Suy giãn tĩnh mạch 静脉曲张
Những người nào dễ bị suy giãn tĩnh mạch?
1/ Phụ nữ mang thai: Khi mang thai, tử cung to lên, chèn ép các tĩnh mạch chậu khiến áp lực tĩnh mạch tăng cao, xuất hiện tình trạng giãn tĩnh mạch, đồng thời lưu lượng máu vùng chậu tăng lên khi mang thai ảnh hưởng đến quá trình trào ngược máu vùng bụng dưới. tứ chi, đồng thời cũng là một trong những yếu tố gây bệnh.
2/ Bệnh nhân u vùng chậu: Các u vùng chậu và hạch phì đại chèn ép các tĩnh mạch chậu, gây tăng áp lực tĩnh mạch ở chi dưới và dễ bị giãn tĩnh mạch.
3/ Bệnh nhân bị huyết khối tĩnh mạch sâu: Huyết khối tĩnh mạch sâu ngăn chặn sự quay trở lại của máu trong tĩnh mạch sâu, làm tăng gánh nặng cho các tĩnh mạch nông và gây ra sự giãn nở bù trừ của các tĩnh mạch nông.
4/ Giáo viên, nhân viên bán hàng, tiếp viên và nhân viên phải đứng lâu, do trọng lực, huyết áp tác động lên các van tĩnh mạch, nếu cứ tiếp tục như vậy thì chức năng của van tĩnh mạch sẽ bị tổn thương và máu sẽ không chảy trở lại bình thường.
5/ Bệnh nhân bị chấn thương tĩnh mạch bắp chân: Do vết thương ở thành tĩnh mạch nông và van thành tĩnh mạch, tính đàn hồi của thành và chức năng của van có thể bị ảnh hưởng sau khi lành, dẫn đến giãn tĩnh mạch ở vị trí bị thương.
6/ Người già và những người có thành tĩnh mạch yếu bẩm sinh bắt đầu thoái hóa, chức năng của van cũng yếu đi, ở những người có thành tĩnh mạch bẩm sinh yếu, tĩnh mạch thiếu đàn hồi, dễ giãn ra, khi áp lực tĩnh mạch tăng, lòng tĩnh mạch giãn ra, gây ra Van tĩnh mạch không đủ khiến máu chảy ngược và tăng áp lực tĩnh mạch nên lúc đầu tĩnh mạch giãn ra, sau đó dài ra và uốn cong thành các kết tiết (nốt sần) tĩnh mạch.
Các biến chứng của suy giãn tĩnh mạch là gì?
Giãn tĩnh mạch là bệnh phổ biến và khó điều trị, thường kéo dài hàng chục năm mà không cải thiện. Những người bị giãn tĩnh mạch trong thời gian dài dễ gặp phải nhiều biến chứng khác nhau:
(1) Hình thành vết loét, còn gọi là loét giãn tĩnh mạch. Do máu ứ đọng lâu ngày trong tĩnh mạch, áp suất thẩm thấu mao mạch tăng cao, gây phù nề các mô xung quanh, giảm sức đề kháng của mô tại chỗ, dễ xảy ra loét khi bị tổn thương nhẹ. Loét thường xảy ra ở phần trên của mắt cá trong và 1/3 dưới của bắp chân. Phổ biến hơn ở người trung niên hoặc người già.
(2) Viêm tắc tĩnh mạch do giãn tĩnh mạch: Do máu ứ đọng lâu ngày, huyết khối có thể hình thành ở tĩnh mạch giãn, dẫn đến viêm thành tĩnh mạch.
(3) Vỡ và chảy máu các nốt giãn tĩnh mạch: Thành của các nốt giãn tĩnh mạch mỏng và thường bám vào vùng da bị teo, tổn thương nhẹ dễ gây vỡ và chảy máu.
Tại sao giãn tĩnh mạch lâu ngày lại gây loét ở cẳng chân?
