng là bảo vệ chính khí, nhưng ngàn vạn lần không nên vì trừ khứ tà khí mà làm tổn thương chính khí, là làm cho việc điều trị bệnh thất bại. Trên lâm sàng phân tích truyền kinh như thế nào, chính là một vấn đề trọng yếu. Theo Thánh y Trọng Cảnh điểm then chốt của truyền kinh hay không là tình trạng Tĩnh hoặc không Tĩnh của mạch và chứng, cũng chính là mạch và chứng có hay không phát sinh những biến hoá mới. Nguyên văn chính là: Nếu mạch tĩnh là không truyền; buồn nôn nhẹ, nóng vội phiền muộn, mạch sác cấp, là bệnh truyền kinh. Đây là nói về Thái dương bệnh, chính là giai đoạn Thái dương biểu chứng, nếu như mạch vẫn còn phù, chứng vẫn còn sợ lạnh phát sốt, đầu gáy cứng đau, là biểu hiện của bệnh không truyền kinh, bệnh tà vẫn ở phạm vi Thái dương; Nếu như thấy mạch sác cấp, các chứng trạng xuất hiện như phát phiền, lợm giọng buồn nôn, đó chính là biểu hiện của truyền kinh, tà khí từ Thái dương kinh truyền đến hai kinh Dương minh hoặc Thiếu dương kinh. Do đó, truyền kinh cần giải thích từ biện chứng, từ góc độ của mạch, và từ góc độ của chứng.
II/ Loại hình truyền biến của lục kinh bệnh
Hình thức truyền có một số loại hình. Loại thứ nhất là truyền dựa theo thứ tự mỗi kinh. Loại hình thức truyền biến này gọi là tuần kinh (men theo). Thí dụ bệnh tà của kinh Thái dương, sẽ truyền đến Dương minh hoặc Thiếu dương. Cuối cùng chính là truyền Dương minh và truyền Thiếu dương, còn lại chưa thể kết luận.
Có người chiếu theo thứ tự Thái dương, dương minh, thiếu dương, cho rằng Thái dương truyền Dương minh, Dương minh truyền Thiếu dương. Điều này không phải đã biến quan hệ giữa chính tà có tính chất giáo điều sao? Như vậy không gọi là biện chứng luận trị. Ở phần Thái dương bệnh, thái dương bệnh đã truyền Dương minh, cũng đã truyền đến Thiếu dương, có nhiều loại khả năng. Hình thức truyền kinh được xây dựng trên những điều kiện nhất định. Thái dương truyền dương minh luôn luôn do tân dịch của Túc dương minh vị kinh không đầy đủ, như sau khi uống thang Quế chi ra nhiều mồ hôi, chứng phiền khát không giải, mạch hồng đại, Bạch hổ thang gia nhân sâm dùng trong trường hợp này. Thái dương truyền Thiếu dương thường do khí huyết hư suy, như huyết nhược, khí tận, thấu lý (thớ thịt) khai mở, tà khí nhân đó xâm nhập, chính tà đấu tranh, kết dưới cạnh sườn. Vì thế, hình thức truyền kinh đầu tiên được quyết định ở lực lượng đề kháng ngoại tà của chính khí, lực lượng đề kháng bệnh tà của một kinh nào suy yếu, sẽ dễ bị bệnh tà xâm phạm. Chính cái đó gọi là, tà chi sở tấu, kỳ khí tất hư.(Tà khí tập hợp được là chính khí đã hư tổn rồi).
Loại thứ hai chính là dương kinh truyền trực tiếp đến âm kinh, hình thức truyền kinh này gọi là truyền biểu lý. Thí dụ như. Thái dương và Thiếu âm là quan hệ biểu lý, nếu dương khí của Thiếu âm không đủ, sẽ xuất hiện tà của Thái dương truyền vào Thiếu âm.
Loại thứ ba là không có thứ tự của ba kinh dương, bị bệnh là xuất hiện hội chứng của ba kinh âm, loại hình thức truyền kinh này gọi là trực trúng. Trực chính là trực tiếp, trúng tức là thương trúng, căn nguyên của trực trúng đa phần là do tà khí khá mạnh và khí huyết hư suy, thường gặp ở người lớn tuổi. Trên lâm sàng thường gặp người lớn tuổi khi cảm mạo liền xuất hiện hội chứng Thiếu âm hàn chứng như mạch trầm, mê man chỉ muốn ngủ, đầu ngón tay lạnh, nên nhanh chóng cho uống thang Phụ tử, mà không được phát hãn, nếu không phế khí sẽ bị tổn hại. Như khi phát bệnh ở ba kinh dương, không phải là hình thức truyền kinh, mà chính là đồng thời xuất hiện hội chứng của hai kinh hoặc cả ba kinh, không có phân thứ tự trước sau là hợp bệnh. Thí dụ như, đã có Thái dương bệnh đầu gáy cứng đau, cũng có khả năng ngực cạnh sườn trướng đầy đắng miệng là hội chứng Thiếu dương, còn có thể dương minh bệnh như khát nước, thích uống nước. Hợp bệnh có nhị dương hợp bệnh, như Thái dương Dương minh hợp bệnh, Thái dương Thiếu dương hợp bệnh, cũng có tam dương hợp bệnh. Hợp bệnh chính là nguyên phát, mà nguyên nhân thường là tà khí khá mạnh mà chính khí không suy. Nếu như chính khí đã suy, có khả năng sẽ xuất hiện âm chứng.
