HUYẾT ÁP THẤP DO THỂ CHẤT VÀ KẾ PHÁT.体质性低血压
Tài liệu tham khảo:
- Thế nào là huyết áp thấp do thể chất (体质性低血压)?
Theo quy định của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), nếu huyết áp của người trưởng thành dưới mức 90/50 mmHg, thì được gọi là huyết áp thấp.
Huyết áp thấp do thể chất, còn gọi là huyết áp thấp nguyên phát, thường gặp ở phụ nữ có thể trạng gầy yếu, và thường có yếu tố di truyền trong gia đình. Ở nhiều trường hợp, người bệnh không có triệu chứng rõ ràng, chỉ tình cờ phát hiện khi kiểm tra sức khỏe. Tuy nhiên, cũng có những người bị huyết áp thấp thể chất xuất hiện các triệu chứng như mệt mỏi, uể oải, đau đầu, hoa mắt, hồi hộp trống ngực, cảm giác nặng tức trước tim… có biểu hiện gần giống chứng suy nhược thần kinh. Ngoài ra, nhóm này cũng dễ mắc một số bệnh như sa dạ dày, sa thận, hội chứng Meniere,… Nguyên nhân là do thể chất yếu, chức năng tim kém, lượng máu tống ra mỗi nhát bóp ít, vì thế huyết áp tâm thu (huyết áp tối đa) thường hạ, nhưng nhìn chung hiếm khi xuống dưới 80 mmHg.
Cần lưu ý rằng, nhiều người trước khi phát hiện huyết áp thấp thì không có gì bất thường, nhưng khi tình cờ biết được chỉ số huyết áp thấp qua đợt khám sức khỏe, lại quá lo lắng và “chạy chữa khắp nơi”, dẫn đến “bệnh từ tâm lý” (y học gọi là “bệnh nguồn gốc do y tế” hoặc “bệnh iatrogenic”). Rõ ràng, điều này xuất phát từ sự thiếu hiểu biết đúng đắn và tâm lý hoang mang không cần thiết.
Vì vậy, nguyên tắc đầu tiên để phòng và trị là điều chỉnh nhận thức, xóa bỏ lo lắng. Tiếp theo, cần tăng cường vận động, rèn luyện thể chất. Thứ ba, có thể chọn một số phương pháp ẩm thực trị liệu, bồi bổ; đa số trường hợp không cần can thiệp bằng thuốc. Chỉ cần sức khỏe tổng thể được cải thiện, huyết áp thấp thường dần phục hồi. Tuy nhiên, nếu đồng thời mắc các bệnh mạn tính hoặc suy dinh dưỡng, nên điều trị có mục tiêu dưới sự hướng dẫn của bác sĩ.
Huyết áp thấp do thay đổi tư thế (体位性低血压)
Tài liệu tham khảo:
- Thế nào là huyết áp thấp do thay đổi tư thế (体位性低血压)? Những thuốc nào dễ gây ra tình trạng này? Cách phòng ngừa?
Huyết áp thấp do thay đổi tư thế là tình trạng huyết áp giảm khi thay đổi tư thế đột ngột, chẳng hạn từ nằm ngửa chuyển sang đứng dậy, hoặc do đứng lâu. Thông thường, nếu sau khi đứng dậy, huyết áp tâm thu giảm trên 20 mmHg hoặc huyết áp tâm trương giảm trên 10 mmHg so với khi nằm, sẽ được xem là huyết áp thấp do thay đổi tư thế.
Loại huyết áp thấp này chia thành cấp tính và thứ phát.
- Cấp tính (đột ngột): thường do rối loạn chức năng thần kinh thực vật gây mất điều hòa co mạch ở các tiểu động mạch lúc đứng dậy. Biểu hiện chính là huyết áp giảm khi đứng thẳng, kèm cảm giác đứng không vững, mờ mắt, hoa mắt, kiệt sức, tiểu – đại tiện không tự chủ, nặng có thể ngất xỉu.