Bệnh nhân bị giãn tĩnh mạch lâu dài có thể bị phù nề mô nhiều hơn do ứ đọng tĩnh mạch, dẫn đến những thay đổi về da giống như bệnh chàm. Khi da bị ngứa, người bệnh sẽ vô tình gãi, làm trầm trọng thêm những thay đổi giống như bệnh chàm, dẫn đến bào mòn và loét.
Ngoài ra, bệnh nhân giãn tĩnh mạch có thành tĩnh mạch yếu, áp lực tĩnh mạch cao, lượng máu cung cấp tại chỗ không đủ khiến cơ và mô mỡ bị teo, các tĩnh mạch giãn tĩnh mạch nhô ra dưới da, tổn thương nhẹ có thể gây loét và dễ tổn thương vách tĩnh mạch. Loại loét này thường xảy ra ở phần trên của mắt cá trong và 1/3 dưới của bắp chân. Do lượng máu cung cấp đến mô không đủ nên mô xung quanh vết loét trở nên mỏng hơn, da trở nên đen và cứng, vết loét lâu ngày không lành. Dễ tái phát sau khi hồi phục.
Làm thế nào để điều trị chứng giãn tĩnh mạch và biến chứng?
Đối với bệnh giãn tĩnh mạch, việc phòng ngừa hiện là trọng tâm chính, làm chậm triệu chứng và ngăn ngừa biến chứng, đối với bệnh giãn tĩnh mạch nặng, điều trị bằng phẫu thuật thường được xem xét. Các phương pháp điều trị phổ biến bao gồm:
(1) Mang vớ co giãn, đối với những bệnh nhân bị giãn tĩnh mạch nhẹ và không có triệu chứng rõ ràng, họ có thể mang vớ co giãn trong thời gian dài, hoặc dán băng thun, hoặc dùng xà cạp quấn toàn bộ bắp chân từ bàn chân trở lên, có thể phòng ngừa và cải thiện tình trạng giãn tĩnh mạch nhẹ ở chi dưới, cải thiện sự hồi lưu tĩnh mạch của chi dưới và ngăn chặn sự phát triển liên tục của nó.
(2) Điều trị bằng phẫu thuật: Phương pháp này phù hợp với những bệnh nhân bị giãn tĩnh mạch nặng và có triệu chứng rõ ràng. Chụp tĩnh mạch sâu nên được thực hiện trước khi phẫu thuật để xác nhận sự thông suốt của tĩnh mạch sâu. Hiện nay, ba phương pháp phẫu thuật thường được sử dụng là thắt vị trí cao, bóc và cắt tĩnh mạch, thắt nhánh thông dưới cân, tùy theo tình trạng bệnh nhân khác nhau mà sử dụng các phương pháp khác nhau.
3/ Trong y học cổ truyền, hội chứng của bệnh này chủ yếu là khí trệ huyết ứ, mạch lạc không thông.
Trị pháp: Hành khí hoạt huyết, hóa ứ thông lạc.
Xử phương: Huyết phủ trục ứ thang . Sinh địa 30g, Đương quy 15g, Xích thược 10g, Xuyên khung 10g, Đào nhân 10g, Hồng hoa 6g, Ngưu tất 15g, Sài hồ 10g, Chỉ xác 10g, chích Cam thảo 6g. Sắc uống, mỗi ngày 1 thang
Để điều trị các biến chứng của nó, có các phương pháp sau:
1/ Loét bắp chân mạn tính, giãn tĩnh mạch và loét bắp chân mạn tính rất khó lành, ngoài việc tích cực điều trị chứng giãn tĩnh mạch chi dưới, cần kiểm soát nhiễm trùng, bôi kháng sinh tại chỗ hoặc toàn thân, làm sạch bề mặt vết loét. Y học cổ truyền phân biệt hội chứng này là khí hư và huyết ứ, phương pháp điều trị thích hợp là Bổ khí hoạt huyết sinh cơ, kích hoạt tuần hoàn máu và thúc đẩy tăng trưởng cơ bắp, dùng phương : Bổ dương hoàn ngũ thang: Hoàng kỳ 15g, Đương quy 15g, Xuyên khung 6g, Ngưu tất 15g, Đào nhân 10g, Hồng hoa 6g, Thái tử sâm 15g, chích Cam thảo 6g. Sắc uống ngày 1 thang. Cục bộ bên ngoài có thể đắp dầu tròng đỏ trứng. Phép chế dùng 5~6 quả trứng luộc chín, bóc lấy lòng đỏ, dùng một ít dầu thực vật đun nóng, chiên lòng đỏ trứng đến khi khô, bỏ bã lấy dầu, bôi vào nơi bị bệnh, ngày 2 lần.
