Chương VII: Bệnh chứng Nội khoa và Nhi khoa
Phần 1. Thời bệnh
Thời bệnh (时病) Còn gọi là “thời lệnh bệnh” (时令病), chỉ các loại bệnh phát sinh có tính chất thời vụ, chẳng hạn như: Chứng Xuân ôn (春温) vào mùa xuân, bệnh tiêu chảy vào mùa hạ, bệnh ngược (sốt rét) vào mùa thu, thương hàn mùa đông v.v.
Thời hành (时行) Trong số các thời bệnh, có không ít bệnh vừa có tính lây nhiễm vừa có tính lưu hành, thời xưa gọi chung là “thời hành”. Nếu bùng phát thành đại dịch, gọi là “thiên hành” hoặc “thiên hành thời dịch”.
Chứng hậu (证候) Do nhiều triệu chứng tổng hợp mà thành, có thể nói chứng hậu là tổ hợp của các triệu chứng (症状) lại với nhau.
Chứng (证)Trong quá trình phát sinh và diễn biến của bệnh tật, ở một giai đoạn nào đó, bản chất bệnh lý được phản ánh ra bên ngoài, gọi là “chứng” (证). Một chứng có thể bao hàm nhiều chứng hậu (证候).
Bệnh hậu (病候) Là gọi chung các biểu hiện bên ngoài của bệnh, bao gồm cả triệu chứng (cảm giác chủ quan theo lời kể của bệnh nhân) và thể trưng (体征) là dấu hiệu khách quan (biểu hiện khách quan) như thân nhiệt, hơi thở, mạch, huyết áp, chất lưỡi, rêu lưỡi (là những phát hiện của thày thuốc khi kiểm tra)…
Âm bệnh (阴病) Chỉ về bệnh ở ba kinh âm (tam âm kinh) hoặc nói chung là bệnh hư chứng, hàn chứng.
Dương bệnh (阳病)Chỉ về bệnh ở ba kinh dương (tam dương kinh) hoặc nói chung là bệnh thực chứng, nhiệt chứng.
Thốt bệnh (卒病)Chỉ về bệnh phát đột ngột, hoặc bệnh mới mắc.
Thương hàn (伤寒) 1/Gọi chung các bệnh ngoại cảm do hàn tà xâm phạm gây nên sốt; 2/ Hoặc nói rộng ra chỉ mọi loại ngoại cảm nhiệt bệnh.
Thái dương trúng phong (太阳中风) Chỉ kinh Thái dương cảm thụ phong tà, là một dạng của Thái dương biểu chứng. Chủ yếu biểu hiện: Đầu gáy cứng đau, sợ gió, phát sốt, có mồ hôi, mạch phù hoãn… Thuộc chứng biểu hư.
Bệnh ôn (病温) Chỉ bệnh chứng thuộc về nhiệt ôn, thuộc tính chất ôn tà.
Ôn bệnh (温病) Gọi chung những bệnh nóng cấp tính do ôn tà gây ra.
Nhiệt bệnh (热病) Chỉ tất cả các bệnh ngoại cảm phát sốt và các bệnh nhiệt do nội thương phát nhiệt.
Phong ôn (风温) Một loại bệnh nhiệt cấp tính do bệnh tà phong ôn xâm phạm, thường gặp vào mùa xuân.
Xuân ôn (春温) Một dạng ôn bệnh do tà khí ẩn phục (伏气) gây nên. Mùa đông bị hàn tà ẩn phục, đến xuân phát thành bệnh ôn nhiệt.
Thử bệnh (暑病) Thử (nắng) là một trong lục dâm, là khí chủ yếu mùa hạ. Các bệnh sốt nóng cấp tính mắc vào mùa hè do cảm phải thử tà, gọi chung là “thử bệnh”.
Dương thử (阳暑) Chỉ chứng thương thử vào mùa hè, do lao động hoặc đi đường xa dưới nắng gắt, phơi mình trong nóng bức mà phát bệnh.
Âm thử (阴暑) Chỉ mùa hè trời nóng, nhưng vì ngồi quạt gió, tắm lạnh nhiều, uống nước lạnh vô độ, lại vốn tỳ vị hư, do đó mà thử nhiệt cùng phong hàn thừa cơ xâm nhập, gây bệnh.
Thương thử (伤暑) Còn gọi là “cảm thử”, chỉ mùa hè vì trúng thử tà mà phát ra các triệu chứng: mồ hôi nhiều, người nóng, tâm phiền miệng khát, thở gấp, tứ chi mệt mỏi, tiểu đỏ sẫm v.v.
Mạo thử (冒暑)
Chỉ dạng thương thử thông thường. Sau khi bị thử tà, nghẽn tắc ở tràng vị mà phát bệnh.
Hát (暍)Tức “trúng thử” (中暑), là tên gọi khác của chứng này.
Hát hát (喝喝) Hình dung nhiệt khí cực thịnh trong bệnh nhiệt.
Trúng thử (中暑) (Trúng nắng)Chỉ bệnh chứng xảy ra vào mùa hè nóng bức, do trúng phải thử tà mà sinh bệnh.
Thử ôn (暑温)
Chỉ bệnh nhiệt vào mùa hè do cảm phải thử tà (cảm nắng) gây nên.
Thử phong (暑风)Trong bệnh thử ôn, vì nhiệt quá thịnh mà xuất hiện hôn mê, co giật, gọi là “thử phong” hoặc “thử kinh”.
Thử quyết (暑厥)Chỉ người mắc chứng trúng thử, xuất hiện hôn mê và tứ chi lạnh ngược lên đến cùi chỏ, đầu gối.
Thử nhiệt chứng (暑热证) Cảm thử nhiệt tà, với những biểu hiện thường gặp: Sốt cao, mồ hôi nhiều, khát nước, uống nhiều, phiền táo, hoa mắt, tiểu ít màu đỏ vàng, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng khô, mạch hồng đại…
Thử uế (暑秽) Bệnh do cảm phải thử thấp khí hôi trọc (uế trọc) mà phát sinh.
Thử sái (暑察) Chỉ chứng mắc thử nhiệt mà đột nhiên ho khạc ra máu, có cảm giác tương tự “lao sái”.
Chú hạ (疰夏 / 注夏) Bệnh do có tính rõ rệt về mùa, cứ đến mùa hạ là phát, nên gọi “chú hạ”. Thường gặp ở trẻ nhỏ, do thể chất yếu, tỳ vị hư hoặc âm khí bất túc mà sinh bệnh.
Thấp ôn (湿温) Bệnh nhiệt thường thấy vào trưởng hạ (tháng 6 âm lịch). Do cảm phải thấp nhiệt thời khí, kết hợp với thấp nội tại ở tràng vị, ủ bệnh rồi phát.
Thấp bệnh (湿病) Gọi chung các bệnh gây ra do tà khí “thấp”.
Thu táo (秋燥) Chỉ chứng bệnh mắc phải vào mùa thu, do cảm phải tà khí táo (khô).
Lương táo (凉燥) Chỉ cảm thụ khí táo lạnh khi sang thu, tức thu táo thiên về hàn.
Ôn táo (温燥) Chỉ cảm khí táo nóng khi mùa thu hanh khô, tức thu táo thiên về nhiệt.
Đông ôn (冬温)Mùa đông lẽ ra nên hàn, nhưng thời khí trái thường (đông lại ấm nóng), khiến phát bệnh nhiệt, gọi “đông ôn”.
Ôn độc (温毒)Chỉ cảm phải ôn nhiệt thời độc, sinh ra bệnh nhiễm trùng cấp tính, tức “chư ôn giáp độc”.
Ôn độc phát ban (温毒发斑) Một triệu chứng trong ôn độc. Khi ôn độc ẩn vào phế vị, tràn ngập tam tiêu, lan đến doanh huyết, nổi ban trên da.
Ôn dịch (温疫) Còn gọi “ôn dịch” (温疫)hay “ôn dịch (瘟疫)”. Chỉ nhiều loại bệnh lây nhiễm cấp tính do dịch lệ (dịch tà) gây nên, với đặc điểm phát đột ngột, nguy hiểm, tính truyền nhiễm mạnh, dễ lan rộng.
Phong hàn cảm mạo (风寒感冒)Bệnh do cảm thụ phải tà phong hàn.
Phong nhiệt cảm mạo (风热感冒) Bệnh do cảm thụ phải tà phong nhiệt.
Tân cảm ôn bệnh (新感温病) Bệnh ôn mắc vào bốn mùa, hễ cảm phải là phát ngay.
Phục khí ôn bệnh (伏气温病) Chỉ dạng ôn bệnh khi cảm phải tà khí nhưng ban đầu chưa phát tác (tà còn nhẹ, không bộc lộ ra), ẩn phục bên trong; hoặc do trong cơ thể có tích nhiệt sẵn, gặp lúc thời khí ôn tà thì nội nhiệt bùng ra. Tất cả gọi chung “phục khí ôn bệnh”.
Lưỡng cảm (两感) Chỉ bệnh thương hàn ở hai kinh âm dương cùng lúc, còn gọi “thương hàn lưỡng cảm”.
Vãn phát (晚发)Chỉ một tên khác của “phục khí ôn bệnh”. Ý nói đến cuối mùa xuân hoặc mùa thu mới phát, thiên về chứng lý nhiệt khá nặng.
Âm dương giao hệ (阴阳交系) Dương tà (nhiệt) xâm nhập âm phần, làm tổn hao âm khí, thuộc chứng nguy kịch.
Ố hàn (恶寒) Cảm giác sợ lạnh, ghét lạnh.
Tăng hàn (憎寒) Vì nhiệt tà ẩn bên trong, dương khí không thoát ra được, người bệnh thấy ngoài có cảm giác rùng mình run rẩy, trong phiền nóng.
Hàn nhiệt vãng lai (寒热往来) Khi lạnh thì không sốt, khi sốt thì không lạnh, chúng thay phiên nhau, có lúc phát định kỳ hoặc không định kỳ.
Hàn lật cổ hàm (寒栗鼓颔) Do rét run mà toàn thân phát run, hai hàm răng đánh lập cập.
Tích tích ố hàn (淅淅恶寒) Hình dung người bệnh cảm như bị nước lạnh hay mưa dội làm ớn lạnh khắp người.
Chấn hàn (振寒) Khi phát lạnh, toàn thân rung động, tức là lạnh đến phát run.
Phát nhiệt (发热) Chỉ nhiệt độ cơ thể tăng cao hơn mức bình thường, hoặc nhiệt độ chưa tăng nhưng chủ quan người bệnh cảm thấy nóng bức.