Còn một loại tình huống, là bệnh của một kinh chưa khỏi, một kinh khác lại phát bệnh, khi phát bệnh có phân thứ tự trước sau, tựa như tà khí truyền kinh như bất tận, gọi là hợp bệnh. Thí dụ như: Thái dương biểu chứng chưa hoàn toàn giải trừ, lại xuất hiện Thiếu dương chứng như khó chịu ở ngực cạnh sườn, bực bội hay nôn (hung hiếp khổ mãn, tâm phiền hỉ ẩu), Thái dương bệnh ở phía trước, Thiếu dương bệnh ở phía sau, chính là Thái dương Thiếu dương hợp bệnh, chính là tà của Thái dương cần hướng về hợp lại với kinh Thiếu dương, dù cho hình thức này cũng có ý nghĩa của truyền kinh. Vì thế, tính bệnh (bệnh phát kèm theo) đều là bệnh kế phát. Hợp bệnh và Tính bệnh đều không phải là bệnh của một kinh, mà chính là bệnh của hai kinh hoặc hai kinh trở lên. So sánh mà nói, hợp bệnh là nguyên phát, Tính bệnh là kế phát; Tình trạng bệnh của hợp bệnh khá cấp bách, còn Tính bệnh hoà hoãn hơn. Sau này khi giảng về bệnh , đối với phương cách điều trị hợp bệnh, phương cách dùng cho Tính bệnh, sẽ có những phân giải cụ thể. Ngoại hợp bệnh và Tính bệnh chỉ giới hạn trong phạm vi của ba kinh dương, nên phần nhiều là chứng thực nhiệt.
V/ Chủ chứng, kiêm chứng, biến chứng và hỗn hợp chứng của lục kinh bệnh
Nói rộng hơn, các loại hội chứng trong{Thương hàn luận}không ngoài các loại sau: Chủ chứng, kiêm chứng, biến chứng, giáp tạp chứng (chứng xen lẫn). Đối với 4 loại hội chứng này, nhất định cần phải rõ ràng, khi lâm sàng biện chứng không thể xem nhẹ. 27
1/ Chủ chứng là gì?
Khi lâm sàng biện chứng, nên phân biệt rõ chủ chứng là gì, kiêm chứng là gì, biến chứng là gì, chứng hỗn hợp là gì, nhất định cần phải phân tích có thứ tự lớp lang.
Chủ chứng, nghe tên hiểu nghĩa, chính là chiếm địa vị chủ đạo của hội chứng, chính là vị trí đệ nhất.
Sau chủ chứng chính là kiêm chứng, rồi đến biến chứng, chứng hỗn hợp. Chủ chứng là căn cứ chủ yếu của biện chứng, cho nên cần phải nắm vững chủ chứng. Cá nhân cho rằng , biện chứng trước tiên phải có tính kế thừa, vì y học chính là đang trong quá trình tích luỹ kinh nghiệm mà thành. Tại sao chúng ta vẫn nghiên cứu “Thương hàn luận” của 1700 năm trước? Vì chúng ta cần kế thừa, hấp thụ những kinh nghiệm và phương pháp khoa học. Biện chứng lục kinh chính là những tổng kết của cuộc đấu tranh với bệnh tật của người xưa. Vì thế, chủ chứng và chủ phương rất quan trọng trong “Thương hàn luận” đều cần phải được ghi nhớ và tập trung vào những kỹ năng cơ bản. Trên cơ sở một lượng lớn kế thừa, cần phải có những lĩnh hội nhận thức của riêng mình, vươn lên lý thuyết và phương pháp tư duy, hình thành những hiểu biết chính xác, nhận biết chính xác đối với lục kinh biện chứng, âm dương biểu lý, hư thực hàn nhiệt và tạng phủ kinh lạc, nghĩ một ra ba, từ đó nghĩ đến đây, từ biểu đến lý, suy luận rộng lớn hơn mà sử dụng. Các đại gia sau thời nhà Hán như Lý Đông Viên, Trương Tử hoà, Chu Đan Khê đều hiểu và chịu ảnh hưởng sâu sắc {Nội kinh} và {Thương hàn luận} mà vẫn có những phát huy của riêng mình.
2/ Kiêm chứng là gì?