- Thứ phát: thường gặp ở người mắc bệnh tủy sống, bệnh nhiễm khuẩn cấp tính hoặc nhiễm trùng nặng (như viêm phổi thùy), rối loạn nội tiết, suy dinh dưỡng mạn tính hoặc sử dụng thuốc hạ áp, thuốc an thần,…
Huyết áp thấp do thay đổi tư thế là bệnh phổ biến ở người cao tuổi. Thống kê cho thấy, khoảng 15% người trên 65 tuổi mắc bệnh này. Tỷ lệ còn cao hơn (30 – 50%) ở nhóm trên 75 tuổi. Ở người già, do tim mạch xơ cứng dần, sợi đàn hồi mạch máu giảm, thần kinh giao cảm tăng cường khiến huyết áp tâm thu thường cao. Huyết áp cao kéo dài sẽ làm giảm độ nhạy của thụ thể áp lực (ở động mạch cảnh), đồng thời ảnh hưởng tính giãn nở của thành mạch và tâm thất. Khi thay đổi tư thế đột ngột hoặc dùng thuốc hạ áp, huyết áp sẽ tụt nhanh hơn, dễ thiếu máu cục bộ. Hơn nữa, người già dung nạp kém khi thiếu hụt thể tích tuần hoàn (có thể do tim khi giãn nở bị hạn chế), nên chỉ cần mất nước (đổ mồ hôi nhiều, tiêu chảy, uống không đủ nước), dùng lợi tiểu hoặc giảm vận động, nằm liệt giường lâu ngày,… cũng dễ gây huyết áp thấp tư thế.
Khi nghi ngờ có huyết áp thấp do thay đổi tư thế, nên nhiều lần đo huyết áp ở các tư thế khác nhau để chẩn đoán và điều trị kịp thời, tránh các tai biến do ngã hoặc ngất.
Ngoài việc điều trị nguyên nhân, cần lưu ý:
- Chế độ ăn uống hợp lý, bổ sung đầy đủ dưỡng chất, tránh ăn quá no hoặc để quá đói, kiêng rượu bia.
- Duy trì luyện tập thể dục thể thao phù hợp, nâng cao thể trạng, ngủ đủ giấc, tránh mệt mỏi và đứng lâu.
- Nếu triệu chứng rõ, có thể mang vớ (tất) đàn hồi dài, dùng đai lưng nhằm hỗ trợ tuần hoàn. Trường hợp mắc huyết áp thấp tư thế mạn tính, có thể sử dụng một số thuốc điều trị như bổ trung ích khí hoàn, sinh mạch ẩm (thuốc Đông y), hoặc thử dùng hormone vỏ thượng thận.
- Để phòng ngừa, người nằm liệt giường lâu và người cao tuổi bị cao huyết áp nên thay đổi tư thế một cách từ tốn, trước khi đứng dậy cần hoạt động nhẹ tứ chi, giúp máu tĩnh mạch trở về tim, tăng huyết áp, giảm nguy cơ hạ huyết áp tư thế.
Những thuốc dễ gây huyết áp thấp do thay đổi tư thế chia làm 4 nhóm:
- Thuốc chống tăng huyết áp: thường gặp nhất là guanethidine và thuốc phong bế hạch thần kinh (ganglion), ngoài ra còn có hydralazine, dihydralazine, reserpin, α-methyldopa,… Những thuốc này làm giảm trương lực mạch máu, giãn mạch, hạ huyết áp.
- Thuốc an thần: thường gặp là chlorpromazine (khi tiêm bắp hoặc tĩnh mạch). Chlorpromazine ngoài tác dụng an thần, còn kháng adrenergic, gây giãn mạch và hạ huyết áp; nó cũng làm giãn các tĩnh mạch nhỏ, giảm lượng máu hồi về tim.