Ngoại cảm phát nhiệt (外感发热) Do lục dâm hoặc ôn nhiệt độc xâm phạm, khiến doanh vệ rối loạn, âm dương trong tạng phủ mất điều hòa, trên lâm sàng biểu hiện một loại bệnh chứng ngoại cảm như sốt kèm ố hàn, mặt đỏ, vật vã, mạch sác…
Nội thương phát nhiệt (内伤发热) Do lao thương mà thành, gồm các biểu hiện như sốt nhẹ có tính gián đoạn, khởi bệnh chậm, bệnh trình khá dài.
Ố nhiệt (恶热) Người bệnh phát sốt, ghét nóng.
Triều nhiệt (潮热) Sốt lên như thủy triều đến đúng giờ (có giờ nhất định trong ngày).
Âm hư triều nhiệt (阴虚潮热) Do âm dịch trong cơ thể không đầy đủ , thường phát sốt về đêm kèm đạo hãn (mồ hôi trộm).
Thấp ôn triều nhiệt (湿温潮热) Do dương khí bị thấp tà cản lại, thường phát sốt vào sau buổi trưa.
Nhật bô triều nhiệt (日晡潮热) Chỉ về buổi chiều (khoảng 3-5 giờ chiều) nhiệt độ tăng hoặc nóng nặng hơn, do nhiệt tà kết ở tràng (ruột).
Lao nhiệt (劳热) Chỉ các chứng nhiệt do bệnh mạn tính hao tổn, “ngũ lao thất thương” gây nên.
Chước nhiệt (灼热) Nóng bức đến mức sờ tay thấy nóng rát.
Phiền nhiệt (烦热) Do lý nhiệt quá thịnh, tổn thương khí âm, sinh tâm phiền kèm cảm giác nóng hâm hấp.
Tráng nhiệt (壮热) Chỉ loại sốt cao thuộc thực chứng, thường gặp trong ôn bệnh ở khí phận.
Bạo nhiệt (暴热)Sốt cao xuất hiện đột ngột, thuộc chứng thực nhiệt, thường thấy ở các bệnh truyền nhiễm cấp tính.
Thân nhiệt bất dương (身热不扬)Nhiệt do thấp tà cản trở, lúc đầu sờ da không quá nóng, nhưng sờ lâu lại cảm thấy nóng rát.
Âm nhiệt (阴热)Chỉ sốt nhẹ thuộc bệnh mạn, chứng này là bệnh có tính tiêu háo, tức “nội thương âm hư phát nhiệt”.
Ngược tật (疟疾) Thời xưa gọi là “ngược”. Đặc trưng: rét run, sốt cao, ra mồ hôi, phát theo chu kỳ.
Phong ngược (风疟) Do tà thử mùa hè nội phục, nay kèm phong tà phát ra, một dạng ngược tật (sốt rét).
Ôn ngược (温疟) Vốn có tà khí ẩn phục, đến mùa hè gặp thử nhiệt phát bệnh ngược.
Hàn ngược (寒疟) Là một loại sốt rét do khí lạnh ẩn phục bên trong lại cảm thụ phong tà mà phát tác. Biểu hiện lâm sàng là lạnh nhiều nóng ít, ngay phát 1 lần hoặc phát cách ngày, khi phát thì đau đầu, không có mồ hôi hoặc có ít mồ hôi, mạch huyền khẩn có lực.
Mẫu ngược (牡疟) Loại sốt rét này chủ yếu là do Nguyên Dương suy yếu và tà khí ẩn trong kinh Thiếu Âm. Biểu hiện lâm sàng bao gồm ớn lạnh nhiều, không sốt hoặc sốt nhẹ, da xanh xao, các triệu chứng khởi phát đều đặn hàng ngày, mạch trầm trì.
Đàm ngược (痰疟)Một dạng sốt rét khá nghiêm trọng. Triệu chứng: lúc phát bệnh lạnh nóng xen kẽ, nóng nhiều lạnh ít, đau đầu chóng mặt, nhiều đàm nôn ọe, mạch huyền hoạt. Nghiêm trọng có thể xuất hiện hôn mê co giật, giống ngược não (sốt rét ác tính thể não).
Thực ngược (食疟)Sốt rét (Ngược tật) do tích trệ ăn uống, gặp tà khí phát thành ngược.
Hư ngược (虚疟)Người vốn nguyên khí hư, cảm thêm tà ngược mà thành bệnh sốt rét.
Lao ngược (劳疟)Ngược tật lâu ngày khiến cơ thể hư nhược, sắp thành hư lao, nên gọi “lao ngược”.
Tam âm ngược (三阴疟)Tức ba ngày phát một lần. Vì nguyên khí hư, vệ khí không vững, tà xâm đến tam âm, nên cách ba ngày phát một cơn.
Ngược mẫu (疟母)Sốt rét (Ngược) lâu không khỏi, khí huyết hao tổn, ứ huyết kết ở hạ sườn thành khối (phì đại lách) gọi “ngược mẫu”.
Lỵ tật (痢疾) Bệnh đặc trưng là đau bụng, mót rặn, hậu trọng (nặng đì hậu môn), đi cầu ra mủ máu.
Trệ hạ (滞下) Hình dung trạng thái đại tiện tăng số lần, muốn đi gấp nhưng không thông, hậu môn nặng như bị chặn.
Tràng tịch (肠澼)Hình dung trong ruột có tích trệ, khi đại tiện phát ra tiếng “phỉ phỉ”. Bệnh thường thấy vào mùa hè thu, thuộc bệnh truyền nhiễm cấp tính đường ruột.
Bạch lỵ (白痢)Do thấp nhiệt độc ứ ở khí phận, đi lỵ ra dịch trắng như mũi dãi, hoặc như não cá, nên gọi “bạch lỵ”.
Thấp nhiệt lỵ (湿热痢)Một thể lỵ do thấp nhiệt ở tỳ vị, thức ăn không tiêu, tỳ mất kiện vận, thấp nhiệt kèm trệ.
Xích lỵ (赤痢)Nếu thấp nhiệt độc mạnh ở huyết phận, tổn thương mạch ruột, đi cầu toàn máu tươi, còn gọi “huyết lỵ”.
Xích bạch lỵ (赤白痢)Tà khí tổn thương cả khí lẫn huyết, ruột khí trệ, mạch ruột tổn thương, đi cầu vừa ra máu vừa ra mủ trắng, bụng quặn đau, đi nhiều lần.
Dịch độc lỵ (疫毒痢)Một thể lỵ do độc tà quá mạnh, dễ lây, dễ vào doanh huyết, giống lỵ trực trùng thể trúng độc.
Hàn lỵ (寒痢)Do ăn lạnh nhiều (thực phẩm sống lạnh mất vệ sinh) làm hàn khí ngưng trệ, tổn thương tỳ dương.
Hàn thấp lỵ (寒湿痢)Thể lỵ do tỳ vị dương hư, bên trong ứ đọng thấp trọc.
Thử lỵ (暑痢)Do cảm phải thử nhiệt (nắng nóng), kèm tích trệ trong ruột, tổn thương tràng vị.
Khí lỵ (气痢)Có thực chứng và hư chứng.
Hưu tức lỵ (休息痢)Chứng lỵ phát đi phát lại, lâu không khỏi, nên gọi “hưu tức lỵ” (lỵ nghỉ rồi lại phát).
Cửu lỵ (久痢) Bệnh lỵ lâu khỏi, còn gọi “thiên diên” (迁延). Thường do tỳ thận hư, trung khí bất túc.
Thuỷ cốc lỵ (水谷痢) Do tỳ vị hư, không tiêu hóa được thủy cốc, dẫn đến phân có lẫn thức ăn chưa tiêu cùng máu mủ.
Ngũ sắc lỵ (五色痢)Chỉ phân lỵ có nhiều màu sắc trộn lẫn.
Phong lỵ (风痢)Do phong tà ẩn trong tỳ vị gây nên.
Cấm khẩu lỵ (噤口痢) Bệnh lỵ nặng, không ăn uống được hoặc nôn không thể ăn.
Lý cấp hậu trọng (里急后重)Triệu chứng chính của lỵ: Trước khi đi cầu thì đau bụng quặn (lý cấp), nhưng khi đi cầu lại không thông, như có vật đè nặng (hậu trọng).
Hư tọa nỗ trách (虚坐努责)Hình dung bệnh ở ruột già hoặc hậu môn, mót rặn liên tục nhưng không đi được, do tà ứ, khí hư.
Tiết tả (泄泻)Đại tiện loãng nhiều lần, gọi “tả” (tiêu chảy). Nếu phân như nước đổ, gọi “lỵ” hay “thổ tả” (dân gian dùng lẫn). Ở y học cổ, “泄” là tiêu phân lỏng, “泻” là tuôn như nước dội; hay cũng dùng chung thành “tiết tả”.
Thấp tả (湿泻)Do thủy thấp trở ngại ở vị tràng, tỳ hư không chế thủy, còn gọi “động tả” hoặc “nhu tả”.
Thử tả (暑泻) Một dạng nhiệt tả do cảm thử nhiệt tà gây tiêu chảy.
Nhiệt tả (热泻) Do nhiệt bức đại trường, còn gọi “hỏa tả”.
Hàn tả (寒泻) Do tạng phủ hư hàn gây tiêu chảy.
Thực tả (食泻) Do thương thực (ăn quá độ, thực tích) sinh tiêu chảy.
Hư tả (虚泻) Do tỳ thận dương hư, tả lâu ngày không dứt.
Áp đường (鸭溏)Cách gọi dân gian của “hàn tả”. Phân lỏng trộn nước, màu đen xanh như phân vịt, tiểu trong, mạch trầm trì. Thuộc chứng hàn thấp do tỳ khí hư, đại tràng hàn, còn gọi “mang thao” hoặc “vụ tiết”.
Sôn tả (飧泄) Do can uất tỳ hư, thanh khí không thăng, lâm sàng đại tiện lỏng nát có thức ăn chưa tiêu, bụng sôi đau, mạch huyền hoãn…
Ngũ canh tả (五更泄) Do thận dương hư, mệnh môn hỏa không đầy đủ, không ôn dưỡng được tỳ vị, nên cứ gần sáng (5 giờ) là đau bụng đi tả, gọi “thần tiết”, “thận tiết”. “晨泄”“肾泄”
Bạo chú (暴注)Chỉ cơn tiêu chảy cấp ồ ạt như nước, nên gọi “bạo chú” hay “bạo hạ”. Đi nhiều, dữ dội, thường do nhiệt bức đại tràng.
Chú hạ (注下)Hình dung phân lỏng như nước chảy xuống.
Hạ bách (下迫)Hình dung cảm giác vừa mót rặn dữ dội vừa khó đi, rất bứt rứt.
Hiếp nhiệt hạ lợi (胁热下利) Chỉ chứng trộn lẫn lý hàn với biểu nhiệt, gây tiêu chảy.