2/ Giãn tĩnh mạch thấp chẩn. Biện chứng của y học cổ truyền cho bệnh này phần lớn thuộc thấp nhiệt, huyết mạch không thông.
Trị pháp: Thanh nhiệt trừ thấp, hoạt huyết thông lạc.
Xử phương: Hoạt huyết Tứ diệu thang: Thương truật 6g, Hoàng bá 15g, Ý rĩ 30g, Ngưu tất 15g, Đào nhân 10g, Hồng hoa 10g, Sinh địa 20g, Đan bì 10g, Xích thược 15g. Sắc uống, ngày 1 thang.
Người bị giãn tĩnh mạch cần lưu ý điều gì?
1/ Tránh đứng hoặc đứng lâu và tránh để chi dưới chịu sức nặng. Đối với những người phải đứng lâu như giáo viên, nhân viên bán hàng, tiếp viên…, khi bị giãn tĩnh mạch thì nên thay đổi nghề nghiệp càng sớm càng tốt để tránh khiến tình trạng nặng thêm và gây biến chứng.
2/ Những bệnh nhân bị giãn tĩnh mạch nhẹ và không có triệu chứng lâm sàng rõ ràng có thể dùng băng thun hoặc quần legging quấn bắp chân trong thời gian dài để ngăn chặn sự phát triển tiếp tục của chúng. Những người đứng lâu cũng có thể sử dụng băng thun để ngăn ngừa chứng giãn tĩnh mạch.
3/ Thực hiện chính xác của vận động phần chân, bạn có thể nằm ngửa trên giường, đạp xe, nâng cao chân, gập và duỗi chân, v.v., có thể tăng cường độ đàn hồi của cơ chân, giúp máu lưu thông và làm chậm chứng giãn tĩnh mạch.
4/ Có thể kết hợp với các liệu pháp vật lý trị liệu như massage, đèn hồng ngoại, các liệu pháp vật lý trị liệu này có tác dụng thúc đẩy tuần hoàn máu, giúp máu lưu thông, giảm áp lực tĩnh mạch.
(5) Tránh để lại vết bầm tím ở bàn chân và cẳng chân, vì giãn tĩnh mạch hình thành các nốt sần tĩnh mạch. Thành của các nốt sần tĩnh mạch mỏng và thường bám vào vùng da bị teo. Chấn thương nhẹ có thể gây vỡ và chảy máu, loại chảy máu này rất khó cầm . Ngoài ra, quá trình tuần hoàn máu tại chỗ của người bị giãn tĩnh mạch bị suy giảm, tổn thương da khi vỡ ra sẽ khó lành, bào mòn và loét dễ bị nhiễm trùng do lâu ngày không đóng lại, gây ra các biến chứng nghiêm trọng. Việc gãi quá nhiều cũng có thể gây ra những hư hỏng nêu trên. Vì vậy, bệnh nhân bị giãn tĩnh mạch nên tránh va chạm gây bầm tím và gãi quá nhiều ở phần dưới chân.
Lương y Nguyễn Nghị dịch