Tư liệu tham khảo:
Bệnh mạch vành có thể phòng ngừa được không?
Sự hình thành bệnh mạch vành liên quan đến nhiều nhân tố, chủ yếu được chia thành các nhân tố không thể đảo ngược và các nhân tố có thể đảo ngược. Trường hợp trước chủ yếu bao gồm di truyền, tuổi tác và giới tính; Trường hợp sau chủ yếu bao gồm tăng huyết áp, tăng lipid máu, hút thuốc, béo phì, thiếu hoạt động thể chất và các nhân tố tâm lý và tinh thần. Nghiên cứu y học hiện đại đã xác nhận rằng trong số nhiều nhân tố gây ra bệnh mạch vành, huyết áp cao, mỡ máu cao, hút thuốc và béo phì là những yếu tố gây bệnh chính và tất cả những yếu tố này đều có thể được thay đổi và điều chỉnh. Nhiều năm nghiên cứu lâm sàng và cơ bản đã chỉ ra rằng các mảng xơ vữa động mạch, cơ sở bệnh lý của bệnh mạch vành, có thể tiêu giảm, việc phòng ngừa và điều trị tích cực các yếu tố nguy cơ mắc bệnh mạch vành có thể làm giảm tỷ lệ tử vong do bệnh mạch vành. Ví dụ, việc cai thuốc lá bắt đầu từ những năm 1960, huyết áp cao được điều trị tích cực vào những năm 1970, việc phát hiện và điều trị bệnh mỡ máu cao trong những năm 1980 tiếp tục làm giảm tỷ lệ tử vong do bệnh mạch vành ở nhiều nước công nghiệp phương Tây. Tại Hoa Kỳ, từ năm 1968 đến năm 1987, tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch đã giảm 25% nhờ các biện pháp phòng ngừa. Phần Lan, quốc gia có bệnh mạch vành hàng đầu thế giới, cũng thông qua các biện pháp phòng ngừa, bao gồm điều chỉnh chế độ ăn uống một cách có ý thức, kiểm soát huyết áp cao, giảm hút thuốc và kiểm soát cân nặng, trong 10 năm từ 1972 đến 1982 tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch vành đã giảm 24% đối với nam và 64% đối với nữ. Ngoài ra, thời gian hình thành của bệnh tim mạch vành tương đối dài, do đó, việc phát hiện và điều chỉnh kịp thời các yếu tố gây bệnh có thể đảo ngược có thể ngăn ngừa hoặc trì hoãn sự xuất hiện của bệnh mạch vành trên lâm sàng.
Khi nào nên bắt đầu phòng ngừa bệnh mạch vành?
Nguyên nhân của bệnh mạch vành là do xơ vữa động mạch, quá trình phát triển này bắt đầu từ thời thơ ấu, sau một thời gian dài ủ bệnh không có triệu chứng, khi trưởng thành sẽ xuất hiện những biểu hiện lâm sàng rõ ràng. Những tổn thương này ở giai đoạn đầu là có thể đảo ngược, sau khi bước vào giai đoạn muộn sẽ trở thành những biến hoá không thể đảo ngược. Vì vậy, thời điểm tốt nhất để ngăn ngừa bệnh mạch vành là khi còn nhỏ. Trọng tâm của công tác phòng ngừa là:
(1) Ăn uống hợp lý để tránh béo phì. Đối với trẻ đang trong giai đoạn tăng trưởng và phát triển không ngừng, nên tránh ăn quá nhiều chất béo, đồ ngọt trên cơ sở cung cấp đủ chất đạm, vitamin, khoáng chất, chất xơ và lượng calo cần thiết. Về việc sắp xếp bữa ăn, chúng ta nên chủ trương ăn nhiều dầu thực vật, ít dầu động vật, vị nhạt, không nhiều muối, ăn cả thịt và rau, không thể thiếu rau và trái cây.
(2) Tập thể dục thường xuyên để nâng cao thể lực. Cho trẻ vận động thể chất, thể dục thể thao ở mức nhất định mỗi ngày, điều này không chỉ có thể làm tăng mức tiêu thụ năng lượng, điều chỉnh cân bằng năng lượng của cơ thể và ngăn ngừa béo phì mà còn thúc đẩy chức năng tim mạch, tăng cường khả năng co bóp của cơ tim, hạ thấp độ khẩn trương của mạch máu, khiến động mạch vành giãn nở, huyết áp hạ thấp, triglycerid máu và độ nhớt của máu giảm. Đây là những nhân tố thập phần hữu ích trong việc ngăn ngừa bệnh mạch vành và tăng huyết áp.