Hạ lợi thanh cốc (下利清谷) Đại tiện toàn nước trong, mang theo thức ăn chưa tiêu hóa, không có mùi thối, kèm theo sợ lạnh tay chân lạnh, tinh thần mỏi mệt, mạch vi… Biểu hiện tỳ thận dương hư.
Hoắc loạn (霍乱) Chỉ bệnh đường tiêu hóa cấp tính, cả nôn và tiêu chảy đồng thời, gọi “thượng thổ hạ tả”.
Hoắc loạn chuyển cân (霍乱转筋) Trong lúc nôn mửa tiêu chảy mất nước quá nhiều, hai cẳng chân bị chuột rút, co cứng, gọi “chuyển cân”.
Vị thực (胃实) Chứng trạng do nhiệt tích ở vị tràng, nhiệt thịnh tân dịch bị hao tổn, vị khí ngưng trệ.
Vị gia thực (胃家实) Chỉ dương minh tà nhiệt kết lại, hao tổn tân dịch, biểu hiện lâm sàng “nhiệt kết ở dương minh”.
Táo thỉ (燥矢) Phân khô cứng kết lại.
Vị trung táo thỉ (胃中燥矢) “Vị” ở đây chỉ ruột. Ruột bị nhiệt kết ở bên trong, đốt hết tân dịch, khiến phân khô cứng.
Nhiệt kết bàng lưu (热结旁流) Trong quá trình bệnh nhiệt, vài ngày không đi cầu, bụng chướng đau, nhưng thỉnh thoảng rỉ ra nước phân hôi, gọi “nhiệt kết bàng lưu”: khối phân khô cứng chặn, nước bẩn chảy tràn bên cạnh.
Hàn kết (寒结) Do hàn khí xâm nhập ruột làm phân bí kết.
Phong bí (风秘)Do phong tà (khô làm hao tân) gây táo bón.
Phát hoàng (发黄)Chỉ mọi dạng vàng da, vàng mắt do nhiều nguyên nhân.
Hoàng đản (黄疸)Do tỳ vị thấp tà trong, khí cơ rối loạn, dịch mật trào ra ngoài, gây vàng da, vàng mắt, tiểu vàng…
Ôn hoàng (瘟黄)Bệnh do cảm phải độc nóng (thấp nhiệt thời độc), phát hỏa mạnh, nhập营血. Tương đương viêm gan siêu vi cấp tính nặng.
Cấp hoàng (急黄)Bệnh do tỳ vị sẵn có tích nhiệt, độc thấp nhiệt bốc lên mạnh, đốt tân dịch, lấn vào营血, vào tâm bào (bệnh dương hoàng nặng).
Cốc đản (谷疸)Một thể hoàng đản, do ăn uống quá độ, chênh lệch bữa no bữa đói, thấp nhiệt và thực trệ bít nghẽn trung tiêu.
Tửu đản (酒疸)Một thể hoàng đản do ẩm tửu không điều độ, tỳ vị thương tổn, vận hóa thất thường, thấp trọc sinh nhiệt, thấp nhiệt hun đốt.
Nữ lao đản (女劳疸)Một thể hoàng đản, do phòng lao say rượu làm thương tổn khí huyết, trọc tà ứ trệ.
Hoàng hãn (黄汗)Mồ hôi ra nhuộm vàng áo như nước sắc hoàng bá.
Ma chẩn (麻疹) Dân gian gọi là “bệnh sởi (sa tử)”, là bệnh truyền nhiễm hay gặp ở trẻ do cảm thời tà dịch, virus xâm phạm phế vị.
Bạch hầu (白喉) Bệnh nhiễm trùng cấp ở trẻ, do dịch lệ xâm đường miệng mũi, phạm phế vị, tạo khô nóng thành viêm cổ họng.
Lạn hầu sa (烂喉痧) Bệnh truyền nhiễm cấp, hay gặp mùa đông xuân, triệu chứng chính: họng đau loét, da nổi ban đỏ (đan), nên còn gọi “lạn hầu đan bệnh”, tương đương bệnh “scarlet fever” (tinh hồng nhiệt).
Âm dương độc (阴阳毒) Chỉ bệnh dịch độc xâm phạm yết hầu, vào máu, có hai thể “âm độc” và “dương độc”, đều rất nguy hiểm.
Dương độc Nhiệt bốc nghẽn thượng bộ, mặt đỏ, nổi ban như gấm vóc, họng đau, ho ra mủ máu.
Âm độc Tà cản trở kinh mạch, mặt mắt xanh tím, thân đau như bị đánh, họng đau, bệnh nặng.
Đại đầu ôn (大头瘟) Một dạng ôn độc do phong ôn thời độc xâm phạm phế vị. Đặc trưng đầu mặt sưng đỏ, hoặc họng sưng đau.
Chá tai (痄腮)Phồng to hoặc lần lượt 2 bên tuyến mang tai, bờ không rõ, ấn thấy đàn hồi, đau – gọi là “tai quai bị” (viêm tuyến mang tai truyền nhiễm).
Phát di (发颐) Chỉ viêm mủ ở vùng má bên, tương tự trái tai nhưng thường thứ phát sau bệnh thương hàn, ôn bệnh, ma chẩn giai đoạn cuối.
Bách nhật khái (百日咳) Bệnh ho gà, đặc trưng cơn ho co thắt kịch phát, bệnh kéo dài, có tính lây lan ở trẻ, còn gọi “dịch khái”.
Bách xoang thấu (百腔嗽)Chỉ trẻ nhỏ dưới 100 ngày ho nhiều đờm, ngủ không yên, còn gọi “nhũ thấu” (trẻ sơ sinh ho).
Đậu cam (痘疳)Bệnh lấy tổn thương da mà đặt tên, xưa gọi “thiên hoa” (bệnh đậu mùa).
Sa khí (痧气)Vào mùa hè thu, do cảm phong hàn thử thấp, hoặc dịch lệ, uế trọc, che trệ bên trong, gây bụng đau, tắc nghẽn. Còn gọi “sa trướng”.
Phong sa (风疹)Là bệnh trẻ em thường gặp, do phong nhiệt thời tà, ứ ở phế vị, phát ra da, gọi “phong sa” hay “phong chẩn”.
Bạch chẩn (白疹)Trong quá trình thấp ôn, trên cổ, gáy, ngực, bụng nổi mụn nước nhỏ trắng, như tinh thể nước, vỡ ra dịch vàng nhạt, do màu trắng trong nên gọi “bạch tinh”.
Ban chẩn (斑疹)
Ẩn chẩn (瘾疹) Tức mề đay (urticaria), do dị ứng: da nổi mảng sưng, nhỏ như hạt đỗ, to như đồng xu.
Thần hôn (神昏) Chỉ tình trạng hôn mê bất tỉnh, do nhiệt tà xâm phạm tâm bào, hoặc thấp nhiệt, đờm trọc bít tắc thanh khiếu.
Mậu khiết (瞀瘛)
Muộn mậu (闷瞀) Mắt hoa, không rõ, kèm bứt rứt, phiền loạn. Thường do đàm nhiệt, thấp trọc gây nghẽn tắc bên trong, hoặc do nhiệt độc quá thịnh.
Chiêm vọng (谵妄) Do lý nhiệt quá thịnh (bên trong quá nóng) hoặc đàm hỏa quấy nhiễu, thần chí mơ màng, nói sảng, có ảo giác hoang tưởng, hưng phấn kích động…
Thần bất thủ xá (神不守舍) Các dạng thần chí bất thường do tà phạm tâm hoặc tinh thần kích động mạnh, tinh thần không ổn định, thần ly khai cơ thể thì gọi chung là “thần bất thủ xá”.
Như táng thần thủ (如丧神守) Hình dung thần trí bối rối, bất an, do nhiệt thịnh bên trong.
Táo cuồng (躁狂) Cuồng loạn bất an, tay chân bị kích động, là một loại rối loạn thần chí.
Phiền táo (烦躁) Phiền là ngực bứt rứt, táo là tay chân bồn chồn không yên.
Áo nồng (懊侬) Chỉ cảm giác bứt rứt nóng rát ở ngực thượng vị, còn gọi “tâm trung áo nồng”.
Tâm phiền (心烦) Ngực nóng buồn bực, thường do nội nhiệt.
Tâm phẫn phẫn (心愤愤) Hình dung tình trạng bực bội rối loạn, không tự chủ.
Nội phiền (内烦) Do thực nhiệt hoặc hư nhiệt bên trong gây bứt rứt ngực.
Âm táo (阴躁) Do âm hàn cực thịnh mà lại bồn chồn quấy rối, thần chí bất an, thuộc chứng nặng.
Tuần y mạc sàng (循衣摸床)cHình dung người bệnh hôn mê sảng, tay mân mê quần áo, giường chiếu, do nhiệt thịnh, chính hư, nguy kịch.
Toát không (撮空) Người bệnh ý thức không rõ, hai tay giơ lên không trung, như muốn chụp bắt gì đó.
Toát không lý tuyến (撮空理线) Cũng dạng hôn mê, hai tay giơ lên, ngón cái và trỏ vê vê như cầm sợi chỉ, biểu hiện chính khí sắp thoát.
Súc huyết chứng (蓄血证) Một chứng của thương hàn Thái dương phủ, biểu hiện chủ yếu: Sốt, thần chí như cuồng, bụng dưới đầy căng cứng, tiểu tiện thông (tự lợi).
Kinh bệnh (痉病)Bệnh nhiệt gây co cứng cơ bắp, lưng uốn cong, miệng cứng không mở được.
Hạng cường (项强) Cơ cổ gáy căng cứng, đau, khó xoay trở.
Hạng bối cường trực (项背强直)Cơ ở cổ gáy lưng gồng cứng, khó cử động cúi ngửa.
Giác cung phản trương (角弓反张) Bệnh nhân cổ gáy cứng, lưng cong quắp ra sau như cánh cung, gặp trong kinh phong, uốn ván, viêm não màng não.
Chuyển cân (转筋)Dân gian gọi “chuột rút”. Thường ám chỉ bắp chân co rút.
Câu cấp (拘急) Tứ chi co rút, khó co duỗi, phần nhiều do phong tà.
Thu dẫn (收引)Gân mạch co quắp, khớp co duỗi khó, thường do lạnh (hàn tà).
Nhuận (润, đọc rún) Mí mắt giật, hoặc cơ thịt rung động (các sách cũng ghi “nhục nhuận”).
Thân nhuận vận động (身润运动) Cơ bắp cơ thể rung động.
Cân thích nhục nhuận (筋惕肉润) Cơ bắp không tự chủ giật nhảy.
Đãn dục miên (但欲寐) Luôn lơ mơ, như ngủ mà chưa ngủ, thường gặp ở Thiếu âm bệnh khi tâm thận đều suy.
