Tiết 1: Biện chứng thi trị (辨证施治)
1/ Biện chứng luận trị (辨证论治): Vận dụng phương pháp chẩn đoán của y học cổ truyền, phân tích – tổng hợp các triệu chứng phức tạp ở người bệnh để xác định một loại tính chất nào đó của “chứng” (chứng hậu), đó là “biện chứng”; Rồi dựa trên nguyên tắc trị liệu của y học cổ truyền để quyết định phương pháp điều trị thì gọi là “luận trị” hay “thi trị” (thi thố).
Chứng hậu (证候) Là thuật ngữ chuyên dụng của Đông y, bao gồm một loạt chứng trạng liên quan hỗ tương; Tức là thông qua tứ chẩn: Vọng, văn, vấn, thiết thu được trạng thái phản ứng của cơ thể và những vận động cũng như những thay đổi của cơ thể ở mức độ tổng thể trong quá trình mắc bệnh, gọi đơn giản là “chứng” (证) hoặc là hậu (候). Chứng hậu: (证候) là chứng đón xem ở bên ngoài hay dấu hiệu bên ngoài của chứng(证), tức là trạng thái phản ứng của mối liên hệ hữu cơ giữa vị trí mắc bệnh, nguyên nhân, bản chất của bệnh, diễn biến của bệnh và sức đề kháng của cơ thể đối với bệnh ở một giai đoạn nhất định trong quá trình bệnh, biểu hiện bằng các triệu chứng quan sát được trên lâm sàng, v.v.
Quan niệm chỉnh thể (整体观念): Phương pháp tư duy trong chẩn trị bệnh của y học cổ truyền, coi các tạng phủ, tổ chức và cơ quan trong cơ thể như một thể thống nhất. Đồng thời chú trọng những thay đổi về khí hậu bốn mùa, vị trí địa lý, môi trường… cũng có ảnh hưởng đến sinh lý, bệnh lý con người. Y học cổ truyền nhấn mạnh sự hài hòa, toàn vẹn trong cơ thể và tính thống nhất giữa cơ thể với môi trường bên ngoài.
Đồng bệnh dị trị (同病异治): Cùng một bệnh, nhưng do phản ứng cơ thể khác nhau, biểu hiện “chứng” (证) khác nhau, nên phương pháp điều trị cũng khác nhau.
Dị bệnh đồng trị (异病同治): Đôi khi nhiều bệnh khác nhau nhưng lại có thể biểu hiện cùng một “chứng” (tính chất bệnh tương đồng), nên có thể dùng cùng một phương pháp điều trị.
Trị bệnh tất cầu vu bản (治病必求于本): Là khi chữa bệnh phải truy tìm căn nguyên của bệnh.
Trị cầu kỳ thuộc (治求其属): “Thuộc” tức liên hệ giữa chứng hậu và phép trị. Xác định chuỗi triệu chứng thuộc tạng nào, từ đó quy nạp thành phương pháp điều trị.
Suy chi dĩ thuộc suy (衰之以属衰): “Suy” là làm suy yếu tà khí. Nghĩa là trước hết xác định được tính chất chứng hậu, sau đó phối hợp với tính dược (tính chất thuốc) để quyết định cách trị liệu phù hợp.
Trị vị bệnh (治未病): Nguyên tắc trị liệu để phòng ngừa bệnh phát sinh hoặc tiến triển, gồm hai ý: “Vị bệnh tiên phòng” (chưa bị bệnh thì chú ý phòng bệnh) và “Ký bệnh phòng biến” (đã bị bệnh thì đề phòng biến chứng).
Nhân thời chế nghi (因时制宜): Tùy theo sự thay đổi khí hậu bốn mùa để điều trị phù hợp, chú ý đặc điểm tiết trời.
Nhân địa chế nghi (因地制宜): Căn cứ vào đặc điểm vùng miền, môi trường để chọn cách trị thích hợp.
Tiêu – Bản (标本): “Tiêu – Bản” có nhiều nghĩa. Nhìn từ góc độ chính khí – tà khí: chính khí là “bản” (gốc), tà khí là “tiêu” (ngọn). Nhìn vào bản thân bệnh tật: Nguyên nhân của bệnh là “bản”, triệu chứng của bệnh là “tiêu”.
Cấp tắc trị tiêu (急则治标): Khi bệnh cấp tính, bệnh nặng, hoặc bệnh mạn tính bộc phát đột ngột, không thể trì hoãn, cần phải giải quyết khẩn cấp triệu chứng (trị tiêu) đang nguy kịch trước.
Hoãn tắc trị bản (缓则治本): Nếu bệnh tình cho phép, nên tìm nguyên nhân căn bản, để có biện pháp trị tận gốc(trị bản).
Tiêu bản đồng trị (标本同治): Khi tiêu – bản đều cấp, thời gian và điều kiện không cho phép chỉ tập trung trị tiêu hoặc trị bản, thì phải kết hợp điều trị cả gốc lẫn ngọn (tiêu bản đồng trị).
Phù chính (扶正): Dùng thuốc giúp chính khí, nâng cao thể trạng, tăng khả năng chống bệnh, nhằm khôi phục sức khỏe.
Khu tà (祛邪): Trục xuất tà khí trong cơ thể, để “tà khứ chính phục” trừ tà khí phục hồi chính khí.
Phù chính khu tà (扶正祛邪): Với chứng chủ yếu do chính hư và vì hư mà dẫn đến thực (tà), thì phép trị chính là “phù chính”, làm chính khí mạnh lên, từ đó trừ bệnh tà.
Chính trị (正治): Phép trị thông thường, tức dùng phương pháp thuốc trái ngược với tính chất bệnh để đối trị.
Nhiệt nhân nhiệt dụng (热因热用): Trị chứng “nội chân hàn” hàn lãnh bên trong nhưng biểu hiện “ngoại giả nhiệt” giả nhiệt ở ngoài. Thực chất cơ thể là hàn, biểu hiện chỉ là giả nhiệt, cần dùng thuốc ấm nóng.
Hàn nhân hàn dụng (寒因寒用): Trị chứng “nội chân nhiệt” mà bề ngoài “giả hàn”. Bản chất cơ thể nóng, chỉ giả lạnh, phải dùng thuốc hàn lương (lạnh mát).
Tắc nhân tắc dụng (塞因塞用): Dùng thuốc bồi bổ, lấp chỗ trống (tắc) để chữa bệnh tắc trở “giả” do hư yếu (trên lâm sàng).
Thông nhân thông dụng (通因通用): Dùng thuốc thông lợi – tháo trệ để chữa chứng lâm sàng thông lợi (cần “thông” thật). Như tiêu chảy kiết lỵ có ứ nhiệt ứ huyết.
Hạ bệnh thượng thủ (下病上取): Chứng bệnh phát ở dưới (hạ bộ), nhưng châm cứu huyệt ở vùng trên (thượng bộ).
Dương bệnh trị âm (阳病治阴): Dương nhiệt quá thịnh, làm hao tổn âm tân (tân dịch), khi điều trị cần tư bổ âm.
Âm bệnh trị dương (阴病治阳): Âm hàn quá thịnh, tổn thương dương khí, khi điều trị cần phù trợ dương khí.
Tráng thủy chi chủ, dĩ chế dương quang (壮水之主, 以制阳光): Lấy phép bổ âm (tráng thủy) để ức chế dương hỏa bốc lên quá mạnh.
Ích hỏa chi nguyên, dĩ tiêu âm ế (益火之源, 以消阴翳): Dùng phép phù dương (ích hỏa) để xua tan âm hàn quá thịnh, hay gặp khi thận dương suy, mệnh môn hỏa yếu, dẫn đến âm hàn thịnh.
Thực tắc tả chi (实则泻之): Thực chứng thì dùng phép tả.
Hư tắc bổ chi (虚则补之): Hư chứng thì dùng phép bổ.
Nhiệt giả hàn chi (热者寒之): Bệnh chứng thuộc nhiệt, dùng thuốc hàn lương để trị.
Hàn giả nhiệt chi (寒者热之): Bệnh chứng thuộc hàn, dùng thuốc ôn nhiệt để điều trị.