- Thuốc kháng adrenergic: như tolazoline, phentolamine,… Chúng tác động lên thụ thể α (là thụ thể gây co mạch) của mạch máu, ức chế tác dụng co mạch của noradrenaline.
- Thuốc giãn mạch: như nitroglycerin,… có khả năng trực tiếp làm giãn cơ trơn mạch máu.
Do đó, khi dùng các thuốc kể trên phải hết sức lưu ý, tránh nguy cơ hạ huyết áp do thay đổi tư thế. Cách phòng ngừa:
- Nhắc bệnh nhân không được đứng dậy đột ngột sau khi dùng thuốc; tốt nhất là nằm nghỉ 1 – 2 giờ. Nếu vừa đứng lên đã thấy chóng mặt, cần lập tức nằm nghỉ.
- Sau khi dùng thuốc, ban đêm đi vệ sinh là lúc dễ xảy ra huyết áp thấp tư thế nhất, nên tốt nhất cố gắng hạn chế việc rời giường ban đêm (nếu có thể).
- Ra mồ hôi nhiều, tắm nước nóng, tiêu chảy, cảm mạo, uống rượu,… đều là yếu tố thuận lợi gây hạ huyết áp tư thế, cần tránh. Cũng nên chú ý cẩn thận lúc sáng sớm khi mới thức dậy.
- Khi hạ huyết áp tư thế xảy ra, nên đặt bệnh nhân ở nơi thoáng khí, cho đầu thấp, nới lỏng quần áo, giữ ấm vừa đủ; thông thường bệnh nhân sẽ nhanh tỉnh lại. Nếu tình trạng kéo dài và bệnh nhân mất ý thức, có thể châm cứu vào các huyệt Bách hội, Nhân trung, Thập tuyên; cần thiết có thể tiêm thuốc vận mạch. Trường hợp hạ huyết áp do chlorpromazine, không được dùng adrenaline vì tác dụng α đã bị chẹn, chỉ còn β nổi trội, khiến giãn mạch và huyết áp tụt nặng hơn. Khi đó, nên chọn thuốc chỉ kích thích thụ thể α, như metaraminol (Aramine), phenylephrine,… song hiệu quả tăng huyết áp cũng không thật sự ổn định.
Huyết áp thấp thứ phát (继发性低血压)
Tài liệu tham khảo:
- Thế nào là huyết áp thấp thứ phát (继发性低血压)? Huyết áp thấp là gì?
Huyết áp thấp thứ phát là tình trạng huyết áp giảm như một triệu chứng kèm theo của bệnh lý khác, ví dụ: suy giảm chức năng tuyến yên, lao, ung thư ác tính, bệnh gan mạn tính, suy dinh dưỡng,… Việc điều trị huyết áp thấp thứ phát, mấu chốt là điều trị tích cực bệnh chính; khi bệnh chính được cải thiện, huyết áp thấp cũng sẽ được cải thiện tương ứng.
“Thấp huyết áp” (hay huyết áp thấp) nghĩa là huyết áp dưới ngưỡng bình thường. Nếu người trưởng thành, qua nhiều lần đo, huyết áp luôn thấp hơn 12/8 kPa (tức 90/60 mmHg), thì gọi là huyết áp thấp. Có hai loại: huyết áp thấp cấp tính (hay gặp trong các tình trạng sốc) và huyết áp thấp mạn tính (thường gặp trong nhiều bệnh, hoặc ở một số người bình thường).
Nguyên nhân thường gặp của huyết áp thấp mạn tính:
- Suy vỏ thượng thận mạn tính (bệnh Addison), viêm tụy mạn, viêm gan mạn, đái tháo đường nặng, hội chứng kém hấp thu, hẹp van động mạch chủ nặng, hẹp van hai lá, bệnh tim phổi tắc nghẽn, viêm màng ngoài tim co thắt, suy tim nặng, bệnh tủy sống, suy dinh dưỡng lâu ngày,…
- Dùng một số thuốc cũng có thể làm huyết áp hạ, như hydralazine, guanethidine, prazosin, chlorpromazine,… gây huyết áp thấp tư thế.