Mục trung bất liễu liễu (目中不了了) Mắt nhìn vật mờ không rõ, do dương minh phủ nhiệt quá thịnh, bốc hơi tân dịch.
Huyễn mục (眴目) Mắt đảo bất định, hoa lên, mờ tối.
Bất năng huyễn (不能眴) Con ngươi không chuyển động, nhìn chằm chằm, do bệnh nặng tổn thương thần kinh.
Mục minh (目瞑) Mắt nhắm nghiền không muốn mở.
Thị kỳ (视歧) Nhìn một vật hóa hai, do can thận âm hư.
Đái nhãn (戴眼) Mắt ngước lên trên, không di chuyển được, do kinh Thái dương suy, bệnh vào giai đoạn nặng ở não.
Đồng tử cao (瞳子高) Mắt ngước lên, cũng do Thái dương kinh khí bất túc, biểu hiện thần kinh não nặng.
Kết hung (结胸) Chỉ chứng kết tà ở hung cách (ngực), chia tiểu kết hung, đại kết hung, huyết kết hung…
Tiểu kết hung (小结胸) Do đàm nhiệt kết, gây đau, tức vùng thượng vị (tâm hạ).
Đại kết hung (大结胸) Chứng Thái dương biểu chưa giải mà dùng hạ pháp sai, tà ứ trệ ở ngực trở xuống dưới rốn, cứng đầy đau, không sờ chạm nổi.
Huyết kết hung (血结胸) Chứng kết hung do huyết và nhiệt tà kết ở ngực.
Hàn thực kết hung (寒实结胸) Thể kết hung do nước lạnh kết, ngực bụng chướng đầy đau cự án, sợ lạnh, mạch trầm khẩn.
Hung hạ kết ngạnh (胸下结硬) Vùng ngực trở xuống cứng chặt đau.
Hung hiếp khổ mãn (胸胁苦满) Ngực cạnh sườn đầy khó chịu, do khí ở Thiếu dương đọng lại.
Thiểu phúc ngạnh mãn (少腹硬满) Vùng bụng dưới rốn cứng đầy.
Hung muộn (胸闷) Thường gặp khi thấp nhiệt hoặc đàm trệ nghẽn tắc trung tiêu, gây bứt rứt vùng ngực.
Bĩ (痞)
Triệu chứng ngực bụng khí cơ bế tắc không thông. Chứng trạng chủ yếu là cảm thấy trướng đầy phiền muộn.
Tâm hạ mãn (心下满) Vùng thượng vị bĩ muộn trướng đầy.
Tâm hạ cấp (心下急) Thượng vị có cảm giác cấp bách, đau nhẹ, trướng đầy không thoải mái.
Chi cách (支膈) Cảm giác có khí tức bế ở dưới ngực.
Tâm hạ chi kết (心下支结) Ở thượng vị như có vật chẹn, bứt rứt khó chịu, không cứng, không trướng.
Tề hạ quý (脐下悸) Là vùng bụng dưới bác động bất an, thường do thủy ẩm lâu ngày, gặp sai lầm khi phát hãn, thận khí thụ thương, thủy khí xung nghịch mà xuất hiện chứng này.
Tạng kết (脏结)
Bệnh nhân ở hạ sườn đau có u cục, đau kéo sang cả hai bên rốn và lan xuống bụng dưới.
Phần 2. BỆNH CHỨNG NỘI KHOA
Tạp bệnh (杂病)Thường chỉ bệnh nội khoa (không kể ngoại cảm).
Túc bệnh (宿疾)Chỉ bệnh cũ (lâu ngày), đối lập với bệnh mới.
Cố tật (痼疾) Chỉ bệnh mạn tính khó chữa, lâu không khỏi.
Khái thấu (咳嗽) Theo cổ thư: Có tiếng ho mà không đờm gọi “khái”, ho do đờm là “thấu”. Thực tế thường gộp chung gọi “khái thấu”, tức ho có tiếng, có đờm.
Can khái (干咳) Ho khan không đờm.
Táo khái (燥咳) Ho do táo tà hao phế tân, biểu hiện ít đờm, đờm dính, có thể lẫn máu.
Đàm khái (痰咳) Ho đờm đặc, nặng tiếng, đờm nhiều dễ khạc, khạc xong thì đỡ ho.
Thử khái (暑咳) Ho do thử tà tổn thương phế.
Ngũ tạng lục phủ khái (五脏六腑咳) Ho gốc tại phế, nhưng khi bệnh ở các tạng phủ khác lây sang phế cũng gây ho. Ho kéo dài cũng ảnh hưởng chức năng tạng phủ khác.
Tâm khái (心咳) Ho kèm đau ngực vùng tim, cổ họng như bị chẹn, có khi họng sưng đau.
Can khái (肝咳)Ho do gan. Ho kéo đau hai sườn, đau tức, xoay trở người thì nặng thêm, đau sườn trướng đầy.
Tỳ khái (脾咳) Ho kèm đau hạ sườn phải, lan vai lưng, khó cử động, cử động thì ho nhiều hơn.
Thận khái (肾咳) Ho kèm đau lưng, thậm chí chảy dãi, có khi ho ra nước dãi.
Vị khái (胃咳) Ho kèm nôn, nặng thì nôn ra giun đũa.
Phế khái (肺咳) Ho thở gấp, có khi ra máu.
Đảm khái (胆咳) Ho kèm nôn ra dịch mật hoặc nước xanh đắng.
Tiểu trường khái (小肠咳) Ho kèm xì hơi (đánh rắm), ho và xì hơi đồng thời.
Đại trường khái (大肠咳) Ho kèm đại tiện không kiềm chế, són phân.
Bàng quang khái (膀胱咳) Ho kèm tiểu không tự chủ.
Tam tiêu khái (三焦咳) Ho kèm đầy bụng, không muốn ăn.
Hàn đàm (寒痰) Đờm loãng, trắng, trong.
Táo đàm (燥痰) Đờm đặc dính, ít, hoặc đờm lẫn máu.
Phục đàm (伏痰) Còn gọi “túc đàm” (宿痰), chỉ nước đọng do nhiệt đốt mà thành, tồn trữ lâu ngày trong cách mô.
Đàm hỏa (痰火) Chỉ đàm kết hợp với hỏa, nung đốt, lưu tích ở phế.
Đàm tích (痰积) Do đàm ứ khí trệ, thấp trọc đọng ở ngực, gây nặng tức, đờm dính khó khạc, nuốt nghẹn, chóng mặt, trong bụng có khối cứng…
Thủy ẩm (水饮) Chỉ dịch xuất trong quá trình bệnh lý tạng phủ. Nước loãng gọi “thủy”, sệt dính gọi “ẩm”.
Tứ ẩm (四饮) Bốn dạng bệnh do ẩm: Đàm ẩm, huyền ẩm, dật ẩm, chi ẩm.
Đàm ẩm (痰饮) Gọi chung nhiều chứng nước ứ trong cơ thể, do chuyển vận nước thất thường, ứ lại khoang cơ, tứ chi.
Huyền ẩm (悬饮) Nước đọng ở hông sườn, không ở ngực, không ở bụng, nên gọi “huyền”.
Dật ẩm (溢饮) Nước tràn ra da thịt, phù nề, tức bệnh “thủy thũng”.
Chi ẩm (支饮) Đàm ẩm hoặc thủy khí nằm ở ngực, hoành cách, vị quản.
Lưu ẩm (留饮) Chỉ ẩm ứ đọng lâu ngày không tan.
Phục ẩm (伏饮) Ẩm tà ẩn, hoặc ẩm còn sót lại chưa hết, lâu ngày sinh biến.
Háo suyễn (哮喘) “Háo” (哮) chỉ tiếng khò khè, “suyễn” (喘) chỉ thở gấp. Khi lên cơn, háo thường đi kèm suyễn, nhưng suyễn chưa chắc có háo.
Háo chứng (哮症)
Ho, thở kèm tiếng rít nặng ở cổ họng (tiếng “hà hà”).
Suyễn chứng (喘症)
Thở nhanh, vai nâng, mũi phập phồng, không thể nằm.
Suyễn cấp (喘急)
Hoặc “suyễn xúc” (喘促), chỉ thở dồn dập.
Suyễn minh (喘鸣)
Thở gấp kèm tiếng “khè khè” do đờm tắc cổ họng.
Phế bế suyễn khái (肺闭喘咳)
Thường gặp ở trẻ, do ngoại tà bít phế, phế khí bế tắc, gây sốt, ho, thở gấp, cánh mũi phập phồng, mặt trắng xanh môi tím tái, tựa như viêm phổi.
Thiểu khí (少气) Thở yếu, nói ít, mệt, thường do trung khí bất túc, phế thận đều hư.
Đoản khí (短气) Hơi thở ngắn, không nối tiếp liền.
Thượng khí (上气)Chỉ hít vào ít, thở ra gấp, phế kinh bế tắc.
Khái nghịch thượng khí (咳逆上气) Phế khí nghịch gây ho, suyễn.
Hạ khí (下气) Khí xì ra đường ruột, dân gian gọi “đánh rắm”.
Tức cao (息高) Thở ra nhiều, hít vào ít, suy kiệt, báo hiệu phế khí sắp tuyệt, dương thoát.
Kiên tức (肩息)
Thở khó, nhấc vai trợ thở. Gặp ở bệnh hen, thiếu oxy.
Tỵ hiên hung đĩnh (鼻掀胸挺)
Hình dung trẻ nhỏ suyễn, nhấc ngực, cánh mũi phập phồng.
Phế trướng (肺胀)
Chỉ trạng thái ho suyễn, ngực đầy, có thể do viêm phổi, viêm phế quản, hen phế quản, khí phế thũng kèm nhiễm trùng…
Phế nuy (肺痿) Bệnh phổi mạn tính, phế tổn hại, hư yếu.
Phế ung (肺痈) Mủ trong phổi, khạc ra mủ máu, tương đương áp-xe phổi, hoại thư phổi.
Hư lao (虚劳) Gọi chung nhiều bệnh hư tổn ngũ tạng, mạn tính.
Lao sái (痨瘵) Chỉ bệnh truyền nhiễm mạn tính, tiêu hao, hoặc “phế lao” (lao phổi).
Lao chú (痨疰) Tên khác của lao sái, hình dung bệnh kéo dài, lây lan.
Tâm lao (心劳) Một trong “ngũ lao”, do tổn hao tâm huyết. Biểu hiện chủ yếu: Tâm phiền mất ngủ, hay hồi hộp.
Can lao (肝劳) Một trong “ngũ lao”, do tinh thần căng thẳng, hại can khí. Biểu hiện: Nhìn mờ, hai sườn đau, gân nhão, cử động khó.