Khách giả trừ chi (客者除之): Nếu có tà khí bên ngoài xâm nhập (khách tà) thì dùng thuốc trừ khử.
Dật giả hành chi (逸者行之): “Dật” là khí huyết nghịch loạn; Cần điều lý khí huyết, đưa về bình thường.
Lưu giả công chi (留者攻之): Tà khí đọng lại bên trong, phải dùng thuốc công trục.
Táo giả nhu chi (燥者濡之): Tân dịch khô táo thì dùng thuốc nhu nhuận, dưỡng tân dịch.
Cấp giả hoãn chi (急者缓之): “Cấp” chỉ co rút, co cứng, cấp bách; phải dùng thuốc giúp giãn cơ, để hoãn giải.
Tán giả thu chi (散者收之): Dùng thuốc thu nhiếp cố sáp để điều trị hội chứng không kiên cố thu liễm.
Lao giả ôn chi (劳者温之): Nếu hư lao, khí hư, nên phải dùng thuốc ôn bổ để điều dưỡng.
Kiên giả tước chi (坚者削之): Có khối rắn, ứ kết, phải dùng thuốc công phá (bỏ bớt).
Kết giả tán chi (结者散之): Khối kết tụ phải dùng cách giải tán.
Hạ giả cử chi (下者举之): “Hạ” là sa xuống, hạ hãm, cần bổ trung thăng đề cho nâng lên.
Cao giả ức chi (高者抑之): Nếu có hiện tượng ngược lên (cao xung), phải dùng phép hạ giáng, ức chế.
Kinh giả bình chi (惊者平之): Tâm thần hốt hoảng, kinh sợ thì dùng thuốc an thần, bình tâm.
Vi giả nghịch chi (微者逆之): “Vi” chỉ chứng rõ ràng mà tương đối nhẹ như hàn, nhiệt; “nghịch” là chính trị (trị theo hướng ngược lại tính chất bệnh). Tức bệnh tính nhẹ, biểu hiện phù hợp, dùng phép chữa chính diện.
Thậm giả tòng chi (甚者从之): “Thậm” là chứng phức tạp, khó phân biệt; “tòng” là tòng trị (dùng phép trị theo biểu hiện giả để công vào gốc). Gặp giả tượng, phải thuận theo bề ngoài để trị đúng bản chất, gọi là phép phản trị.
Khinh nhi dương chi (轻而扬之): Khi tà khí ở nông, bệnh tại biểu, có thể dùng phát hãn để giải biểu (phát tán ra ngoài).
Nhân kỳ trọng nhi giảm chi (因其重而减之): Trọng là bệnh kết ở bên trong (nội kết) thì dùng phép công hạ hoặc công pháp tương tự để trục bớt.
Nhân kỳ suy nhi chương chi (因其衰而彰之): “Suy” là tà sắp hết, chính khí chưa hồi; Phải phù chính, giúp chính vượng lên, tà sẽ tự lui.
Hình bất túc giả ôn chi dĩ khí (形不足者温之以气): Cơ thể yếu gầy do trung khí hư, dương khí thiếu, cần dùng thuốc ôn khí để bồi bổ trung khí, làm cơ nhục dần dần đầy đặn.
Tinh bất túc giả bổ chi vị (精不足者补之味): Tinh tủy hư hao, phải dùng mùi vị đậm đà (bổ âm, bổ tinh) để bồi dưỡng.
Kỳ cao giả nhân nhi việt chi (其高者因而越之): Những thứ ứ trệ ở trên cao như họng, ngực, dạ dày có thể dùng thổ pháp để đào thải ra ngoài.
Kỳ hạ giả dẫn nhi kiệt chi (其下者引而竭之): Tà ở bên dưới thì dùng phép thông tiểu – thông đại tiện để đẩy tà xuống dưới.
Trung mãn giả tả chi ư nội (中满者泻之于内): Bụng đầy trướng do khí ngăn ở trong, dùng cách hành khí, thông lý để hết tức trệ.
Đoạt huyết giả vô hãn, đoạt hãn giả vô huyết (夺血者无汗, 夺汗者无血): Huyết và hãn cùng một nguồn; đã mất máu nhiều thì không nên phát hãn, đã phát hãn nhiều thì không nên làm mất máu thêm.
Nhiệt vô phạm nhiệt (热无犯热): Nếu không có chứng hàn, mùa hè nóng cũng không nên tùy tiện dùng thuốc nhiệt, sợ hao tân dịch, dễ biến chứng.
Hàn vô phạm hàn (寒无犯寒): Nếu không có chứng nhiệt, mùa đông lạnh cũng không được dùng thuốc hàn bừa bãi, kẻo thương dương khí, sinh biến chứng.
Vô phạm vị khí (无犯胃气): Phải bảo vệ tỳ vị, vì tỳ vị là nguồn sinh hóa khí huyết; Dùng thuốc phải tránh tổn hại chức năng tỳ vị (vị khí).
Mộc uất đạt chi (木郁达之): Chứng can khí uất, phải sơ đạt can khí (thư can).
Hỏa uất phát chi (火郁发之): Nhiệt (hỏa) bế tắc bên trong, có thể phát (tạo đường thoát) cho nó ra ngoài.
Kim uất tiết chi (金郁泄之): Kim uất là phế khí bất lợi; dùng phép tuyên phế, thông thủy đạo để trị ho, khò khè, phù thũng.
Thổ uất đoạt chi (土郁夺之): Vận dụng phép trừ thấp, thông trung để trị thấp trệ tỳ vị.
Thủy uất chiết chi (水郁折之): Tăng cường tác dụng thận, đưa thủy khí ứ đọng ra ngoài.
Hư giả bổ kỳ mẫu (虚者补其母): Dựa ngũ hành mẫu tử, nếu tạng con bị hư thì bổ tạng mẹ (ví dụ Can hư thì bổ Thận).
Thực giả tả kỳ tử (实者泻其子): Ngược lại, nếu tạng mẹ quá thực thì tả tạng con (ví dụ Can mộc sinh Tâm hỏa, Can quá thực thì tả Tâm).
Bát pháp (八法): Chia dược vật thành tám loại tác dụng: Hãn, Thổ, Hạ, Hòa, Ôn, Thanh, Bổ, Tiêu.
Hãn pháp (汗法): Dùng thuốc phát hãn (ra mồ hôi) để giải biểu tà.
Tân ôn giải biểu (辛温解表): Dùng vị tân tính ôn, phát hãn mạnh, trị chứng biểu hàn.
Tân lương giải biểu (辛凉解表): Dùng vị tân tính lương (mát), phát hãn yếu hơn nhưng có tác dụng thanh nhiệt, trị biểu nhiệt.
Giải cơ (解肌): Trị ngoại cảm sơ khởi, còn ít mồ hôi, thường dùng để phát hãn nhẹ.
Sơ biểu (疏表): Tán giải tà ở biểu.
Sơ phong (疏风): Tán phong tà.
Thấu chẩn (透疹): Với sởi, ban… chưa lên hoặc lên không thông thoát, dùng tân lương giải biểu cho ban phát thuận.
Thấu ban (透斑): Nhiệt bệnh vào dinh huyết phận, gây phát ban ẩn, dùng phép thanh thấu ban độc.
Thấu tà (透邪): Giai đoạn đầu bệnh nhiệt, biểu hiện phong nhiệt, dùng tân lương giải biểu đuổi tà ra ngoài.
Thấu biểu (透表): Gồm các pháp thấu tà, thấu chẩn.
Tân khai khổ tiết (辛开苦泄): Dùng vị tân để phát tán, vị khổ để tả hạ (tiết).
Điều hòa doanh vệ (调和营卫): Chỉnh lại doanh khí – vệ khí bất hòa, trừ phong tà.
Khai quỷ môn (开鬼门): Phát hãn để mở cửa tà (quỷ môn) cho tà thoát ra.
Khinh thanh sơ giải (轻清疏解): Giải biểu nhẹ kết hợp trị ho hóa đàm, hợp cho cảm mạo phong hàn/ phong nhiệt nhẹ.