(3) Ngăn ngừa sự phát sinh huyết áp cao. Vì huyết áp cao là nhân tố nguy cơ độc lập dẫn đến sự khởi phát của bệnh mạch vành và mối quan hệ giữa huyết áp cao và bệnh mạch vành là quan hệ nhân quả nên cần chú ý phòng ngừa bệnh cao huyết áp trong thời thơ ấu, đặc biệt là đối với trẻ em của những gia đình có người cao huyết áp. Cần đo huyết áp thường xuyên cho học sinh tiểu học và trung học. Nếu huyết áp cao ở mức trên bình thường, cần đưa ra hướng dẫn chăm sóc sức khỏe, bao gồm giảm cân, tăng cường hoạt động thể chất, cải thiện cơ cấu chế độ ăn uống, giảm lượng muối và tăng lượng canxi ở đầu vào.
(4) Ngăn ngừa tác hại của việc hút thuốc. Hiện nay, tình trạng hút thuốc thụ động ở trẻ em rất phổ biến, điều đáng lo ngại hơn là một số học sinh bắt chước người lớn và lén lút hút thuốc, trở thành thế hệ mới hút thuốc. Để đạt được mục tiêu này, chúng ta phải tăng cường giáo dục sức khỏe và thực hiện một số biện pháp cần thiết để ngăn chặn thế hệ tiếp theo bị tổn hại do hút thuốc.
Phòng ngừa tiên phát bệnh mạch vành là gì và nội dung phòng ngừa tiên phát là gì?
Phòng ngừa ban đầu bệnh mạch vành là sự can thiệp của các yếu tố nguy cơ ở những người không mắc bệnh mạch vành, nhằm mục đích ngăn ngừa sự xuất hiện và phát triển của chứng xơ vữa động mạch. Các yếu tố nguy cơ được công nhận của bệnh mạch vành bao gồm giới tính nam, tiền sử gia đình mắc bệnh mạch vành sớm (cha mẹ và anh em bị nhồi máu cơ tim hoặc đột ngột qua đời trước 55 tuổi), hút thuốc (>10 điếu/ngày), huyết áp cao. -Cholesterol lipoprotein mật độ trắc định nhiều lần vẫn <0,9mmol/L (35mg/dl), bệnh tiểu đường, có tiền sử tắc nghẽn mạch máu não hoặc mạch máu ngoại biên rõ ràng, béo phì nặng (thừa cân ≥30%). Ngoại trừ giới tính và tiền sử gia đình không thể đảo ngược, các yếu tố nguy cơ trên đều có thể điều trị hoặc phòng ngừa được. Do đó, nếu các biện pháp phòng ngừa bước đầu (一级) hiệu quả được thực hiện thì sự khởi phát của chứng xơ vữa động mạch có thể bị trì hoãn và sự xuất hiện của bệnh mạch vành có thể giảm thiểu.Các biện pháp chính bao gồm:
(1) Khống chế huyết áp cao. Ở nước tôi tỷ lệ mắc bệnh tăng huyết áp và tỷ lệ hút thuốc đều cao nên việc phòng ngừa và điều trị bệnh tăng huyết áp là đặc biệt quan trọng. Bệnh nhân cao huyết áp nên ăn uống thanh đạm (dễ tiêu), tránh ăn quá nhiều muối, ăn nhiều rau, đậu và các thực phẩm giàu kali, canxi, tránh uống rượu và béo phì, tập thể dục phù hợp để duy trì tinh thần vui vẻ. Khi lựa chọn thuốc hạ huyết áp cần chú ý kiểm soát các yếu tố nguy cơ khác như tăng lipid máu, tăng đường huyết, tăng tiêm duy đản bạch nguyên (fibrinogen) và điện tâm đồ bất thường để đạt được hiệu quả tốt nhất trong phòng ngừa và điều trị tăng huyết áp chứ không chỉ hạ huyết áp về mức bình thường, mà còn có thể làm giảm tỷ lệ mắc bệnh mạch vành.