Tỳ lao (脾劳) Một trong “ngũ lao”. Biểu hiện: Cơ nhão gầy, chân tay mỏi, ăn ít, ăn xong trướng, đi phân lỏng…
Phế lao (肺劳) Một trong “ngũ lao”, do phế khí thương tổn. Biểu hiện: Ho, tức ngực, lưng đau, sợ lạnh, hình thể gầy guộc, da lông khô…
Thận lao (肾劳) Một trong “ngũ lao”, do phòng dục quá độ, thương tổn thận khí. Biểu hiện: Di tinh, đạo hãn, cốt chưng triều nhiệt, lưng đau, chân yếu.
Can huyết lao (干血劳)
Thường gặp nữ giới, do huyết hư, huyết nhiệt kéo dài, can thận hư, khó sinh ra huyết mới.
Cốt chưng (骨蒸)
Chứng hư lao, âm hư phát sốt âm ỉ, người cảm như nóng từ trong xương bốc ra, mệt mỏi.
Lãnh lao (冷劳)
Chứng hư lao phụ nữ thuộc âm hàn, do khí huyết hư, tạng phủ hư hàn.
Lục cực (六极)
Sáu dạng lao tổn: Huyết cực, gân cực, nhục cực, khí cực, xương cực, tinh cực.
Phong tiêu (风消)
Hình dung người do uất tình chí, thể gầy, một loại tiêu hao.
Tâm quý (心悸)
Tim đập hồi hộp, cảm thấy bất an. Do tâm huyết hư, tâm dương yếu, hoặc đàm hỏa, ứ huyết…
Sợ sệt (怵惕) truật dịch
Hoảng sợ hồi hộp sau kích thích.
Tâm động quý (心动悸)
Tim đập mạnh, tự cảm rõ, nặng có thể thấy đập qua lớp áo, gọi “kỳ động ứng y”.
Tâm trung đản đản đại động (心中憺憺大动)
Hình dung tim đập kịch liệt, có cảm giác trống vắng.
Chân tâm thống (真心痛)
Gần với cơn đau thắt ngực (tim). Triệu chứng: Đau thắt ngực, kèm ngực bức bối…
Tự hãn (自汗)
Mồ hôi tự ra ban ngày, không do lao động hay nóng. Thường do phế khí hư, vệ dương bất cố.
Đạo hãn (盗汗)
Mồ hôi ban đêm, khi ngủ ra mồ hôi, tỉnh giấc thì hết, thường do âm hư sinh nội nhiệt, bức bách mồ hôi tiết ra.
Cốt chưng đạo hãn (骨蒸盗汗)
Hư nhiệt âm hư, ban đêm đổ mồ hôi, nóng từ trong xương.
Đại hãn (大汗)
Hiện tượng mồ hôi ra quá nhiều.
Ngạch hãn (额汗)
Chứng trạng mồ hôi chỉ ra ở trán, vùng đầu, thân không có.
Lậu hãn (漏汗)
Do phát hãn quá mức, dương khí tổn, vệ khí bất cố, mồ hôi rỉ không dứt.
Hãn xuất miểu miểu nhiên (汗出渺渺然)
Mồ hôi ra liên tục rỉ rả, không dứt.
Chiến hãn (战汗)
Trước ra mồ hôi thì phát run rẩy, do chính tà giao tranh kịch liệt, là thời điểm chuyển biến của bệnh.
Thoát hãn (脱汗)
Còn gọi “tuyệt hãn”, thuộc bệnh nặng, dương khí sắp thoát, mồ hôi ra đầm đìa như dầu, thấy trong shock, suy tim…
Hãn xuất như du (汗出如油)
Chứng bệnh nguy kịch, mồ hôi ra không dứt, mồ hôi sền sệt như dầu. Gặp trong chứng vong dương (chẳng hạn trúng phong thoát chứng).
Nhiệt hãn (热汗)
Mồ hôi lúc sốt do phong tà hóa nhiệt hoặc nội nhiệt bức ra.
Lãnh hãn (冷汗)
Vừa sợ lạnh tay chân lạnh, vừa ra mồ hôi lạnh.
Tâm hãn (心汗)
Mồ hôi ở vùng trước tim, từ xương ức trở xuống.
Âm hãn (阴汗)
Vùng sinh dục, bìu, quanh đó nhiều mồ hôi, mùi tanh, do thấp nhiệt hạ tiêu.
Huyễn vựng (眩晕)
Đầu choáng, mắt hoa.
Tuần mông chiêu vưu (徇蒙招尤)
Uất mạo (郁冒)
U ám, choáng váng, có lúc xỉu trong thời gian ngắn, xong tự tỉnh.
Điên tật (颠疾)
Gọi chung bệnh ở đầu, nhiều khi chỉ bệnh đau đầu.
Ứ huyết đầu thống (瘀血头痛)
Do khí trệ huyết ứ cũ hoặc chấn thương gây đầu đau cố định.
Can quyết đầu thống (肝厥头痛)
Đau đầu do can khí rối loạn, thuộc loại nội thương đầu thống.
Đầu dao (头摇)
Đầu lắc lư, run rẩy.
Đầu phong (头风)
Đau đầu mạn tính, khi lên cơn dữ dội, chạm nhẹ cũng đau.
Chân đầu thống (真头痛)
Đau đầu kịch liệt, lan khắp đầu, tay chân lạnh lên quá khớp, triệu chứng nguy kịch.
Thiên đầu thống (偏头痛) Đau đầu kịch phát một bên, cố định.
Lôi đầu phong (雷头风)Đau đầu kèm tiếng nổ như sấm, có sưng đỏ, do thấp độc ứ ở trên.
Não phong (脑风) Do phong tà xâm não, thuộc loại đầu phong.
Đầu trọng (头重) Đầu nặng như có vật đè, cảm giác bị quấn băng quanh.
Điên cuồng (癫狂) Hai dạng rối loạn tâm thần: điên (trầm uất), cuồng (hưng phấn).
Giản chứng (痫证) Bệnh cơn kịch phát, mất ý thức, sùi bọt, co giật, tỉnh xong như thường, gọi “dương giản phong” (羊痫风).
Dương giản (阳痫) Thể thực nhiệt của bệnh huyễn, phát đột ngột, co giật nghiến răng, sốt, mạch huyền sác. Cũng gọi “tiểu nhi cấp kinh phong”.
Âm giản (阴痫) Thể hư hàn, bệnh kéo dài, chính khí suy, đàm kết. Khi phát tác: mặt tái, đờ đẫn, thân lạnh, mạch trầm huyền. Cũng gọi “tiểu nhi mạn kinh phong”.
Phong giản (风痫)Lúc phát đầu cứng, mắt trợn, hôn mê, răng nghiến, do can kinh tích nhiệt.
Kinh giản (惊痫) Giản do sợ hãi.
Phế giản (肺痫) Do phế hư, liên lụy can thận, lúc phát mặt xám, mắt ngước, run giật, cổ cứng…
Thực giản (食痫) Trẻ nhỏ do tắc ứ ăn uống, khởi phát cơn huyễn.
Tửu bột (酒悖) Say rượu rồi nói năng, hành động loạn.
Tạng táo (脏躁) Chứng trầm uất, bối rối, không cớ mà khóc cười bất thường, chán nản, ngáp vặt.
Bách hợp bệnh (百合病) Bệnh thần chí thất thường, ăn ngủ đều khó chịu, người như không yên, đi đứng nằm ngồi đều khó.
Hầu phân (喉吩)
Cảm giác như có vật mắc ở hầu.
Uất chứng (郁证)
Do tình chí không thư thái, khí cơ uất kết, sinh nhiều chứng.
Ngân xỉ (齦齿)
Nghiến răng khi ngủ, thường do vị nhiệt hoặc sán trùng.
Bất đắc miên (不得眠)
Mất ngủ, khó ngủ, hoặc ngủ không ngon.
Trúng phong (中风)
Đột ngột hôn mê ngã, liệt nửa người, nói khó hoặc mất tiếng, miệng méo, nửa người tê liệt, tương đương tai biến mạch máu não.
Trúng tạng (中脏)
Thể trung phong nặng, mất ý thức, chia thành bế chứng và thoát chứng. Bế: Có dương bế, âm bế.
Trúng phủ (中腑)
Trường hợp trung phong hôn mê thoáng qua, tỉnh lại thấy liệt nửa người, đờm ứ, tiểu tiện thất thường.
Trúng lạc (中络)
Phong trúng lạc mạch, miệng méo, da tê, có thể kèm chóng mặt, đau đầu.
Trúng kinh (中经)
Phong nhập kinh mạch, không hôn mê, chỉ liệt nửa người, tứ chi tê dại, nhiều đờm, nói khó, mạch huyền hoạt.
Oai bích bất toại (㖞僻不遂)
Mồm méo, mắt xếch, tứ chi không vận động như ý.
Bán thân bất toại (半身不遂)
Liệt một bên tay chân, không vận động tùy ý.
Phong liệu (风疗)
Đờm hỏa nghẹt tắc, gây đột ngột ngã ra bất tỉnh, lưỡi cứng không nói, cổ họng bị nghẹt, có tiếng đờm.
Tứ chi bất dụng (四肢不用)
Tứ chi mềm yếu không thể hoạt động.
Thân bất nhân (身不仁)
Thân thể da thịt tê dại, mất cảm giác.
Bạo phó (暴仆)
Đột nhiên ngã quỵ, hôn mê, thường gặp trúng phong, kinh giản, chứng quyết.
Cương phó (僵仆)
Thân thể không tự chủ ngã xuống đất.
Huyễn phó (眴仆)
Ngã do chóng mặt.
Trực thị (直视)
Mắt nhìn chằm chằm bất động khi hôn mê, gặp ở trúng phong, kinh phong, điên giản.
Hôn quỹ (昏馈)Thần chí rối loạn, không biết gì.
Khẩu cấm (口噤)Hàm răng cắn chặt, không há miệng.
Tiết phong (泄风)Lỗ chân lông mở, phong tà xâm, đổ mồ hôi không ngừng, miệng khô, đau toàn thân.
Thiên thư (偏沮)Nửa người ra mồ hôi, nửa kia khô.
Hãn thanh (鼾声) Tiếng ngáy lúc ngủ.
Quyết (厥)Đột ngột ngất, tay chân lạnh.
Hôn quyết (昏厥)
Bất tỉnh, tứ chi lạnh, mạch thoáng mất.
Thủ túc quyết lãnh (手足厥冷)
Lạnh lên đến khuỷu gối, còn gọi “tứ chi nghịch lãnh”.
Quyết chứng (厥证)
Chỉ chung các bệnh đột nhiên hôn mê, tứ chi lạnh.
Bạo quyết (暴厥)
Khí nghịch xông thượng, ngã quỵ, hôn mê, mạch táo tật như bệnh chứng suyễn.