Dưỡng âm giải biểu (养阴解表): Dùng thuốc dưỡng âm phối giải biểu, trị người âm hư cảm mạo.
Ích khí giải biểu (益气解表): Dùng bổ khí kết hợp giải biểu, trị người khí hư cảm mạo.
Trợ dương giải biểu (助阳解表): Thêm trợ dương với giải biểu, trị ngoại cảm dương hư.
Dưỡng huyết giải biểu (养血解表): Bổ huyết kết hợp giải biểu, trị người âm huyết hư + cảm mạo.
Hóa ẩm giải biểu (化饮解表): Ôn hóa thủy ẩm kết hợp tân ôn giải biểu, trị chứng bên trong có thủy ẩm kết hợp với ngoại cảm phong hàn.
Biểu lý song giải (表里双解): Kết hợp giải biểu với tả hạ/thanh nhiệt/ôn lý, biểu lý đồng trị.
Tiết vệ thấu nhiệt (泄卫透热): Trong ôn bệnh, tà đã vào khí phận nhưng biểu bế tắc không ra mồ hôi, cần dùng thuốc tân lương, cho ra mồ hôi để thấu nhiệt.
Nghịch lưu vãn chu (逆流挽舟): Với lỵ tật do ngoại tà xâm nhập, dùng sơ tán biểu tà + tiêu tích bên trong, như kéo thuyền ngược dòng.
Thanh pháp (清法): Dùng hàn lương để trừ hỏa nhiệt, gồm thanh nhiệt, tả hỏa, lương huyết, khử thử, sinh tân, giải độc.
Thanh khí (清气): Dùng vị cay lạnh hoặc đắng lạnh để thanh nhiệt khí phận.
Tân hàn thanh khí (辛寒清气): Dùng thuốc cay lạnh để thanh nhiệt khí phận.
Khổ hàn thanh khí (苦寒清气): Dùng vị đắng tính hàn để thanh nhiệt khí phận.
Khinh tuyên phế khí (轻宣肺气): Dùng thuốc nhẹ để tuyên phế, tán nhiệt khí phế, tán biểu nhiệt.
Sinh tân (生津): Khi nhiệt làm hao tân dịch, dùng thuốc dưỡng dịch, vừa hạ nhiệt vừa sinh tân dịch.
Cam hàn sinh tân (甘寒生津): Dùng vị ngọt tính hàn trị vị nhiệt tổn thương tân dịch.
Tân hàn sinh tân (辛寒生津): Dùng vị cay tính hàn lãnh thanh vị hỏa, sinh tân dịch.
Ích khí sinh tân (益气生津): Bổ khí kèm sinh tân dịch, trị khí hư lẫn tân dịch hư (khí tân lưỡng hư).
Khổ hàn thanh nhiệt (苦寒清热): Dùng vị đắng tính hàn, trị hỏa nhiệt quá thịnh.
Thanh tiết thiếu dương (清泄少阳): Dùng phép thanh tiết trị bệnh ở bán biểu bán lý (thiếu dương).
Thanh nhiệt giải độc (清热解毒): Dùng thuốc thanh nhiệt giải độc các chứng nhiệt độc như sang, nhọt, phát ban.
Thanh nhiệt giải thử (清热解暑): Dùng thuốc thanh nhiệt trị chứng cảm nắng mùa hè.
Thanh doanh (清营): Phép trị khi bệnh tà vào doanh phận.
Thanh tâm (清心): Trị nhiệt tà phạm tâm bào.
Khí doanh lưỡng thanh (气营两清): Đồng thời thanh khí phận và thanh doanh phận khi nhiệt tà xâm nhập khí-doanh lưỡng phận.
Thấu doanh chuyển khí (透营转气): Dẫn nhiệt từ doanh lên khí rồi giải qua biểu.
Thanh doanh thấu chẩn (清营透疹): Thanh doanh kết hợp thấu chẩn để giúp ban chẩn mọc ra ngoài.
Lương huyết (凉血): Lương huyết tán ứ, thanh trừ nhiệt ở huyết phận.
Lương huyết giải độc (凉血解毒): Mát máu trị ôn dịch, giải nhiệt độc.
Hạ pháp (下法): Còn gọi tả hạ, công hạ, thông lý; Dùng thuốc có tính tẩy/nhuận hạ để thông đại tiện, tiêu tích, tẩy rửa thực nhiệt, công thủy ẩm.
Hàn hạ (寒下): Là phương pháp dùng thuốc tính hàn để tẩy hạ: Trị các chứng thuộc thực nhiệt như táo kết, ẩm thực tích trệ, thủy ẩm, tích thủy.
Ôn hạ (温下): Dùng thuốc tính ôn hoặc phối ôn với hàn tính tả hạ để tẩy hạ tích trệ chứng lý thực.
Nhuận hạ (润下): Dùng thuốc nhuận tràng trị táo bón do tổn háo tân dịch hoặc ở người già, hoặc do tập quán, đến phụ nữ có thai hoặc sau khi sanh.
Tăng dịch tả hạ (增液泻下): Phối hợp bổ tân dịch với thuốc hàn hạ khi nhiệt kết làm tổn háo tân dịch gây táo bón.
Công bổ kiêm thi (攻补兼施): Là bệnh tà thực và chính khí hư, vừa công tà vừa bổ chính, nếu chỉ dùng thuốc công hạ sẽ khiến chính khí dễ hư tổn, nếu đơn thuần dùng bổ dược thì dễ khiến tà khí ủng trệ, vì thế cần dùng phương pháp công bổ kiêm thi để trong công có bổ, trong bổ có công khiến tà khí bị trừ khứ mà chính khí không bị tổn hại.
Tiên công hậu bổ (先攻后补): Trước công trục tà, sau bổ chính khí, là thuật ngữ trị liệu học. Thường dùng trong trường hợp chính hư và bệnh thế khá cấp bách, cần công hạ bệnh chứng trước.
Tiên bổ hậu công (先补后攻): Là bệnh tật cần sử dụng phép công hạ, nhưng do bệnh nhân thể chất hư nhược, nhất thời chưa thể tiếp thụ phép công hạ, nên trước tiên dùng phép bổ khiến thể chất được tăng cường, sau đó sẽ dùng phép công hạ.
Thông phủ tiết nhiệt (通腑泄热): Thông đại tiện để tiết thực nhiệt bên trong ra.
Trục thủy (逐水): Dùng thuốc có tác dụng tả thủy mãnh liệt để trục thủy ẩm.
Khứ uẩn trần thác (去菀陈莝): Dùng thuốc tống khứ cặn bã uất kết từ lâu.
Đạo trệ thông phủ (导滞通腑): Phép tả hạ thông tích trệ, làm sạch tràng phủ.
Cấp hạ tồn âm (急下存阴): Nhiệt hại tân dịch, cần tẩy hạ gấp để trục thực nhiệt, giữ lại tân dịch.
Nhuyễn kiên trừ mãn (软坚除满): Dùng “hàm hàn tăng dịch” vị thuốc mặn lạnh tăng thêm tân dịch để nhuận táo, loãng khối táo kết, giải trừ chứng đầy trướng do đại tiện táo kết, đại tiện thông thì chứng trướng bụng tự hết.
Tuấn hạ (峻下): Là dùng thuốc có tác dụng tả hạ mãnh liệt như (đại hoàng, ba đậu, nguyên hoa, cam toại, đại kích, thương lịch, khiên ngưu, mang tiêu) để công hạ nhanh.
Hoãn hạ (缓下): Là phương pháp dùng thuốc có tính ôn hòa, nhuận hạ để thông đại tiện nhẹ nhàng.
Ngộ hạ (误下): Là dùng hạ pháp không đúng, gây biến chứng, gọi là ngộ hạ (hạ nhầm).
Hòa pháp (和法): Là dùng thuốc có tác dụng sơ thông điều hòa, hòa giải để đạt được mục đích trục tà trị bệnh.
Hòa giải thiếu dương (和解少阳): Thiếu dương chứng là bệnh tà ở bán biểu bán lý, dùng thang Tiểu Sài Hồ hòa giải thiếu dương, vừa trừ tà vừa phù chính.