(2) Giảm lipid máu. Một thử nghiệm lâm sàng về việc giảm Đảm cố thuần (cholesterol) để ngăn ngừa bệnh mạch vành cho thấy việc giảm các yếu tố nguy cơ mắc bệnh mạch vành có liên quan trực tiếp đến mức độ và thời gian giảm mức cholesterol trong máu. Duy trì cholesterol ở mức lý tưởng trong thời gian dài hơn có thể đạt được mục đích ngăn ngừa sự khởi phát của bệnh mạch vành hoặc không làm bệnh nặng thêm. Vì vậy, việc tăng cường sức khỏe cần được tiến hành rộng rãi để ngăn chặn tình trạng tăng lipid máu trong dân số. Công chúng nên được thông báo rằng họ nên biết giá trị cholesterol của mình để có thể thực hiện các biện pháp chính xác trong cuộc sống dựa trên mức cholesterol của họ. Về cơ cấu khẩu phần ăn, cần duy trì ưu điểm truyền thống là ít mỡ, nhiều rau, ăn chay, thay đổi khuyết điểm ít đạm, ít canxi, nhiều muối để duy trì mức cholesterol toàn phần. trong dân số ở mức 5,2mmol/L (200mg/dl), dưới đây, những người có mức cholesterol toàn phần trên 6,24mmol/L (240mg/dl) nên áp dụng cả biện pháp hạ lipid máu bằng thuốc và không dùng thuốc theo hướng dẫn của bác sĩ.
(3) Bỏ hút thuốc. Theo khảo sát, số người hút thuốc ở nước tôi khoảng 290 đến 310 triệu người, trong đó vẫn còn 220 triệu người hút thuốc thụ động. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng đối với người 25 tuổi, hút 1 đến 9 điếu thuốc mỗi ngày sẽ rút ngắn tuổi thọ 4,6 năm; hút 10 đến 19 điếu thuốc sẽ rút ngắn tuổi thọ 5,5 năm; hút 20 đến 29 điếu thuốc mỗi ngày sẽ rút ngắn tuổi thọ của anh ta giảm đi 6,2 năm; Hút hơn 40 điếu thuốc sẽ rút ngắn tuổi thọ 8,3 năm. Vì vậy, Tổ chức Y tế Thế giới đưa ra lời kêu gọi “Yếu hấp yên, hoàn thị yếu kiện khang?” (要吸烟,还是要健康?) Hút thuốc hay Sức khỏe? Chìa khóa để cai thuốc lá là sự kiên trì, dù thuốc và châm cứu cũng có thể dùng được nhưng thành bại vẫn phụ thuộc vào quyết tâm và ý chí.
(4) Tăng cường hoạt động thể chất. Tập thể dục là phương tiện sức khỏe hiệu quả nhất. Các bài tập nhịp nhàng giúp vận động cơ thể, chẳng hạn như đi bộ, leo cầu thang, chạy, đạp xe và bơi lội, có lợi hơn các loại hoạt động khác. Nếu bạn có thể thực hiện 20 đến 30 phút hoạt động vừa phải (lên tới 50% đến 70% sức mạnh tối đa của bạn) mỗi ngày hoặc ít nhất cách ngày, bạn có thể tăng cường chức năng tim của mình một cách hiệu quả.
(5) Điều chỉnh tính cách Loại A. Tính cách loại A được đặc trưng bởi sự cấp bách về thời gian, tính cạnh tranh, cáu kỉnh và thiếu kiên nhẫn. Nghiên cứu Hợp tác Tây Hoa Kỳ cho thấy tỷ lệ mắc bệnh mạch vành ở những người có tính cách loại A cao gấp đôi so với người có tính cách loại B. Vì vậy, những người có tính cách Loại A nên sử dụng phương pháp điều chỉnh tâm lý, khí công, Thái Cực Quyền và các phương pháp khác để điều chỉnh cho phù hợp.
Phòng ngừa cấp hai bệnh mạch vành là gì và nội dung phòng ngừa cấp hai là gì?