Tiễn quyết (煎厥)
Nội nhiệt làm tiêu hao âm dịch, gây hôn mê, âm hư dương cang, lại cảm thụ thử nhiệt mà thành..
Bạc quyết (薄厥)
Do xúc động tinh thần quá mức, dương khí đột khởi, huyết dồn lên đầu, phát sinh đột nhiên hôn mê.
Khí quyết (气厥) Quyết do khí bệnh gây ra.
Huyết quyết (血厥) Quyết do huyết bệnh.
Thực quyết (食厥) Quyết do ăn uống không điều độ, bội thực.
Hàn quyết (寒厥) Do dương khí hư, âm hàn quá mạnh, dẫn đến tứ chi lạnh ngắt.
Nhiệt quyết (热厥) Nhiệt tà cực thịnh, tổn háo huyết tân dịch, dương không thông ra tứ chi, tay chân lạnh.
Hồi quyết (蛔厥) Chứng quyết do giun, gây đau bụng dữ dội, tay chân lạnh.
Can quyết (肝厥)
Do can khí nghịch bốc, thường khởi phát bởi stress.
Thi quyết (尸厥) Đột nhiên ngã, hôn mê cứng đơ như chết.
Đại quyết (大厥) Trúng phong đổ gục, hôn mê bất tỉnh.
Khí thượng xung tâm (气上冲心)Người bệnh thấy luồng khí xông từ bụng dưới lên ngực.
Nuy chứng (痿证)
Chỉ tay chân teo yếu, mất chức năng vận động.
Mạch nuy (脉痿)
Chân tay teo, cơ bắp suy, gối yếu, không đứng vững, cổ chân gối chẳng co duỗi.
Cân nuy (筋痿)
Đau gân căng cứng, dương vật không cương, di tinh…
Nhục nuy (肉痿)
Cơ thịt tê liệt, mỏi, mềm yếu vô lực.
Bì mao dưỡng (皮毛痒)
Ngụy chứng da lông khô, không nhuận trạch.
Cốt nuy (骨痿)
Eo lưng, chân tay yếu, khó đứng thẳng, răng khô, mặt xạm.
Nuy quyết (痿厥)
Tay chân vừa mềm yếu và không ấm áp.
Tý chứng (痹证)
Tà khí bế tắc cơ thể hoặc kinh lạc gây đau, tê, mỏi.
Phong tý (风痹)
Chứng tý do phong tà, đau di chuyển.
Hàn tý (寒痹)
Chứng tý do hàn tà, đau dữ dội, gặp lạnh đau tăng, gặp ấm đau giảm.
Thấp tý (湿痹)
Đặc trưng tê nặng, khớp sưng cố định.
Nhiệt tý (热痹)
Khớp đỏ sưng nóng, kèm phát sốt, sợ gió, khát, tức ngực.
Mạch tý (脉痹)
Tý chủ yếu ảnh hưởng mạch máu, có sốt thất thường, da nóng rát, đau, có thể nổi ban, do huyết hư, hàn thấp ứ đọng trong mạch.
Cân tý (筋痹)
Tý chủ về gân, co cứng gân, khớp đau khó duỗi.
Nhục tý (肉痹)
Tý chủ về cơ, tê mỏi yếu, mồ hôi ra, uể oải. Biểu hiện lâm sàng da thịt tê dại hoặc đau ê ẩm và vô lực, mệt mỏi, xuất mồ hôi
Bì tý (皮痹)
Là chứng tý chủ về da, da lạnh và tê.
Cốt tý (骨痹)
Khí huyết hư, hàn thấp tổn thương cốt tủy.
Ngũ tạng tý (五脏痹)
Tý lâu không khỏi, tà xâm dần vào tạng: Can tý, tâm tý, tỳ tý, phế tý, thận tý.
Tâm tý (心痹)
Chủ yếu hồi hộp, khó thở, cổ khô, hay thở dài, hay lo sợ.
Can tý (肝痹)
Chủ yếu đau đầu, ngủ hay mộng, khát uống nhiều, tiểu nhiều, bụng trướng, hông đau, chân lạnh.
Tỳ tý (脾痹)
Tứ chi mệt, ngực tức, ho, nôn ra nước miếng…
Phế tý (肺痹)
Sợ lạnh sốt, ho, suyễn, ngực bức bối, phiền muộn bất an.
Thận tý (肾痹)
Lưng gối yếu, xương khớp sưng đau, cứng, khó co duỗi.
Loan tý (挛痹)
Co rút gân cơ, tê, đau khớp, cử động khó.
Âm tý (阴痹)
Chứng tý do âm hàn gây ra.
Tý khí (痹气)
Dương hư, hàn nội thịnh, doanh vệ rối loạn, huyết không thông, dẫn đến bệnh lý bế trở.
Viễn tý (远痹)
Bệnh tý kéo dài không khỏi.
Huyết tý (血痹)
Bệnh nội thương khí huyết, làm tê liệt cục bộ, đau.
Hung tý (胸痹)
Dương khí không lưu thông, đàm ứ ở ngực, gây đau thắt ngực.
Tràng tý (肠痹)
Biểu hiện tý ở ruột non, ruột già, một loại nội tạng tý.
Bào tý (胞痹)
Tiểu tiện khó, tức trệ vùng tiểu khung, đau khi ấn.
Hạc tất phong (鹤膝风)
Khớp gối sưng to đau, đùi cẳng teo, gối nhô, giống gối chim hạc.
Lịch tiết phong (历节风)
Khớp viêm tấy, đau dữ dội, khó co duỗi, như viêm khớp dạng thấp, gout…
Cân cốt giải đọa (筋骨懈堕)
Cân cốt lỏng lẻo, nâng đỡ cơ thể kém.
Thân thể phiền thống (身体烦疼)
Toàn thân đau nhức, phiền muộn.
Chi tiết phiền thống (支节烦疼)
Chân tay khớp đau rát, nặng nề.
Chi bễ (折髀)
Hông đau như gãy (ví dụ thần kinh tọa).
Oa phụ (倭附)
Dáng đi lom khom, lưng gập xuống, đầu chúc, do thận khí hư, cơ gân yếu.
Thiên trụ đảo (天柱倒)
Cổ gáy yếu, đầu rũ. Gặp trẻ kém phát triển, người già yếu.
Vị thống (胃痛)
Đau vùng thượng vị hoặc tâm vị.
Thực tý (食痹)
Sau khi ăn, thượng vị tức đau, nôn ra thì nhẹ, do can khí phạm vị, hoặc vị khí ứ trệ.
Phúc mãn (腹满)
Bụng chướng.
Mô trướng (膜胀)
Bụng trên chướng đầy.
Ẩu thổ (呕吐)
Do tà ở vị, vị khí nghịch lên; “ấu” là có tiếng không vật, “thổ” là có vật không tiếng, thường gộp gọi “âu thổ” (nôn).
Can ẩu (干呕)
Nôn khan, chỉ có tiếng, không ra gì. Do vị hư, tà nghịch.
Uyển (晼, âm yuē)
Tức “can ẩu”, nôn khan không ra gì.
Tâm hạ ôn ôn dục thổ (心下温温欲吐)
Vùng thượng vị nóng nhẹ, buồn nôn nhưng khó nôn ra.
Phản ác (泛恶)
Bụng trên đầy, khó chịu, muốn nôn, có thể khạc đờm dãi hay chua, gọi chung “nôn nấc”.
Uế (哕, âm yuě)
Âm thanh do khí nghịch, cũng gọi “ấc nghịch” (呃逆).
Ấc nghịch (呃逆)
Nấc cục, do vị khí nghịch lên, âm “ắc ắc” liên tục.
Y (噫) khí
Do can vị bất hòa hoặc bội thực, khí trong dạ dày lên miệng, có tiếng ợ.
Yết cách (噎膈)
Phản vị (反胃)
Sáng ăn chiều nôn hoặc chiều ăn sáng nôn, nôn ra thức ăn chưa tiêu, do tỳ vị hư hàn.
Thượng cách (上膈)
Ăn xong nôn liền.
Hạ cách (下膈)
Chiều ăn sáng nôn.
Tào tạp (嘈杂)
Bụng trên trống rỗng khó chịu, bứt rứt.
Thôn toan (吞酸)
Ợ chua, acid dâng đến họng, chưa kịp phun ra đã nuốt xuống, vị chua.
Ái phủ (噯腐)
Hơi chua hôi bốc lên miệng, đồ ăn lên men.
Túc thực (宿食)
Thức ăn dồn lại lâu, không tiêu, hoặc tỳ vị hư hàn.
Nạp ngây (纳呆)
Vị nạp thức kém, ăn ít, tiêu hóa không tốt, còn gọi “vị oán”.
Âm kết (阴结)
Tỳ thận hư hàn, gây táo bón.
Tẩu bộ (走哺)
Trên thì nôn, dưới thì đại tiểu tiện bế, bệnh nặng.
Thổ thỉ (吐矢)
Nôn ra cả phân, do ruột tắc, âm dương đảo lộn, thanh trọc lẫn lộn, gặp tắc ruột nặng.
Trừ trung (除中)
Bệnh giai đoạn nặng, vốn không ăn uống được, bỗng lại ăn khỏe vô độ, là dấu hiệu tỳ vị khí sắp tuyệt, phản thường.
Nhiệt trung (热中)
Nhiệt ứ ở tràng vị.
Tỳ ước (脾约)
Do tân dịch thiếu, đại tiện kết, một chứng táo bón.
Giao trường (交肠)
Tiểu tiện và đại tiện lẫn lộn; khi tiểu ra phân nước, khi đại tiện ra nước tiểu, do cấu trúc đường ruột bàng quang bị rò.
Cổ trướng (鼓胀)
Bụng chướng như trống, da vàng sạm, tĩnh mạch nổi, gọi “cổ chướng”.
Khí cổ (气臌)
Một thể cổ chướng do tỳ hư khí trệ, ấn vào bụng còn mềm, kèm ợ hơi, nghịch khí.
Huyết cổ (血臌)
Khạc máu, nôn máu, đi ngoài ra máu, tiểu đỏ, xuất huyết dưới da, sờ thấy khối cứng trong bụng. Thường do ứ huyết, cản trở thủy thấp. Gặp xơ gan, u tử cung, buồng trứng…
Trùng cổ (虫臌)
Cổ chướng do ký sinh trùng (như sán máng) gây nên.
Thủy cổ (水臌)
Bụng chướng to, da căng mỏng, tiểu khó, đau hai bên sườn.
Thũng trướng (肿胀)
Phù toàn thân gọi “thũng”, bụng chướng gọi “trướng”.
Phu trướng (肤胀)
Lạnh tà đọng ở da, gây sưng phù.
Khí trướng (气胀)
Bụng chướng do khí trệ.