Điều hòa can tỳ (调和肝脾): Là dùng Hòa pháp chữa chứng can khí phạm tỳ.
Điều hòa can vị (调和肝胃): Trị can khí phạm vị, vị khí bất hòa.
Khai đạt mạc nguyên (开达膜原): Khử uế trọc, khai thông mạc nguyên (giữa màng ngực – cơ hoành) công trừ bế tắc.
Khu thấp (祛湿): Dùng thuốc trừ thấp tà.
Táo thấp (燥湿): Trừ thấp ở trung tiêu.
Lợi thấp (利湿): Thông tiểu tiện để đưa thấp ra qua hạ tiêu.
Thanh nhiệt lợi thấp (清热利湿): Trị thấp nhiệt thuận lợi đi xuống.
Thanh thử lợi thấp (清暑利湿): Trị thử thấp mùa hạ.
Ôn dương lợi thấp (温阳利湿): Trị hàn thủy vây khốn dương khí (hóa khí lợi thủy).
Tư âm lợi thấp (滋阴利湿): Là phương pháp trị thấp nhiệt làm tổn thương âm, tiểu tiện không thuận lợi.
Đạm thấm lợi thấp (淡渗利湿): Dùng vị đạm để lợi thấp.
Ôn thận lợi thủy (温肾利水): Trị thận dương hư gây phù thủy.
Thấm thấp vu nhiệt hạ (渗湿于热下): Khi thấp nặng hơn nhiệt, phải lợi thấp để nhiệt thoát.
Lợi tiểu tiện, thực đại tiện (利小便, 实大便): Trị tiêu chảy do thấp; Khi lợi tiểu, phân đặc lại.
Khiết tịnh phủ (洁净府): Là lợi tiểu
Phương hương hóa trọc (芳香化浊): Dùng thuốc thơm để khử thấp trọc.
Kiện tỳ (健脾): Bổ tỳ khi tỳ khí hư, vận hóa suy yếu.
Vận tỳ (运脾): Dùng phương hương trừ thấp, giúp tỳ vận hóa.
Tỉnh tỳ (醒脾): Phương pháp trị tỳ khí hư hàn, vận hóa kém.
Bồi thổ (培土): Bồi bổ tỳ thổ, phục hồi công năng tỳ.
Kiện tỳ sơ can (健脾疏肝): Còn gọi bồi thổ bình mộc; Phương pháp trị can khí uất ảnh hưởng công năng vận hóa của tạng tỳ.
Bổ tỳ ích phế (补脾益肺): Còn gọi bồi thổ sinh kim; Thông qua ôn, khiến công năng tạng tỳ cường kiện, khôi phục bình thường, để điều trị bệnh chứng hư yếu của tạng phế.
Ôn bổ mệnh môn (温补命门): Còn gọi bổ hỏa sinh thổ; Là phương pháp ôn bổ mệnh môn hỏa để khôi phục công năng vận hóa của tạng tỳ.
Sơ can (疏肝): Lý khí sơ can, giải uất can. Là phương pháp sơ tán can khí uất kết.
Dưỡng huyết nhu can (养血柔肝): Là phương pháp trị can âm hư (can huyết bất túc).
Phạt can (伐肝): Khi can khí quá vượng phạm tỳ, dùng phép này để ức chế can khí, gọi là “Phạt can”.
Tư dưỡng can thận (滋养肝肾): Bổ thận âm để nhuận dưỡng can âm, trị pháp này thường dùng với hội chứng thận âm hư can và mộc vượng.
Tư âm sơ can (滋阴疏肝): Kết hợp tư âm với sơ tiết can, cho can khí hòa sướng, chủ yếu dùng trị can thận âm hư, khí trệ bất hành.
Tư âm bình can tiềm dương (滋阴平肝潜阳): Là phương pháp trị âm hư – can dương thượng kháng.
Thanh can tả hỏa (清肝泻火): Dùng thuốc khổ hàn (đắng lạnh) để trị chứng can hỏa thượng viêm.
Tá kim bình mộc (佐金平木): Túc phế (Phế nghiêm chỉnh) để ức chế can, khiến phế khí hạ khi can cũng được sơ tiết thông sướng.
Tư âm (滋阴): Còn gọi dưỡng âm, bổ âm, là phép trị âm hư.
Toan cam hóa âm (酸甘化阴): Dùng vị chua + vị ngọt để bổ âm.
Thanh lạc bảo âm (清络保阴): Là phương pháp thanh nhiệt ở phế lạc, bảo vệ phế âm.
Kiên âm (坚阴): Là phương pháp củng cố thận tinh, bình tướng hỏa.
Cường âm (强阴): Là tư bổ thận âm.
Liễm âm (敛阴): Là phương pháp thu liễm âm dịch khi âm dịch háo tán, mà xuất hiện chứng hậu bệnh tà suy thoái.
Tiềm dương (潜阳): Là phương pháp điều trị âm hư mà can dương thăng lên, khiến hư dương thu liễm.
Tiềm trấn (潜镇): Kết hợp trọng trấn an thần + tiềm dương, trị tâm thần bất an.
Tức phong (息风): Là phương pháp bình can tức phong. (trấn nội phong).
Tư âm tức phong (滋阴息风): Lấy tư âm làm chủ, trừ phong do âm hư.
Bình can tức phong (平肝息风): Là phương pháp trị chứng can dương thịnh gây phong nội động.
Tả hỏa tức phong (泻火息风): Là phương pháp trị thực nhiệt quá mức sinh phong.
Hòa huyết tức phong (和血息风): Là phương pháp trị nội phong thiên về huyết hư.
Giải kinh (解痉): Giảm run, co giật tay chân, co cứng kiểu uốn ván (giác cung phản trương).
Khư phong (祛风): Dùng thuốc tán phong tà lưu trệ trong kinh lạc, cơ thịt, khớp.
Khu phong trừ thấp (祛风除湿): Là phương pháp trị phong thấp xâm phạm kinh lạc và các khớp.
Sơ phong tiết nhiệt (疏风泄热): Là phương pháp trị ngoại cảm phong tà kèm lý nhiệt.
Khu phong dưỡng huyết (祛风养血): Là phương pháp trị phong thấp di chuyển trong kinh lạc.
Sưu phong trục hàn (搜风逐寒): Là phương pháp trị phong kèm hàn – thấp – đàm – ứ đọng kinh lạc.
Nhuận táo (润燥): Là phương pháp dùng thuốc tư nhuận trị chứng táo nhiệt.
Khinh tuyên nhuận táo (轻宣润燥): Là phương pháp trị ngoại cảm táo nhiệt thương phế.
Cam hàn tư nhuận (甘寒滋润): Là phương pháp trị phế thận tân dịch bất túc.
Thanh trường nhuận táo (清肠润燥): Là phương pháp trị đại tràng táo nhiệt gây táo bón.
Dưỡng âm nhuận táo (养阴润燥): Là phương pháp trị táo nhiệt tổn thương phế vị tân dịch.
Dưỡng huyết nhuận táo (养血润燥): Là phương pháp trị huyết hư táo bón.
Khổ ôn bình táo (苦温平燥): Là phương pháp trị chứng “lương táo” biểu chứng (cảm lạnh + táo).
Lý khí (理气): Là phương pháp dùng thuốc hành khí – giải uất hoặc bổ trung ích khí, trị khí trệ, khí nghịch, khí hư.
Sơ uất lý khí (疏郁理气): Là phương pháp trị khí trệ do tình chí uất ức.
Hòa vị lý khí (和胃理气): Là phương pháp trị đờm thấp ứ trệ ở trung quản (dạ dày).
Giáng nghịch hạ khí (降逆下气): Là phương pháp trị khí của phế, vị thượng nghịch.
Hành khí (行气): Hành tán khí trệ, trị bệnh do khí trệ.
Giáng khí (降气): Là phương pháp trị khí cơ thượng nghịch.
Điều khí (调气): Điều chỉnh khí trệ, khí nghịch, để khí vận hành bình thường.
Phá khí (破气): Dùng lý khí dược khá mãnh liệt như Thanh bì, Chỉ thực, để phá khí tán kết, trừ ứ trệ.