Phòng ngừa cấp hai là việc kiểm soát sự phát triển của bệnh mạch vành và ngăn ngừa các biến chứng cho những người đã mắc bệnh mạch vành để họ có thể phục hồi tốt hơn. Tất cả các biện pháp phòng ngừa cấp một đều quan trọng đối với phòng ngừa cấp hai. Đồng thời, tránh các tác nhân gây bệnh mạch vành như: Ăn quá no, uống nhiều rượu, làm việc quá sức, tinh thần căng thẳng, hưng phấn, cảm lạnh đột ngột… Khi hiệu quả của các phương pháp trên không đạt yêu cầu, nên lựa chọn thuốc giãn động mạch vành và thuốc chẹn beta có tác dụng phụ nhỏ dưới sự hướng dẫn của bác sĩ để ngăn ngừa sự khởi phát và phát triển của bệnh mạch vành. Một khi xuất hiện cơn cấp tính của bệnh mạch vành, chẳng hạn như cơn đau thắt ngực dữ dội, bạn nên nghiêm túc nằm trên giường nghỉ ngơi và uống thuốc giãn mạch vành ngay lập tức, tốt nhất nên điều trị tại chỗ và đợi đến khi tình hình tương đối ổn định mới được đưa đến bệnh viện. Như vậy có thể làm giảm thiểu phát sinh nhồi máu cơ tim. Các bài tập phục hồi chức năng dần dần được bắt đầu trong giai đoạn phục hồi của bệnh mạch vành.
Trong những năm gần đây, nhiều học giả cho rằng sử dụng aspirin liều thấp, lâu dài có thể ngăn chặn hiệu quả sự kết tập tiểu cầu, từ đó ngăn ngừa sự phát sinh của bệnh mạch vành và nhồi máu cơ tim cấp tính.
Làm thế nào để ngăn ngừa nhồi máu cơ tim?
Để ngăn ngừa nhồi máu cơ tim, ngoài việc tham khảo những nguyên tắc và phương pháp đã nêu trong phần phòng ngừa cấp hai bệnh mạch vành, chúng ta cũng nên chú ý đến những điểm sau trong sinh hoạt hàng ngày:
(1) Không bao giờ mang vác vật nặng. Khi nâng vật nặng phải cúi xuống và nín thở, tác dụng sinh lý tương tự như nín thở khi đại tiện, là nguyên nhân phổ biến gây ra nhồi máu cơ tim ở bệnh nhân cao tuổi mắc bệnh mạch vành.
(2) Thư giãn đầu óc, sống vui vẻ, giữ tâm thanh thản, có thể bình tĩnh giải quyết mọi việc, tham gia các hoạt động thể thao phù hợp nhưng tránh những cuộc thi mang tính cạnh tranh cao, không quan tâm đến thắng thua, cao thấp.
Nói chung, để đạt được mục đích tập luyện, bạn phải tập thể dục nghiêm túc ít nhất ba lần một tuần, mỗi lần không ít hơn 20 phút, nhưng không quá 50 phút. Khi bắt đầu, bạn nên vận động cơ thể trước như giơ tay, duỗi chân,… Thực hiện một số động tác thư giãn khi kết thúc bài tập, không nên dừng hoạt động ngay và không nên đi ngủ ngay sau khi tập, nếu không sẽ dễ gây chóng mặt và có hại cho tim. Trước khi tham gia tập thể dục, cần đo khả năng chịu đựng của cơ thể. Không tập thể dục quá mức có thể khiến huyết áp tăng mạnh, làm tâm thất trái phải làm việc quá sức và thúc đẩy suy tim. Số lượng bài tập thường phụ thuộc vào độ tuổi và sức khỏe của bạn. Nếu bạn là người có chức năng tim và phổi bình thường, bạn có thể đặt nó dựa trên giới hạn nhịp tim tối đa sau khi tập luyện. Cách tính cụ thể là lấy 220 trừ số tuổi rồi nhân với 0,75. Ví dụ, năm nay bạn 60 tuổi thì (220-60)×0,75=120 lần, nếu vượt quá 120 lần sẽ gây ảnh hưởng xấu đến cơ thể.
(3) Không tắm khi no hoặc đói. Nhiệt độ nước phải bằng nhiệt độ cơ thể, nếu nhiệt độ nước quá cao, các mạch máu trên da sẽ giãn nở đáng kể, một lượng lớn máu sẽ chảy ra bề mặt cơ thể, có thể gây thiếu máu cục bộ ở tim và não.Thời gian tắm không nên quá dài. Phòng tắm thường ngột ngạt và không được thông gió. Trong môi trường như vậy, con người có mức độ trao đổi chất cao, dễ bị thiếu oxy và mệt mỏi, đặc biệt đối với những bệnh nhân lớn tuổi mắc bệnh mạch vành. Bệnh nhân mắc bệnh mạch vành nặng nên tắm với sự giúp đỡ của người khác.