Tửu trướng (酒胀)
Trướng do rượu tích tụ tổn hại tỳ vị.
Trung mãn (中满)
Chứng bụng đầy chướng.
Ngũ tích (五积)
Năm loại “tích” của ngũ tạng: tâm – phục lương, can – phì khí, tỳ – bĩ khí, phế – tức bôn, thận – bôn thốn (奔豚).
Phục lương (伏梁)
Tích của tâm, khối hoặc khí vùng tâm hạ đến rốn, cản trở khí huyết.
Phì khí (肥气)
Tích của can, khối nhô như úp chén, lâu có thể ho, nôn, mạch huyền tế, do can khí uất, ứ huyết.
Bĩ khí (痞气)
Tích của tỳ, khối vùng thượng vị như úp cái mâm, lâu ngày gầy mòn, ăn kém, vàng da…
Tức bôn (息贲)
Tích của phế, khối ở hạ sườn phải, hình như úp chén, tức ngực đau lưng, ho, nôn, khó thở, do phế khí ứ, đàm nhiệt.
Tức tích (息积)
Do phế mất túc giáng, phế khí dồn lại, ngực sườn đầy không trở ngại ăn uống. Tương đương khí phế thũng.
Bôn thồn (奔豚)
Tích của thận, khí từ bụng dưới xông lên ngực, đau quặn, khó thở, chóng mặt, tim đập, bồn chồn, có thể kèm hàn nhiệt vãng lai, nôn mửa.
Can trước (肝着)
Can khí huyết ứ trệ, tức bức hạ sườn, ấn vào lại dễ chịu, thích ấm hơn.
Trùng tích (虫积)
Ký sinh trùng ở nội tạng (chủ yếu đường ruột), thường trẻ em mắc.
Chứng, giáp (癥瘕)
“Tích tụ” trong bụng. “Chứng, tích” là khối có hình, cố định, đau cố định. “Giáp, tụ” là khối lúc có lúc tan, đau không cố định.
Giáp tụ (瘕聚)
Phụ nữ bị hư hàn, kinh nguyệt không thông, khối cứng hạ vị di động, đau.
Huyết giáp (血瘕)
Do kỳ kinh gặp tà, huyết kết, ứ kinh lạc, vùng bụng dưới đau, sờ có khối.
Thạch giáp (石瘕)
Do lạnh xâm nhập lúc hành kinh, huyết ứ lâu, tạo khối cứng lớn, giống u tử cung.
Huyết chứng (血癥)
Huyết ứ gây đau ngực bụng, sờ cứng, ấn không di, người gầy.
Bĩ khối (痞块)
Chỉ khối cục bụng, có thể ứ khí huyết.
Phục giáp (伏瘕)
Đại tràng chứa nhiệt, tà ẩn bên trong. Thỉnh thoảng thấy khối lù ở bụng dưới rồi tan, kèm đau bụng, táo bón.
Cố giáp (固瘕)
Hàn khí ngưng đọng ở ruột, gây phân lúc rắn lúc nát, hoặc xen kẽ.
Tràng đàm (肠覃, âm tán)
Bệnh phụ nữ, khối ở dưới rốn nhưng kinh nguyệt vẫn đều, có thể u nang buồng trứng.
Thủy khí (水气)
Chỉ “thủy thũng” (phù thũng).
Thủy trướng (水胀)
Tên khác của “phù thũng”. Nước tràn da thịt, gây sưng.
Hư thũng (虚肿)
Phù thuộc hư chứng, thường gọi “âm thủy”.
Phù (腑) thũng
Phù toàn thân da thịt.
Phu thũng (跗肿)
Phù ở mu bàn chân.
Ngũ thủy (五水)
Năm thể phù do ngũ tạng: tâm thủy, can thủy, tỳ thủy, phế thủy, thận thủy.
Tâm thủy
Nặng nề, ít hơi, phiền táo, không nằm được, vùng hạ âm sưng.
Can thủy
Sườn bụng chướng đau, tiểu nhiều lúc ít lúc nhiều.
Tỳ thủy
Bụng to, tiểu khó, khí đoản, tứ chi nặng nề.
Phế thủy
Thở gấp, toàn thân phù, tiểu khó, phân lỏng nát.
Thận thủy
Lưng đau, tiểu khó, bụng to rốn lồi, dịch chảy vùng hạ âm, chân lạnh, mặt gầy.
Âm thủy (阴水)
Phù do tỳ thận dương hư, mang đặc tính lạnh, thuộc hư.
Dương thủy (阳水)
Phù do phế thất tuyên giáng, nước không xuống được, mang đặc tính nhiệt, thuộc thực.
Chính thủy (正水)
Một thể phù, biểu hiện phù toàn thân, bụng trướng kèm suyễn, mạch trầm trì.
Phong thủy (风水)
Phù phát đột ngột, mạch phù, khớp xương đau, sốt sợ gió, phù nhiều đầu mặt.
Thạch thủy (石水)
Phù một dạng, bụng trướng đau hông, nhưng không khó thở, mạch trầm.
Súc thủy chứng (蓄水证)
Chứng Thái dương bàng quang phủ, sau phát hãn mà bàng quang khí hóa kém, nước đọng hạ tiêu.
Huyết chứng (血证)
Do máu chảy ra ngoài mạch, như nục huyết, tiểu ra máu, đại tiện ra máu…
Tỵ nục (鼻衄)
Chảy máu mũi.
Khái huyết (咯血)
Ho ra máu, máu tươi, lượng nhiều, ít đờm.
Thổ huyết (吐血)
Máu ra qua miệng, gồm ói máu hoặc khạc máu nhiều.
Ẩu huyết (呕血)
Máu ói ra lẫn thức ăn, màu sẫm.
Dật huyết (溢血)
Máu tràn ra, chỉ chung xuất huyết.
Đoạt huyết (夺血)
Mất máu cấp.
Khạc huyết (咯血)
Thực ra đã giải thích rồi, ho ra máu do phế lạc thương.
Vong huyết (亡血)
Gọi chung mọi xuất huyết: nôn máu, chảy mũi, ra máu đại tiện…
Huyết khô (血枯)
Bệnh xưa, ngực sườn đầy, hôi tanh, chảy nước mũi trong, tứ chi lạnh, hay chảy máu đại tiểu tiện.
Tiện huyết (便血)
Máu ra đường hậu môn (lẫn phân hoặc riêng máu).
Tràng phong tiện huyết (肠风便血)
Do phong nhiệt xâm ruột, hoặc thấp nhiệt ứ tràng vị, lâu tổn mạch ruột, đi cầu kèm máu.
Tạng độc tiện huyết (脏毒便血)
Do tràng vị nhiệt ứ (hoặc thấp nhiệt), máu ra cục, màu sậm, đại tiện phân lỏng, chán ăn, mệt.
Thanh huyết (圊血)
Chỉ đại tiện ra máu.
Viễn huyết (远血)
Đi cầu xong mới ra máu, màu đen, do xuất huyết đường tiêu hóa trên.
Cận huyết (近血)
Máu tươi ra trước rồi mới phân, thường do trĩ hoặc trực tràng.
Sấu huyết (溲血)
Tức tiểu ra máu.
Đại nục (大衄)
Cùng lúc miệng mũi tràn máu, hoặc thêm mắt tai, nhị âm chảy máu, rất nặng.
Thiệt nục (舌衄)
Lưỡi rướm máu.
Nha nục (牙衄)
Chảy máu chân răng.
Huyết tiết (血泄)
Đi tiêu lỏng ra máu.
Huyết thoát (血脱)
Âm huyết mất nhiều, thoát.
Âm ban (阴斑)
Ban mờ ở ngực bụng, màu nhạt, kèm tứ chi lạnh, đại tiện ra thức ăn sống.
Cơ phu giáp thác (肌肤甲错)
Da toàn thân khô, ráp, sần như vảy cá, do ứ huyết lâu ngày.
Tiêu khát bệnh (消渴病)
Bệnh đặc trưng khát nhiều, tiểu nhiều, ăn nhiều gầy sút, mệt, nước tiểu ngọt, gặp ở đái tháo đường, đái tháo nhạt, suy tuyến thượng thận…
Tam tiêu (三消)
Ba thể tiêu khát: Thượng tiêu (phế), Trung tiêu (vị), Hạ tiêu (thận), phân theo nơi tổn thương chính.
Thượng tiêu (上消)
Còn gọi “phế tiêu”, nổi bật miệng khát, uống nhiều. Có loại thiên hàn, thiên nhiệt.
Trung tiêu (中消)
Còn gọi “vị tiêu”, ăn nhiều mau đói, gầy sút.
Hạ tiêu (下消)
Còn gọi “thận tiêu”, tiểu nhiều, nước tiểu đục như mỡ, vẩn như bột.
Tiêu đan (消瘅)
Chỉ nhiệt tà nung đốt tân dịch, sinh chứng khát, ăn nhiều gầy.
Tiêu trung (消中)
Chứng ăn nhiều mau đói (trung tiêu) trong tiêu khát bệnh.
Thực diệc (食亦)
Chỉ ăn nhiều mau đói, người gầy, do nhiệt làm khô trung tiêu.
Thiện thực nhi sấu (善食而瘦)
Ăn nhiều nhưng vẫn gầy, do nhiệt tiêu hao âm dịch.
Tiêu cốc thiện cơ (消谷善饥)
Ăn xong nhanh đói, hao gầy, do vị hỏa vượng, vị âm hao.
Lâm chứng (淋证)
Chỉ các chứng tiểu lắt nhắt, đau, rát, nhỏ giọt, tiểu khó…
Ngũ lâm (五淋)
Năm loại: Thạch lâm, Khí lâm, Cao lâm, Lao lâm, Huyết lâm.
Thạch lâm (石淋)
Tiểu ra sỏi cát, tiểu đau, có khi ngắt quãng, bụng đau quặn.
Khí lâm (气淋)
Trướng nhiều vùng bụng dưới, tiểu khó đau, nặng, nước tiểu không hết, rơi rớt.
Cao lâm (膏淋)
Tiểu đục như nước vo gạo, hoặc có váng mỡ.
Lao lâm (劳淋)
Lâm lâu không khỏi, hễ lao lực là tái phát.
Huyết lâm (血淋)
Tiểu máu, rát nóng, bụng dưới đau tức.
Nhiệt lâm (热淋)
Khí nóng gây đau bụng dưới, tiểu đỏ, rát, hoặc có sốt, đau mình; tương đương viêm tiết niệu cấp.
Lũng bế (癃闭)
Tiểu bí hoặc khó tiểu, bụng dưới chướng.
Di niệu (遗溺)
Trẻ thường đái dầm ban đêm không tự chủ.