Khư đàm (祛痰): Là phương pháp dùng thuốc trừ đàm dịch hoặc khư trừ nguyên nhân bệnh.
Hóa đàm (化痰): Tùy nguyên nhân sinh đàm để chia thành 6 phép hóa đàm sau: “Tuyên phế hóa đàm” Thích hợp với chứng ngoại cảm phong hàn có nhiều đàm, “Thanh nhiệt hóa đàm” Thích hợp với đàm nhiệt, “Nhuận phế hóa đàm” Thích dụng với chứng Táo đàm, “Táo thấp hóa đàm” Thích hợp với chứng đàm thấp, “Trừ hàn hóa đàm” và “Trị phong hóa đàm” Thích dụng với chứng chóng mặt đau đầu do phong đàm..
Tiêu đàm (消痰): Là phương pháp công phạt đàm ứ trệ.
Khu trùng (驱虫): Là phương pháp dùng thuốc có tác dụng diệt ký sinh trùng, trị bệnh giun sán…
Nhất nghịch (一逆): Chỉ việc điều trị sai lầm lần thứ nhất.
Tái nghịch (再逆): Sai lầm lần thứ hai.
Tiểu nghịch (小逆): Sai lầm điều trị ở mức độ nhẹ.
Hỏa nghịch (火逆): Do lạm dụng châm cứu, hơ lửa, cứu, dẫn đến biến chứng gọi “hỏa nghịch”.
Đính (顶): Chỉ thuốc tính hướng lên, thường gây nôn (thuốc gây thổ).
Xuyên (串): Chỉ thuốc hướng xuống, gây tả (công hạ).
Tiệt (截): “Tiệt” là dứt, làm cho bệnh ngừng phát tác.
PHẦN THỨ HAI (第二节): NGOẠI TRỊ (外治)
Ngoại trị (外治): Một nhóm phương pháp dùng thuốc, thao tác, hoặc dụng cụ tác động lên bề mặt cơ thể… để trị bệnh.
Phu (敷): Dùng dược liệu tán nhuyễn hay giã, thêm rượu, mật, giấm… rồi đắp lên da vùng bệnh, thay thuốc đều đặn.
Yểm (罨, yǎn): “Yểm” nghĩa là “che đậy”. Gồm hai loại:
Uất pháp (熨法): Dùng dược liệu (dạng bột/ hạt) sao nóng, bọc vải để chườm, trị phong hàn thấp tý, đau lạnh bụng… (gọi “dược uất”).
Huân chưng(熏蒸): Xông hơi: Đốt thuốc sinh khói, hoặc nấu sôi bốc hơi để xông bệnh nhân, thường trị lác da, bệnh ngoài da…
Hấp nhập (吸入): Hít khói hoặc hơi thuốc để trị bệnh.
Nhiệt hồng (热烘): Bôi thuốc ở chỗ đau rồi hơ lửa nóng.
Lạc (烙): Dùng vật sắt nung đỏ ấn vào vùng bệnh, gọi “lạc pháp”.
Dục (浴): Nấu thuốc thành thang, rửa hoặc ngâm tắm, áp dụng cả thân người bệnh hay cục bộ.
Phát bào (发泡): Dùng thuốc gây kích thích da sinh nốt phỏng, giúp trị bệnh (một số bệnh ngoài da).
Cao ma (膏摩): Xoa bóp với cao dược tại chỗ.
Xuy tỵ (吹鼻): Thuốc tán mịn, bệnh nhân tự hít, hoặc người khác thổi vào mũi.
Hàm thấu (含漱): Súc miệng bằng dược thang, trị bệnh họng miệng.
Xuy dược (吹药): Dùng ống thổi thuốc bột vào miệng, họng, v.v…
Phốc phấn (扑粉): Thuốc tán mịn, rắc lên da.
Đạo pháp (导法): Truyền thuốc lỏng vào ruột (thụt) hoặc đặt thuốc đạn trị táo bón…
Mật tiễn đạo pháp (蜜煎导法): Dùng mật ong nấu đặc, vê thành thoi dài nhét vào hậu môn.
Trư đởm chấp đạo pháp (猪胆汁导法): Dùng mật lợn + giấm, bơm vào hậu môn.
Tắc pháp (塞法): Gói bột thuốc bằng bông/gạc, hay viên trứng đặt vào mũi, âm đạo, hậu môn…
Khô trĩ pháp (枯痔法): Dùng thuốc làm cho búi trĩ khô, hoại tử và rụng.
Quải tuyến pháp (挂线法): Dùng dây tẩm thuốc buộc lỗ rò hậu môn, dựa lực siết khiến tổ chức hoại tử, cắt đứt đường rò. Cũng dùng cho rò do mụn nhọt.
Kết trát pháp (结扎法): Dùng dây buộc chặt phần mô muốn cắt (mụn, trĩ…), khiến hoại tử, rụng.
Dược tuyến dẫn lưu (药线引流): Dùng giấy bện hoặc bông tẩm thuốc quấn thành “chỉ tẩm thuốc” cắm vào lỗ loét, dẫn lưu mủ.
Cô khẩu dược (箍口药): Thuốc bùn ướt đắp vòng quanh vùng mụn mủ, giúp mủ tụ lại dễ vỡ.
Sấm dược (掺药): Thuốc bột rắc tại chỗ, thường bôi nơi trung tâm cao dán (cao thuốc).
Tháp dược (插药): Nhét sợi thuốc (bột + hồ, se thành dây) vào ổ loét sâu hoặc mô chết có tác dụng ăn mòn, dùng cho phần da thịt đã chết không có cảm giác đau ngứa.
Cao dược (膏药): Băng dán da chứa nhiều thành phần dược, trị bệnh ngoài da, khớp, cơ…
Linh dược (灵药): Gọi chung các chế phẩm kim – thạch sau khi nung luyện (thăng đan, giáng đan…).
Niết tích (捏脊): Phép chữa cho trẻ em (tiêu hóa kém…) bằng cách dùng ngón tay vừa bóp vừa đẩy da dọc cột sống, làm 3~5 lượt.
Đạo dẫn (导引): Tập vận động tứ chi, phối hợp hơi thở để phòng bệnh, rèn sức.
Khí công (气功): Phép rèn luyện thân tâm qua hô hấp, vận động, ý niệm để khỏe mạnh, phòng bệnh, kéo dài tuổi thọ.
PHẦN THỨ BA (第三节): PHƯƠNG DƯỢC (方药)
Phương (方): Tức “phương tễ (方剂)”, phối nhiều vị thuốc thành công thức điều trị, bào chế thành dạng dùng (tễ hình) áp dụng lâm sàng.
Quân – Thần – Tá – Sứ (君臣佐使): Nguyên tắc phối hợp dược vị trong phương tễ:
Quân dược (君药): Thuốc chủ đạo trị chính bệnh – chính chứng, có thể 1 vị hoặc vài vị.
Thần dược (臣药): Hỗ trợ quân dược tăng tác dụng trị chính.
Tá dược (佐药): Là thuốc hiệp trợ chủ dược điều trị các kiêm chứng đồng thời hoặc ức chế độc tính và các đặc tính khắc nghiệt của chủ dược, hoặc là thuốc đối kháng. Được chia thành thuốc tá trợ, thuốc tá chế và thuốc phản tá chế. Thuốc tá trợ là thuốc hiệp trợ với quân và thần dược để tăng cường tác dụng điều trị hoặc điều trị trực tiếp các triệu chứng thứ yếu; Thuốc tá chế là thuốc có tác dụng hạn chế tính chất khắc nghiệt của quân và thần dược, hoặc làm giảm hoặc loại trừ độc tính chúng (quân và thần dược); Phản tá dược, là căn cứ vào một vài nhu cầu của bệnh chứng, phối ngẫu một lượng nhỏ tính vị của quân dược, hoặccos tác dụng đối nghịch với thuốc chính, nhưng lại có thể là những vị thuốc có tác dụng tương thành trong trị liệu.
Sứ dược (使药): Dẫn thuốc thẳng đến nơi bệnh hoặc điều hòa các vị trong phương.