(4) Chú ý đến biến đổi khí hậu. Dưới ảnh hưởng của không khí lạnh hoặc quá lạnh, co thắt động mạch vành có thể xảy ra và huyết khối thứ phát có thể gây nhồi máu cơ tim cấp tính. Khi khí hậu thay đổi mạnh và áp suất không khí thấp, bệnh nhân mắc bệnh mạch vành sẽ cảm thấy khó chịu rõ rệt. Dữ liệu trong nước cho thấy nhiệt độ thấp, gió mạnh, mưa là một trong những nguyên nhân gây ra chứng nhồi máu cơ tim cấp tính. Vì vậy, mỗi khi thời tiết xấu, người bệnh mạch vành nên giữ ấm hoặc dùng thuốc giãn mạch vành thích hợp để bảo vệ.
(5) Điều rất quan trọng là phải thực hiện nhiều biện pháp bảo vệ khác nhau trong cuộc sống hàng ngày của bệnh nhân mạch vành, đồng thời cũng cần hiểu và nhận biết các triệu chứng báo trước của nhồi máu cơ tim và đưa ra phương pháp điều trị kịp thời.
Khoảng 70% bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp tính có triệu chứng tiền triệu. Các triệu chứng chính là: ① Cơn đau thắt ngực trầm trọng hơn và đột ngột. ② Những người bị đau thắt ngực nặng hơn trước và không thể dễ dàng thuyên giảm bằng Tiêu toan cam du (nitroglycerin). ③ Đau kèm theo buồn nôn, nôn mửa, đổ mồ hôi nhiều hoặc nhịp tim chậm rõ rệt. ④ Những người bị suy tim trong cơn đau thắt ngực hoặc tình trạng suy tim ban đầu trở nên trầm trọng hơn. ⑤ Điện tâm đồ cho thấy đoạn ST tăng tạm thời hoặc giảm đáng kể, sóng T đảo ngược hoặc đỉnh cao hoặc kèm theo rối loạn nhịp tim. ⑥ Bệnh nhân cao tuổi mắc bệnh mạch vành đột nhiên bị rối loạn nhịp tim không rõ nguyên nhân, suy tim, sốc, khó thở hoặc ngất, v.v. Các triệu chứng của nhồi máu cơ tim thường xuất hiện một tuần trước khi khởi phát, thậm chí ở một số bệnh nhân xuất hiện trước vài tuần. Ở khoảng 40% bệnh nhân, các triệu chứng xuất hiện từ 1 đến 2 ngày trước khi bị nhồi máu. Một số bệnh nhân có thể được điều trị nhiều lần.
Khi xuất hiện các triệu chứng trên. Nó phải được đánh giá cao và xử trí nghiêm túc. Trước hết, người bệnh phải nghiêm ngặt nằm trên giường, giữ im lặng, tránh căng thẳng tinh thần quá mức, ngậm nitroglycerin dưới lưỡi, nếu điều kiện cho phép có thể mời bác sĩ đến tận nhà ngay để chẩn đoán và điều trị tại chỗ. Đồng thời, hãy chuẩn bị để được đưa đến bệnh viện. Giao thông vận tải phải suôn sẻ và thoải mái. Bệnh nhân nên tránh di chuyển và được vận chuyển trên cáng khi tình trạng tương đối ổn định. Thuốc giãn mạch vành như nitroglycerin có thể được sử dụng liên tục hoặc ngắt quãng trong quá trình vận chuyển. Các triệu chứng nghiêm trọng và thay đổi điện tâm đồ được coi là nhồi máu cơ tim. Một số bệnh nhân có dấu hiệu nhồi máu được điều trị kịp thời có thể tránh được nhồi máu cơ tim cấp tính, thậm chí nếu xảy ra một số cơn nhồi máu cơ tim thì phạm vi nhồi máu sẽ nhỏ hơn, các triệu chứng sẽ nhẹ hơn, ít biến chứng hơn và sẽ dễ dàng hồi phục. Tỷ lệ sống sót sẽ được cải thiện đáng kể.
Làm thế nào để ngăn ngừa tái phát nhồi máu cơ tim sau khi hồi phục?