Kiêm chứng chính là trên cơ sở chủ chứng có kèm theo hội chứng. Thí dụ như, dưới tiền đề của Thái dương trúng phong, có chứng suyễn nhẹ, dùng thang Quế chi gia Hậu phác Hạnh tử thang, lưng gáy cứng dùng thang Quế chi gia Cát căn thang. Trường hợp trước là ảnh hưởng bởi phế khí bất lợi, trường hợp sau chính là ảnh hưởng bởi khí vận chuyển của Thái dương kinh không thuận lợi, đều không có hội chứng của chủ chứng Thái dương trúng phong, nên gọi là kiêm chứng. Là trường hợp thí dụ của Trương Trọng Cảnh, chúng ta cần dùng nó làm phần mở đầu để tìm hiểu về chủ chứng, kiêm chứng, biến chứng và hỗn hợp chứng của lục kinh bệnh và suy từ đó ra các loại khác.
28
Thời nhà Thanh có một danh gia thương hàn tên là Từ Linh Thai, ông ta cho rằng khi ứng dụng thang Quế chi trị liệu trên cơ sở vinh vệ bất hoà, vinh khí hư gia Đương quy, vệ khí hư gia Hoàng kỳ. Nội dung này không phải của {Thương hàn luận} vốn có, mà chính là do Từ linh Thai linh hoạt trong học tập và sử dụng thuốc. Thang Quế chi có thể gia hoặc không gia Hoàng cầm? có thể hoặc không thể gia Thạch cao? Những việc này là có thể, nhưng cần căn cứ theo những tình huống cụ thể trên lâm sàng để xử lý.
III/ Biến chứng là gì
Biến chứng trong {Thương hàn luận} tựa hồ chiếm đến 1/3
1/ Tình trạng biến hoá của bệnh
Sau khi hình thành một loại bệnh riêng. Biến chứng hình thành không thông qua hình thức truyền kinh, mà chính là do điều trị sai lầm. Ngộ trị trong{Thương hàn luận}có liên quan đến các trị pháp như: Hãn, thổ, hạ, hoả liệu, thuỷ liệu. Năm loại trị pháp này dùng không đúng phép, khiến bệnh phát sinh biến hoá mới, nếu vấn đề ban đầu không tồn tại, thì đó gọi là biến chứng. Trong một bộ sách y học, cần cả mặt tích cực lẫn tiêu cực, cần cả những nội dung điều chỉnh (bỏ rối loạn, giữ điều tốt đẹp tích cực), trong {Thương hàn luận} có rất nhiều điều để nói về vấn đề này, cho thấy trình độ thày thuốc thời nhà Hán vẫn còn rất thấp. Cá nhân tôi cho rằng, biến chứng không chỉ là bản tóm tắt của Trương Trọng Cảnh về một số điều trị sai lầm, mà còn là một phương pháp viết được sử dụng để viết về tạp bệnh, để tăng cường mức độ phân biệt và điều trị hội chứng, và hỗ trợ sự thiếu hụt phân biệt hội chứng trong Lục kinh. Nhìn thấy điều này, nó có ý nghĩa lớn hơn đối với hướng dẫn lâm sàng của chúng tôi. Vì thế không nên học {Thương hàn luận} một cách cứng nhắc, kém linh hoạt, nếu không sẽ phạm sai lầm như ôm cây đợi thỏ, đối với nhận thức biến chứng, nên chú trọng vào biến hoá của bệnh cơ và trên thực chất của hội chứng. Thí dụ như, sau khi phát hãn đã có thể xuất hiện vong dương, cũng có thể xuất hiện hoá nhiệt, các loại các dạng đều có. Sau khi phát hãn, ớn lạnh là biểu hiện của HƯ; Không ớn lạnh, nhưng nóng, là biểu hiện của THỰC.
29
Đối với biến chứng cần phải thẩm tra tường tận, phân tích kỹ lưỡng, tuân theo nguyên tắc {Thương hàn luận}, quan sát mạch chứng,biết sai phạm ở đâu, điều trị tuỳ theo chứng. Quan sát có nghĩa là không chỉ nhìn, mà còn có ý nghĩa là quan sát sâu sắc, xâm nhập quan sát mạch và chứng, khi biết sai phạm ở đâu, ta mới có thể biết các biến chứng là kết quả của các sai lầm từ pháp hãn, phép thổ, phép hạ, sau đó , tuỳ theo chứng để điều trị. Vì thế, nếu như nói biện chứng lục kinh chính là có tính quy luật, sự xuất hiện của biến chứng chính là tính linh hoạt, tính phức tạp đa biến, chỉ bằng cách này, những thay đổi phức tạp khác nhau của một căn bệnh trong các khía cạnh khác nhau của cơ thể con người có thể được phản ánh.
Chủ chứng của lục kinh là bệnh không thay đổi, cũng chính là quy luật phát bệnh khách quan của lục kinh bệnh, có tính đại biểu. Từ tiền đề chủ chứng phát hiện kiêm chứng, hỗn hợp chứng, biến chứng gọi là biến hoá của bệnh. Biết rằng các phương bình thường có khả năng đạt biến, nên nắm vững cả hai phương diện, để có thể đạt được mục đích của biện chứng luận trị.