Thất phương (七方): Phân loại theo cấu trúc phương: Đại phương, Tiểu phương, Hoãn phương, Cấp phương, Kỳ phương, Ngẫu phương, Phục phương.
Đại phương (大方): Trị tà khí mạnh, bệnh kèm nhiều triệu chứng. Đặc điểm: Dược lực mạnh, nhiều vị, lượng lớn, uống 1 lần hết, trị bệnh nặng ở hạ tiêu.
Tiểu phương (小方): Trị tà khí nhẹ, bệnh ít kiêm chứng. Thuốc vị ít, lực nhẹ, thường trị bệnh ở thượng tiêu.
Hoãn phương (缓方): Trị bệnh mạn tính, hư nhược. Gồm 6 đặc điểm: Nhiều vị, các vị thuốc chế ước nhau, không có vị nào có tác dụng trực tiếp; Dùng các vị thuốc vô độc để điều trị bệnh, khiến bệnh tà được dần dần trừ khứ, tránh tổn thương chính khí, thêm thuốc có vị ngọt, để dùng dược tính hòa hoãn vị ngọt làm giảm nhẹ tác dụng mãnh liệt thuốc; Dùng thuốc hoàn để chậm rãi công trục tà khí; Dùngthuoosc hòa hoãn để trị căn bản, tăng thêm lực đề kháng bệnh của cơ thể và như vậy bệnh sẽ tự nhiên được khứ trừ.
Cấp phương (急方): Trị bệnh nguy cấp nặng. Cấp phương có 4 đặc điểm sau: Thế bệnh nguy cấp, cần nhanh chóng cứu trị; Dùng thang dược tẩy rửa có tác dụng khá nhanh; Tính dược kịch liệt, khí vị đều rất hùng hậu, Là phương nhanh chóng trị triệu chứng (tiêu chứng)
.
Kỳ phương (奇方): Số vị trong phương là số lẻ, thường có hai đặc điểm: Chỉ có một loại vị thuốc, hai là dùng 1 vị hoặc nhiều vị (đều lẻ).
Ngẫu phương (偶方): Số vị trong phương là số chẵn (2 vị trở lên). Gồm hai loại thảo dược.
Phục phương (复方): Hợp 2 hay nhiều phương, như “Sài hồ tứ vật thang” (Tiểu sài hồ thang + Tứ vật thang: Sài hồ Hoàng cầm Bán hạ Đảng sâm Cam thảo Đại táo Sinh khương Xuyên khung Đương quy Bạch thược Thục địa). Trị liệu chứng hư lao lâu ngày, ớn lạnh phát sốt nhẹ, mạch trầm sác.
Khinh phương và Trọng phương (轻方与重方): Chỉ phương lẻ (kỳ, ngẫu) ít vị là “khinh” so với phương dùng nhiều vị – liều cao là “trọng”.
Kiêm phương (兼方): Phối nhiều loại thuốc có tác dụng khác nhau trong 1 phương, như dùng hàn dược trị nhiệt chứng, đồng thời dùng ôn dược trị hàn chứng…
Đơn phương (单方): Phương đơn giản, không quá 1, 2 vị, thích ứng không quá 1, 2 chứng, dược lực chuyên nhất để nhanh chong thu được hiệu quả.
Kinh phương (经方): Là các phương ghi trong “Tố Vấn”, “Linh Khu” và phương của Trương Trọng Cảnh trong “Thương Hàn Luận”, “Kim Quỹ Yếu Lược”.
Thời phương (时方): Chỉ phương của các y gia sau thời Trương Trọng Cảnh.
Cấm phương (禁方): Tức “bí phương”, không truyền rộng.
Thập tễ (十剂): Phân loại dựa công năng phương: Tuyên tễ, Thông tễ, Bổ tễ, Tả tễ, Khinh tễ, Trọng tễ, Hoạt tễ, Sáp tễ, Táo tễ, Thấp tễ. (Một số tài liệu còn thêm “hàn tễ, nhiệt tễ, thăng tễ, giáng tễ”…)
Tuyên tễ (宣剂): Mở bế tắc, tán uất, thường dùng thuốc tuyên mở.
Thông tễ (通剂): Gồm thuốc thông lợi khí huyết.
Bổ tễ (补剂): Có tác dụng bổ ích.
Tả tễ (泻剂): Có tác dụng giáng tả, tẩy.
Khinh tễ (轻剂): Thuốc nhẹ, thanh tán giải biểu.
Trọng tễ (重剂): Thuốc trọng trấn, tiềm giáng (như từ thạch, chu sa…)
Hoạt tễ (滑剂): Thuốc có tác dụng thông lợi, nhuận hạ.
Sáp tễ (涩剂): Thuốc chua sáp, cố sáp, trị rò rỉ, hao tán (mồ hôi, di hoạt tinh…).
Táo tễ (燥剂): Thuốc có tác dụng táo thấp.
Thấp tễ (湿剂): Thuốc có tác dụng nhu nhuận, bổ tân dịch.
Hàn tễ (寒剂): Thuốc hàn trừ nhiệt.
Nhiệt tễ (热剂): Thuốc ôn nhiệt trừ hàn.
Thăng tễ (升剂): Dùng thuốc thăng đề, trị khí hạ hãm.
Giáng tễ (降剂): Thuốc giáng ức trị chứng khí nghịch.
Thất tình (七情): Bảy quan hệ phối dược: Đơn hành, Tương sử, Tương tu, Tương úy, Tương sát, Tương ác, Tương phản.
Đơn hành (单行): Một vị thuốc dùng riêng, không cần phối (Nhân sâm).
Tương tu (相须): Hai vị tính vị gần nhau, hợp lại tăng hiệu quả (Ma hoàng – Quế chi).
Tương sử (相使): Dùng hai vị có công năng tương đồng, trong đó một vị là chủ, vị kia là phụ, giúp nâng tác dụng chủ (Hoàng kỳ Phục linh).
Tương úy (相畏): Một vị thuốc có thể giảm độc/tác dụng phụ của vị kia (Bán hạ Sinh khương).
Thập bát phản (十八反): 18 cặp thuốc phối nhau sinh độc, gồm: Cam thảo phản Đại kích, Nguyên hoa, Cam toại, Hải tảo; Ô đầu phản Bối mẫu, Qua lâu, Bán hạ, Bạch liễm, Bạch cập; Lê lô phản Nhân sâm, Đan sâm, Sa sâm, Khổ sâm, Huyền sâm, Tế tân, Thược dược.
Thập cửu úy (十九畏): Loại cấm kỵ trong phối ngũ. Ví dụ: Lưu hoàng kỵ Phác tiêu, Thủy ngân kỵ Thạch tín, Lang độc kỵ Mật đà tăng, Ba đậu kỵ Khiên ngưu… v.v.
Dẫn kinh báo sứ (引经报使): Một số thuốc có vai trò “dẫn đường” cho các thuốc khác đến đúng bộ phận bệnh, như sứ giả (Cát cánh dẫn dược đến cổ họng, Ngưu tất dẫn dược hạ hành (đi xuống).
Tễ (剂): Dạng thuốc sau khi phối phương, dựa tính chất và bệnh mà bào chế hình thái. Có nhiều dạng: Thang (汤), Tửu (酒), Hoàn (丸), Tán (散), Cao (膏), Đan (丹), Đĩnh (锭), Phiến (片), Lộ (露), Sương (霜), Giao (胶), Trà (茶), Khúc (曲)…
Thang dịch (汤液): Nay gọi “Thang tễ (汤剂)”, là dạng nấu sôi thuốc với nước, lọc bã lấy nước uống. Hấp thu nhanh, tác dụng mau, dùng cho bệnh mới, cấp.
Tiễn (煎): Đun sôi dược vật với nước.
Ẩm (饮): Thang thuốc để nguội rồi uống, gọi “ẩm”.
Tửu tễ (酒剂): Ngâm/ chưng cất dược với rượu, lấy dịch trong (cồn thuốc).
Hoàn (丸): Tán mịn dược, trộn với mật, nước, hồ, cốt… vo thành viên. Tiện dùng, hấp thu chậm, duy trì lâu.