Trong 20 năm qua, nhờ tăng cường theo dõi và cải thiện mức độ điều trị, tỷ lệ tử vong tại bệnh viện do nhồi máu cơ tim cấp tính đã giảm đáng kể, từ khoảng 30% xuống dưới 10%. Tuy nhiên, số lượng bệnh nhân tái nhồi máu hoặc nhồi máu nhiều lần ngày càng gia tăng và trở thành một trong những nguyên nhân chính gây tử vong sau nhồi máu cơ tim. Vì vậy, ngoài việc điều trị tích cực trong giai đoạn cấp tính, việc phục hồi chức năng và phòng ngừa cấp hai sau nhồi máu cơ tim cũng cần được tăng cường để kéo dài tuổi thọ, cải thiện chất lượng cuộc sống và phục hồi khả năng lao động cho bệnh nhân. Phòng ngừa cấp hai sau nhồi máu cơ tim bao gồm:
(1) Thực hiện tuyên truyền, giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân và gia đình họ, để bệnh nhân và gia đình họ hiểu về căn bệnh này cũng như tầm quan trọng của các biện pháp phòng ngừa và điều trị khác nhau, để họ giảm bớt lo ngại về căn bệnh này và tích cực hợp tác trong việc phòng ngừa và điều trị.
(2) Sắp xếp chế độ ăn uống hợp lý để giảm tổng lượng chất béo, axit béo bão hòa và cholesterol. Người thừa cân nên hạn chế tổng lượng calo. Nếu mức lipid trong máu vẫn bất thường rõ ràng sau 3 tháng điều chỉnh chế độ ăn uống, có thể lựa chọn chất điều chỉnh lipid máu dựa trên đặc điểm của rối loạn lipid máu.
(3) Những người hút thuốc nên được khuyên bỏ thuốc. Hút thuốc không chỉ là yếu tố nguy cơ gây xơ cứng động mạch mà còn là yếu tố nguy cơ gây đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim và tái nhồi máu. Ở những bệnh nhân hồi phục sau nhồi máu cơ tim, tỷ lệ tái nhồi máu ở những người tiếp tục hút thuốc gần gấp đôi so với những người không hút thuốc hoặc đã bỏ hút thuốc. Một nghiên cứu đa trung tâm của Na Uy cho thấy 17 tháng sau khi bị nhồi máu cơ tim, tỷ lệ tái nhồi máu ở những người bỏ thuốc giảm 45% so với những người tiếp tục hút thuốc. Sau 3 năm, những người bỏ thuốc có tỷ lệ tử vong do tim và tái nhồi máu thấp hơn đáng kể so với những người hút thuốc. Hút thuốc thụ động có những nguy hiểm tương tự như người hút thuốc, vì vậy người thân của bệnh nhân nên được khuyên nên bỏ thuốc lá, tốt nhất là bệnh nhân nên làm việc trong môi trường không khói thuốc sau khi trở lại làm việc. Hút thuốc có thể gây co thắt động mạch vành, kết tập tiểu cầu và làm giảm khả năng dự trữ của động mạch vành và tuần hoàn bàng hệ. Ở những bệnh nhân tăng cholesterol máu, mức độ hút thuốc có mối tương quan chặt chẽ với tổn thương xơ vữa động mạch vành. Hút thuốc có thể làm nặng thêm các tổn thương động mạch vành, đây có thể là nguyên nhân dễ gây tái nhồi máu.
(4) Hoạt động thể chất và tập luyện phù hợp. Các phương pháp tập thể dục như đi bộ, thể dục dụng cụ, Thái Cực Quyền và Khí công có thể được sử dụng để nâng cao thể lực.
(5) Những người mắc bệnh cao huyết áp hoặc tiểu đường cần được kiểm soát thích hợp.
(6) Liệu pháp kháng tiểu cầu. Tiểu cầu không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành xơ vữa động mạch mà còn trong thiếu máu cơ tim, nhồi máu cơ tim hoặc đột tử do co thắt động mạch vành, huyết khối hoặc kết tụ trong vi tuần hoàn cơ tim. Aspirin là một chế phẩm kháng tiểu cầu rẻ tiền và dễ dàng có sẵn với tác dụng phụ thấp và dễ sử dụng lâu dài.