Một số người khỏe mạnh cũng có huyết áp thấp, đa số là phụ nữ thể trạng yếu, hoặc do di truyền trong gia đình. Huyết áp thấp kiểu này thường không có triệu chứng, đôi khi kết hợp bệnh mạn tính hoặc suy dinh dưỡng, có thể bị hoa mắt, đau đầu, hồi hộp, mệt mỏi. Thể huyết áp thấp do thể chất này thường không có ý nghĩa bệnh lý nghiêm trọng, không cần điều trị đặc hiệu, chỉ cần chú trọng dinh dưỡng, tập luyện để nâng cao thể lực.
Các thể thường gặp của huyết áp thấp:
- Huyết áp thấp khi đi tiểu
Gặp nhiều ở nam giới cao tuổi, xảy ra vào ban đêm khi đi tiểu, có thể đột ngột ngã quỵ, mất ý thức, thậm chí giật tay chân. Thường vài phút sau khi nằm xuống sẽ tỉnh. Nguyên nhân do lúc tiểu tiện, bàng quang đột ngột rỗng, áp lực trong ổ bụng giảm nhanh, máu ứ đọng ở tĩnh mạch, hồi lưu tĩnh mạch về tim giảm, dẫn đến cung lượng tim giảm, huyết áp hạ đột ngột. Vì vậy, người già đi tiểu ban đêm nên ngồi bô thay vì đứng.
- Huyết áp thấp sau ăn
Ở người ăn uống xong khoảng 18 phút, huyết áp bắt đầu hạ, đến tầm 40 phút thì huyết áp tâm trương giảm mạnh nhất. Thường gặp ở người cao tuổi, đặc biệt cơ thể suy yếu. Lý do:
- Lượng protein ăn vào cần được dạ dày tiêu hóa, nên máu dồn đến dạ dày, giảm lượng máu tuần hoàn nuôi các bộ phận khác, làm huyết áp hạ.
- Sau ăn, insulin tăng cao, phản ứng cường phó giao cảm bị ức chế, làm giảm độ nhạy của thụ thể áp lực, dẫn tới giảm huyết áp.
Do đó, sau bữa ăn, người già yếu nên ngồi nghỉ hoặc nằm nghỉ một lúc.
- Huyết áp thấp do bệnh lý, còn gọi là huyết áp thấp triệu chứng.
Các bệnh hệ thần kinh, tim mạch, rối loạn nội tiết,… đều có thể gây huyết áp thấp. Điều trị chủ yếu là tìm nguyên nhân và điều trị bệnh chính, sau đó huyết áp có thể trở lại bình thường.
- Huyết áp thấp do thuốc
Dùng một số thuốc như aminazin (wintermin), diazepam (seduxen), reserpin, thuốc lợi tiểu nhóm thiazide (hydrochlorothiazide), α-methyldopa, phentolamine, dopamine, isosorbide dinitrate, nitroglycerin,… có thể gây hạ huyết áp. Người cao tuổi dùng những thuốc này đặc biệt cần thận trọng, thường xuyên theo dõi huyết áp.
- Huyết áp thấp ở vùng cao
Người ở đồng bằng khi lên khu vực cao trên 3.500 m so với mực nước biển, có thể thấy huyết áp hơi thấp. Triệu chứng thường kèm: chóng mặt, buồn ngủ, giảm trí nhớ, kiệt sức, ăn uống kém,… Qua một thời gian thích nghi hoặc trở về vùng thấp, các triệu chứng sẽ hết và huyết áp về bình thường.
- Các dạng khác
Ví dụ như huyết áp thấp tư thế và huyết áp thấp thể chất đã nêu ở phần trên, ở đây không nhắc lại nữa.
Trường Xuân dịch