Tán (散): Gồm tán uống trong, tán dùng ngoài. Tán uống thì dược tán bột mịn hay thô. Thô thì nấu, mịn thì hòa nước (nước trắng, trà, cháo, rượu…). Tán ngoài cực mịn, trộn rượu, giấm, mật… đắp da.
Chử tán (煮散): Dạng thô mạt, đun lên lọc bã uống.
Cao (膏): Có nội cao và ngoại cao. Nội cao: Thuốc nấu nhiều lần, bỏ bã, thêm đường, mật cô đặc thành siro, trị mạn tính, suy nhược. Ngoại cao (cao dán): nấu dầu, sáp, cho bột dược vào, dán ngoài da trị sang chàm…
Đan (丹): Thường chứa khoáng như Hg, S… nung luyện chế thành hợp chất.
Đĩnh (锭): Dược tán mịn, làm viên cứng hình thoi, khối… Uống thì tán nhỏ pha nước, bôi ngoài thì tán với giấm, dầu…
Lộ (露): Chưng cất dược lấy nước cất, như Kim ngân hoa lộ… Dễ hỏng, phải dùng sớm.
Giao (胶): Da, xương, mai động vật nấu kỹ cô đặc thành khối cứng, thường bổ dưỡng.
Trà (茶): Dược cắt thô, nén tảng, hãm nước sôi uống như trà (ví dụ Ngũ cốc trà, Ngọ vị trà…).
Khúc (曲): Trộn dược bột với bột gạo, làm bánh, ủ men, tạo thành “khúc”, giúp vào tỳ vị tiêu hóa.
Xung phục tễ (冲服剂): Dạng cốm (cao đặc + đường, chất điều vị…), khi uống pha nước sôi.
Hợp tễ (合剂): Từ 2 vị thuốc trở lên, sau khi nấu cô đặc thành thể lỏng, hay tách chiết dược chất, hòa tan trong nước, làm thuốc nước.
Bản thảo (本草): Danh từ cổ chỉ trung dược, hoặc sách viết về dược, hoặc môn học dược cổ truyền.
Thảo dược (草药): Thuốc dân gian, chưa được tiêu chuẩn hóa chế biến; hoặc vị thuốc chưa ghi rõ trong bản thảo kinh điển.
Trung thảo dược (中草药): Thuốc Đông y gồm thực vật, động vật, khoáng vật, đa số là thực vật nên gọi chung “trung thảo dược”.
Tứ khí (四气): Thuốc có bốn thuộc tính: Hàn, nhiệt, ôn, lương, thể hiện đặc điểm tác dụng.
Ngũ vị (五味): Thuốc có năm vị chính: tân, cam, toan, khổ, hàm (cay, ngọt, chua, đắng, mặn). Vừa là quy luật tác dụng, vừa là phản ánh vị thật của một số dược vật.
Tính vị (性味): Gồm Tứ khí + Ngũ vị.
Thăng giáng phù trầm (升降浮沉): Bốn hướng quy nạp tác dụng của thuốc. “Thăng” lên trên, “giáng” xuống, “phù” phát tán hướng ngoài, “trầm” thu liễm vào trong hoặc đi xuống.
Tính năng (性能): Chỉ tính chất tổng quát của thuốc: Tứ khí, ngũ vị, quy kinh, thăng – giáng – phù – trầm, bổ – tả…
Quy kinh (归经): Thuốc quy về kinh lạc, tạng phủ nào, có tính định hướng tác dụng.
Ngũ sắc ngũ vị sở nhập (五色五味所入): Cách cổ nhân liên hệ màu sắc, mùi vị với ngũ hành, tạng phủ.
Khí vị âm dương (气味阴阳): Phân loại tứ khí, ngũ vị, thăng giáng phù trầm theo âm dương. Như “tân cam phát tán vi dương”, “toan khổ dũng tả vi âm”…
Tân cam phát tán vi dương (辛甘发散为阳): Thuốc vị cay, ngọt, tính phát tán, thuộc dương.
Toan khổ dũng tiết vi âm (酸苦涌泄为阴): Vị chua, đắng, kích thích nôn/ tả, thuộc âm.
Hàm vị dũng tiết vi âm (咸味涌泄为阴): Vị mặn, gây nôn, tả, cũng thuộc âm.
Đạm vị thẩm tiết vi dương (淡味渗泄为阳): Vị đạm giúp lợi thủy, thẩm thấp, thuộc dương.
Toan hàm vô thăng, cam tân vô giáng (酸咸无升、甘辛无降): Cổ nhân cho rằng vị chua, mặn hướng vào trong, xuống dưới, không “thăng”; còn vị ngọt, cay hướng lên, phát tán, không “giáng”.
Hàn vô phù, nhiệt vô trầm (寒无浮、热无沉): Thuốc tính hàn hướng vào – xuống, không nổi; còn tính nhiệt hướng ra – lên, không chìm.
Ngũ tẩu (五走): Nói năm vị thuốc quy ngũ tạng khác nhau: chua vào can, đắng vào tâm, ngọt vào tỳ, cay vào phế, mặn vào thận – xương.
Ngũ cốc (五谷): Gồm các loại ngũ cốc chính (đạo, thử, tắc, mạch, thục…), gồm các lúa và đậunói chung là lương thực.
Ngũ nghi (五宜): Chỉ năm loại lương thực, thịt, hoa quả, rau… thích hợp chữa bệnh ngũ tạng.
Thực liệu (食疗): Dùng thực phẩm để trị bệnh hoặc điều dưỡng, còn gọi “thực trị”( 食治).
Tam phẩm (三品): Cách cổ xưa phân loại thuốc thành ba hạng:
Đại độc, Thường độc, Tiểu độc, Vô độc (大毒、常毒、小毒、无毒): Phân cấp độc tính thuốc. “Đại độc” rất độc, “thường độc” khá độc, “tiểu độc” độc ít, “vô độc” gần như không độc.
Tiễn dược (煎药): Nấu thuốc với nước trong thời gian nhất định, lọc bã lấy nước.
Tiên tiễn (先煎): Một số dược cần nấu trước, như loại cứng (vỏ sò, khoáng vật…) khó ra hoạt chất, nấu 10~20 phút rồi cho các vị khác. Hoặc loại lẫn nhiều tạp chất (cát đất) phải nấu lọc trước (như táo tâm thổ…). Hoặc loại “chất nhẹ, cồng kềnh” như lô căn, mao căn, trúc nhự, phải nấu riêng rồi lấy nước trong để nấu thuốc chính.
Hậu hạ (后下): Có vị mất hoạt chất khi đun lâu (tinh dầu), nên cho vào sau, đun 4~5 phút. Ví dụ: Bạc hà, Sa nhân, Trầm hương, Đại hoàng.
Dương hóa (烊化): Loại có chất keo dính (A giao, Lộc giác giao, Mật ong, Kê huyết đằng…) phải đun chảy riêng rồi đổ vào thang đã nấu xong, tránh dính nồi, làm mất hiệu lực
Bao tiễn (包煎): Thuốc dễ làm đục nước, kích thích họng dạ dày (như Xích thạch chi, Hoạt thạch, Toàn yết, Bồng sa…) cần gói vải nấu.
Lánh đốn (另炖): Thuốc quý (Nhân sâm, Linh dương giác…), sợ hỏng dược tính, nên cắt lát, hấp cách thủy 2~3 giờ, lấy nước thuốc uống riêng hoặc trộn với nước thang khác.
Xung phục (冲服): Trộn bột thuốc vào nước hoặc nước thuốc, khuấy uống.
Điều phục (调服): Như một số vị (tê giác, linh dương giác, ngưu hoàng, chu sa…), phải tán bột mịn, sau khi nấu các dược khác xong mới hòa bột vào ít nước thuốc mà uống, rồi uống phần còn lại.
Tống phục (送服): Khi uống hoàn tễ cần dùng nước (hoặc dược thang) để nuốt.
Hàm hóa (噙化): Ngậm viên hay băng dược trong miệng, để tan dần.
Thực viễn phục (食远服): Uống thuốc cách xa bữa ăn.