(7) Sử dụng thuốc chẹn β. Một số lượng lớn các kết quả thử nghiệm lâm sàng đã chứng minh rằng thuốc chẹn beta có thể làm giảm tỷ lệ tái nhồi máu, đột tử, tử vong do tim và tử vong toàn bộ sau nhồi máu cơ tim. Thuốc chẹn beta thường được sử dụng bao gồm Tâm đắc an心得安 (propranolol), An ..tâm an氨酰心安(Aminoprolinol), Mỹ đa tâm an美多心安 (metoprolol)
(8) Sau khi khỏi bệnh nhồi máu cơ tim cấp tính, bạn nên kiên trì dùng thuốc theo hướng dẫn của bác sĩ, theo dõi tại phòng khám ngoại trú, quan sát tình trạng và điều chỉnh thuốc. Nếu cơn đau thắt ngực tái phát, bạn nên đến bệnh viện để chẩn đoán và điều trị kịp thời để ngăn ngừa tái nhồi máu.
Tại sao nguy cơ nhồi máu cơ tim tái phát lại cao hơn?
Nhồi máu cơ tim cấp tính là bệnh lý tim mạch nguy hiểm. Tỷ lệ tử vong trong giai đoạn cấp tính của lần nhồi máu cơ tim đầu tiên là khoảng 15%, và trong trường hợp bị nhồi máu cơ tim lần khác, tỷ lệ này cao tới hơn 35%.
Nhồi máu cơ tim lần hai có thể xảy ra lần nữa tại vị trí nhồi máu ban đầu, làm mở rộng thêm vùng nhồi máu hiện tại. Tuy nhiên, phần lớn là do tắc nghẽn các nhánh mạch máu khác, dẫn đến các ổ nhồi máu mới tăng kích thước và tăng nguy cơ biến chứng nghiêm trọng. Tùy thuộc vào quy mô của vùng nhồi máu, nó có thể làm giảm cung lượng tim ở các mức độ khác nhau, thậm chí gây suy tim và sốc tim, nếu ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thống dẫn truyền có thể khiến nhịp tim cực kỳ chậm và có thể gây ra hội chứng A tư tống (Alzheimer). Khi kích thước của nhồi máu cơ tim lớn, có thể xảy ra tình trạng mất ổn định điện cơ tim, ngưỡng rung tâm thất trở nên thấp và dễ xảy ra rối loạn nhịp gây tử vong như rung tâm thất. Nhồi máu cơ tim tái phát cũng có thể dễ dàng gây ra chứng phình động mạch thất hoặc thậm chí là vỡ tim.
Nhồi máu cơ tim tái phát còn gây áp lực tâm lý như căng thẳng quá mức, hoảng sợ, lo lắng áp lực cho người bệnh, khiến người bệnh khó hồi phục hoặc chuyển biến nặng đột ngột.
Vì sao bệnh nhân nhồi máu cơ tim không nên ăn no hoặc tắm sau khi ăn no?
Chúng ta đã nhiều lần nghe và thấy rằng một số bệnh nhân nhồi máu cơ tim, không chịu được sự thuyết phục “có thiện chí” của người nhà, họ hàng và sự cám dỗ của đồ ăn ngon, đã ăn thêm vài miếng nữa và bị nhồi máu cơ tim lần nữa hoặc thậm chí tử vong. . Một số bệnh nhân ăn no xong mới đi tắm, sau khi tắm xong lại gục xuống chậu ngay, dù đã nỗ lực cứu chữa nhưng vẫn vô ích. Bởi vì trong hoàn cảnh bình thường, đường tiêu hóa cực kỳ giàu mạch máu, sau khi ăn, do nhu cầu tiêu hóa và hấp thu, cung lượng tim tăng lên, các cơ quan trong bụng luôn trong tình trạng tắc nghẽn. Trong nhồi máu cơ tim cấp tính, chức năng tim rất kém do cơ tim bị hoại tử không có khả năng co bóp. Trên cơ sở đó, nếu bạn ăn no, một mặt cung lượng tim tăng sẽ làm tăng gánh nặng cho tim, đồng thời cũng có thể gây ra phản xạ động mạch vành dạ dày, khiến động mạch vành co lại, giảm lượng máu cung cấp, gây thiếu máu cơ tim và thiếu oxy trầm trọng hơn, làm nặng thêm tình trạng suy tim. Hơn nữa, sự hưng phấn của dây thần kinh phế vị sau bữa ăn khiến nhịp xoang giảm, gây ngừng tim, vì những lý do trên, việc tắm sau bữa ăn càng nguy hiểm hơn, vì sau khi tắm, các mạch máu nhỏ khắp cơ thể giãn ra, còn tim và não. Cơ thể thiếu máu cục bộ và thiếu oxy nhiều hơn nên dễ gây tử vong đột ngột.
Trường Xuân dịch