Kinh sấu bất lợi (泾溲不利)
Chỉ tiểu tiện không thông, đôi khi kèm đại tiện không thông.
Bất đắc tiền hậu (不得前后)
Không tiểu tiện được, cũng không đại tiện được.
Thất sấu (失溲)
Tiểu tiện không kiềm chế.
Sấu sổ (溲数)
Tiểu dắt, tiểu nhiều lần.
Tiểu tiện lâm lịch (小便淋沥)
Tiểu nhỏ giọt, không hết.
Di tinh (遗精)
Tinh dịch xuất ra không do quan hệ, kèm mệt mỏi, hồi hộp, đau lưng, chân yếu…
Tảo tiết (早泄)
Xuất tinh sớm khi giao hợp.
Tinh lãnh (精冷)
Nam giới dương khí hư, tinh lạnh, khó có con.
Âm lãnh (阴冷)
Phụ nữ cảm giác lạnh ở âm đạo, thậm chí lạnh bụng trong, ảnh hưởng sinh nở, do hạ nguyên hư.
Âm súc (阴缩)
Hoặc “dương súc”, dương vật co rút mềm, do thận dương hư.
Dương uất (阳痿)
Tức liệt dương, không cương.
Đoạt tinh (夺精)
Tinh khí hao kiệt trầm trọng, mệt, tai điếc, mắt kém…
Cường trung (强中)
Dương vật cương cứng liên tục, không xuất tinh, tự chảy dịch.
Bất dục (不育)
Nam giới không có khả năng sinh sản.
Ngũ bất nam (五不男)
Năm dạng bất lực sinh sản ở nam: thiên, lậu, kiền, khiếp, biến.
Thiên
Thiên hoạn, bẩm sinh dương cụ, tinh hoàn kém hoặc dị tật tính dục.
Lậu
Tinh không cố, thường tự di, rỉ.
Kiền (犍)
Hoạn (thiến), cắt bỏ dương hoặc tinh hoàn.
Khiếp (怯)
Tức liệt dương (dương sự không cương).
Biến (变)
Lưỡng tính, “âm dương nhân”.
Sán (疝)
Bệnh thoát vị (tạng thò ra ngoài). Gọi chung các khối sa xuống bìu, bụng dưới v.v.
Hồ sán (狐疝)
Ruột sa xuống bìu, nằm ngồi có thể lên xuống (thoát vị bẹn).
Hàn sán (寒疝)
Bệnh đau bụng cấp, bìu lạnh đau cứng, đau lan tinh hoàn, dương vật không cương, sợ lạnh.
Thủy sán (水疝)
Âm nang sưng đau, ra mồ hôi ẩm ướt, hoặc sưng trong suốt (tràn dịch màng tinh hoàn).
Tề sán (脐疝)
Trẻ nhỏ sa lồi rốn.
Đồi sán (颓疝)
Tinh hoàn sưng cứng, đau nặng.
Cam sán (疳疝)
Ở cơ quan sinh dục nam nữ, loét chảy mủ.
Khí sán (气疝)
Khối bìu sa, đau, phát do giận dữ hoặc lao lực, lúc hết thì xẹp.
Huyết sán (血疝)
Sưng đau ứ máu vùng bìu, đau như châm chích, khối không di.
Cân sán (筋疝)
Dương vật đau co, có thể sưng, loét, có dịch trắng chảy ra, kèm liệt dương.
Phủ sán (腑疝)
Có khối cứng ở dưới rốn.
Bàn sán (盘疝)
Đau quặn quanh rốn.
Chứng sán (症疝)
Bụng trên chướng đau, ruột phình lên như ống, đau kịch phát.
Hàn sán (寒疝)
Hàn tà tích ở bụng, khí nghịch lên, đau dữ dội.
Sán hà (疝瘕)
Hạ vị nóng đau, tiểu ra chất trắng.
Hội lung sán (溃癃疝)
Ổ mủ bao bọc khoang bụng.
Tâm sán (心疝)
Hàn xâm kinh tâm, đột nhiên đau bụng dưới có khối, khí xông ngực, tim đau.
Phế sán (肺疝)
Tà xâm phế, phế khí nghịch, kết ở bàng quang, gây sưng đau, nóng.
Hồ hoặc (狐惑)
Loét cổ họng, trước sau âm, thần trí hoang mang bất an.
Lưỡng hiếp câu cấp (两胁拘急)
Hai bên sườn căng, co rút.
Đái dương (戴阳)
Dương khí thoát xuống, nay bốc ngược lên, dưới hư hàn, trên giả nhiệt.
Phần 3. Nhi khoa bệnh chứng
Kinh phong (惊风)
Bệnh thường gặp ở trẻ, do phong gây co giật.
Cấp kinh phong (急惊风)
Phát đột ngột, sốt cao mắt đỏ, hôn mê co giật, ưỡn cong, mắt trợn, răng cắn, đờm sùi…
Mạn kinh phong (慢惊风)
Phát từ từ, mặt nhợt hoặc xanh, uể oải, thi thoảng co giật nhẹ, bụng lõm, thở yếu…
Kinh phong bát hậu (惊风八候)
Tám biểu hiện ở kinh phong: súc, chế, chiến, nặc, phản, dẫn, tán, thị.
Nội điếu (内钓)
Trẻ do hàn tà từ trong (thai hàn), tích tụ, gây quặn bụng, khóc nhiều, môi đen.
Thiên điếu (天钓)
Do đàm nhiệt ngưng, kèm phong tà, phát đột ngột, đầu ngửa ra sau, mắt trợn, sốt cao, giật, móng tay xanh.
Kinh quyết (惊厥)
Trẻ đột nhiên mất tri giác, mắt trợn, co giật, nặng thì ưỡn cong, rối loạn thở, mất tiểu tiện. Cơn ngắn.
Xiết túng (瘛疭)
Còn gọi “trừu phong”, dấu hiệu trong kinh phong: tay chân co rút liên tục.
Tề phong (脐风)
Còn gọi “tróc khẩu”, “cấm phong”, tức uốn ván trẻ sơ sinh.
Thai phong (胎风)
Trẻ mới sinh bị sốt, da đỏ như phỏng lửa.
Thai kinh (胎惊)
Trẻ sơ sinh bị kinh phong, không phải do tề phong.
Thai giản (胎痫)
Kinh giản ở trẻ dưới 100 ngày.
Cam tích (疳积)
Biểu hiện gầy mòn, bụng ỏng, kém dinh dưỡng, kèm tiêu hóa kém.
Ngũ cam (五疳)
Theo tạng phủ: tâm, can, tỳ, phế, thận cam.
Tâm cam (心疳)
Do ăn uống sai, tâm kinh uất nhiệt, sốt, mặt đỏ, miệng lở loét, ngực bức, khát, đi cầu nhầy máu, hay giật mình.
Can cam (肝疳)
Do ăn uống sai, nhiệt ở can. Trẻ gầy, bụng phình, mắt quáng gà, chảy nước mắt, đi tả có máu…
Tỳ cam (脾疳)
Do tỳ vị tổn thương, mặt vàng, bụng như cái trống, gân xanh nổi, nôn, kém ăn, thích ăn đất, khát, phân thối, ho, ngực đầy, miệng khô, mắt đóng, sợ ánh sáng…
Phế cam (肺疳)
Do uất nhiệt thương phế, ho, thở dốc, họng vướng, sợ lạnh, bụng trướng, phân lỏng như nước gạo, ăn ít, mùi tanh, da lông khô, thân gầy.
Thận cam (肾疳)
Do ăn uống thất thường, tà nhiệt ẩn, nên tay chân gầy, mặt thâm, lợi loét chảy máu, trên nóng dưới lạnh, sốt lúc có lúc không, nôn, đi lỏng, sa trực tràng, loét hậu môn…
Nhiệt cam (热疳)
Trẻ hè cai sữa, tỳ vị hư, ăn uống thất thường mà sinh.
Khẩu cam (口疳)
Trẻ bị cam tích tiêu chảy chưa khỏi, sinh loét miệng.
Tích cam (脊疳)
Trẻ gầy, xương sống trồi rõ.
Đinh hệ cam (丁奚疳)
Cam tích do ăn quá độ, tỳ vị hư, bào mòn dinh dưỡng, đặc trưng bụng to, cổ nhỏ, gầy vàng.
Thai xích (胎赤)
Trẻ sơ sinh da đỏ như bôi son, do trong bào thai bị nhiệt.
Thai hoàng (胎黄)
Trẻ sơ sinh vài ngày vàng da vàng mắt, tức vàng da sinh lý (hoặc bệnh lý).
Thai phì (胎肥)
Trẻ mới sinh da thịt béo, mắt hồng, sau đầy tháng lại dần gầy, sốt, bí đại tiện, nước tiểu đỏ, do nhiệt bào thai từ mẹ.
Thai sán (胎疝)
Trẻ sinh ra đã sưng bìu.
Thai nhiệt (胎热)
Trẻ mới sinh sốt, phiền, đàm nhiều, thở dốc, mắt đỏ, táo bón, tiểu đỏ.
Tạng hàn (脏寒)
Trẻ dưới 100 ngày tay chân lạnh, hơi thở nhẹ, mồ hôi trán, không bú, bụng đau, đi lỏng nước, khóc đêm…
Trệ di (滞颐)
Trẻ hay chảy dãi, dãi đọng hai má cằm.
Ngũ trì (五迟)
Trẻ chậm: chậm đứng, chậm đi, chậm mọc tóc, chậm mọc răng, chậm nói.
Ngũ nhuyễn (五软)
Trẻ mềm: đầu cổ, tay chân, cơ, miệng, đều mềm. Cách nói chung suy dinh dưỡng, trí tuệ kém.
Kê hung (鸡胸)
Biến dạng lồng ngực trẻ do thiếu canxi, ngực nhô như ức gà.
Quy bối (龟背)
Cong vẹo cột sống, lưng gù như mai rùa.
Giải lô (解颅)
Thóp trẻ mở rộng, đường khớp sọ không liền.
Tín điền (囟填)
Thóp phồng lồi.
Tín hãm (囟陷)
Thóp lõm sâu, dạng mất nước.
Khách ngỗ (客忤)
Trẻ bị giật mình, khiếp sợ do tiếng động, gặp người lạ, dẫn đến khóc, sùi bọt, co giật, xanh mặt.
Dạ đề (夜啼)
Trẻ khóc đêm liên tục.
Bất nhũ (不乳)
Trẻ sau 12h sinh mà không chịu bú, không do bệnh khoang miệng.
Mã nha (马牙)
Trẻ sơ sinh lợi nổi hạt trắng như sụn, cản trở bú, do thai nhiệt.
Đường lang tử (螳螂子)
Trẻ sơ sinh vài ngày hay một tháng, hai chân trong cứng phồng, khó bú, khóc không ra tiếng…