Không phúc phục (空腹服): Uống sáng sớm khi chưa ăn.
Phạn tiền phục (饭前服): Uống trước ăn ~30 phút.
Phạn hậu phục (饭后服): Uống sau ăn, thường với thuốc dễ kích thích dạ dày.
Lâm thụy tiền phục (临睡前服): Bệnh vùng ngực, phổi, ngực sườn… có thể uống trước khi ngủ.
Vị phát bệnh tiền phục (未发病前服): Như trị sốt rét, uống trước cơn.
Đốn phục (顿服): Uống một lần hết liều trong ngày, để tăng hiệu quả.
Tần phục (频服): Uống thuốc nhiều lần/ ngày, chia nhỏ.
Ôn phục (温服): Uống khi thuốc còn ấm.
Nhiệt phục (热服): Uống lúc thuốc còn nóng.
Lãnh phục (冷服): Uống sau khi để nguội.
Kỵ khẩu (忌口): Vì yêu cầu trị liệu, bệnh nhân phải kiêng một số thực phẩm.
Pháo chế (炮制): Theo lý luận y học cổ truyền, nhằm đáp ứng các yêu cầu chữa bệnh, điều chế, bào chế, bảo quản… mà xử lý dược liệu thành dược phiến.
Pháo chích (炮炙): Tên cũ của phương pháp “bào chế”.
Tu trị (修治), Tu sự (修事): Đều là tên gọi việc “bào chế” cổ.
Trị tước (治削): Dùng tay hay dao lọc, bỏ tạp chất, phần không dùng.
Thiêu giản (挑拣): Lựa bỏ phần không dùng, giữ phần dùng. Như tách cuống ra khỏi tang phiêu tiêu, rút lõi khỏi mẫu đơn bì…
Điên bá (颠簸): Dùng lồng, nia, rổ, lắc để loại sỏi, cát, bụi…
Sàng (筛): Dùng sàng, rây cỡ khác nhau để phân loại kích cỡ hoặc loại tạp.
Loát (刷): Dùng bàn chải/ cọ để quét lông, bụi trên dược.
Quát (刮): Dùng dao kim loại hay sừng cạo bỏ vỏ thô, ví dụ quế nhục, hậu phác…
Đào (捣): Dùng chày cối giã nát hoặc tách vỏ.
Niễn (碾): Dùng cối xay, nghiền thành bột.
Bạng (镑): Dùng dao khoét đặc chế xẻ mỏng sừng tê, sừng linh dương…
Thiết (切): Phương pháp thông dụng nhất, cắt nhỏ, thái lát, khúc, miếng, sợi…
Tẩy (洗): Rửa sạch đất cát, bụi, tạp.
Phiêu (漂): Ngâm thay nước liên tục để khử độc, mùi tanh… (như qua lâu, phụ tử…).
Phao (泡): Ngâm nước cho mềm dược, dễ cắt.
Thủy phi (水飞): Dùng cối giã bột mịn, rồi thêm nước quấy lắng, tách lấy bột siêu mịn.
Pháo (炮): Bỏ dược vào chảo gang lửa lớn đảo đến vàng giòn, nứt ra.
Ôi (煨): Gói giấy ướt hoặc bột hồ, vùi vào tro nóng, đợi cháy sém.
Sao (炒): Làm khô, cho thuốc vào trong chảo nóng, luôn đảo:
Vi sao (微炒): Sao nhẹ, bề mặt hơi khô. Vị thuốc không thay đổi rõ rệt
Sao bạo (炒爆): Sao đến khi nổ, nứt.
Sao hoàng (炒黄): Sao đến vàng nhẹ, có hương thơm.
Sao tiêu (炒焦): Sao đến vỏ ngoài nâu xẫm, trong vàng sậm.
Sao thán (炒炭): Sao đen (cháy) bề ngoài, bên trong nâu, gọi “thán”.
Hồng bồi (烘焙): Dùng lửa nhỏ sấy khô:
Hồng (烘): Đưa thuốc vào lò sấy, không để cháy.
Bồi (焙): Để thuốc trên ngói sạch hay chảo, lửa thấp, làm khô.
Chích (炙): Dùng thêm phụ liệu lỏng để sao chung, còn gọi “hợp sao”.
Tửu chích (酒炙): Dùng rượu vàng (thi thoảng rượu trắng). Hoặc sao khô xong mới xịt rượu.
Thố chích (醋炙): Tẩm giấm vào thuốc rồi sao.
Diêm chích (盐炙): Hòa muối trong nước, rồi sao với thuốc.
Khương chích (姜炙): Tẩm nước gừng vào thuốc rồi sao.
Mật chích (蜜炙): Tẩm mật ong vào thuốc rồi sao (như cam thảo, tỳ bà diệp…).
Mễ cam thủy chích (米泔水炙): Dùng nước vo gạo, ngâm rồi sao.
Dương chi chích (羊脂炙): Dùng mỡ dê sao thuốc.
Đồng tiện chích (童便炙): Tẩm nước tiểu trẻ con rồi sao.
Miết huyết chích (鳖血炙): Trộn với huyết ba ba rồi sao.
Phàn chích (矾炙): Hòa phèn với nước, tẩm vào thuốc rồi sao.
Thiêu tồn tính (烧存性): Đốt dược đến ngoài đen, trong vàng sậm, một phần cháy carbon, phần còn mùi vị gốc (tồn tính).
Khứ hỏa độc (去火毒): Loại bỏ “hỏa độc” trong cao. Cao nóng mới nấu xong dán ngay dễ rộp, loét da, nên phải nhúng nước lạnh mấy hôm.
Chưng (蒸): Hấp chín vị thuốc để bào chế, như hấp vị hà thủ ô.
Chưng lộ (蒸露): Dùng kỹ thuật chưng cất lấy “nước thuốc”, như kim ngân hoa lộ, hương nhu lộ…
Đốn (炖): Bỏ thuốc và phụ liệu vào hũ kín, đun cách thủy, như “tửu đốn địa hoàng”.
Chử (煮): Nấu thuốc với nước hoặc dịch thể để thanh lọc hoặc giảm độc.
Thuế (淬): Nung đỏ dược (khoáng, kim loại) rồi nhúng vào nước/giấm… Nhiều lần, còn gọi “đoạn thuế (煅淬)”.
Ví dụ: Nam châm thạch, đại giả thạch, tự nhiên đồng…
Ngao(熬): Nấu nhỏ lửa, chậm rãi.
Khứ dầu (去油): Giảm bớt tính nóng hoặc độc. Như quấn giấy hút dầu (ba đậu), hoặc sao (nhũ hương, một dược)…
Chế sương (制霜): Loại bột sau khi ép dầu khỏi hạt (tô tử sương, hạnh nhân sương…). Loại kết tinh tách ra (thị sương).Hoặc xương sau nấu keo (lộc giác sương).
Chế nhung (制绒): Đập sợi (gân, lông) thành sợi bông, dễ bắt lửa.
Chế tế (制细): Nghiền dược cực mịn, như tán để chấm vào mắt, tán để thổi vào hầu họng…
Bái (擘): Lấy tay bẻ vụn dược trước nấu, giúp dễ tiết ra chất thuốc.
Dược phiến (饮片): Dược liệu đã sơ chế, cắt lát, sợi, miếng… để thuận tiện đem sắc thuốc.
Đẳng phân (等分): Mỗi vị thuốc có cùng trọng lượng.
Văn hỏa (文火): Lửa nhỏ, chậm (tiểu hỏa).
Võ hỏa (武火): Lửa to, mạnh (đại hỏa). Khi nấu thuốc tùy yêu cầu mà dùng văn hay võ hỏa/
Mễ cam thủy (米泔水): Nước vo gạo, dùng để bào chế.
Cam lan thủy (甘澜水): Nước được múc lên đổ xuống nhiều lần, nổi bọt li ti, cổ nhân cho thế là “khí hóa tốt”.
Âm dương thủy (阴阳水): Nửa nước sôi, nửa nước nguội trộn, dùng điều hòa thuốc hay làm dẫn dược.
Lương y Nguyễn Nghị dịch
Top of Form