Tiết một: Kinh lạc (经络)
Kinh lạc (经络) là tên gọi chung của kinh mạch (经脉) và lạc mạch (络脉) trong cơ thể người. Đây là con đường vận hành khí huyết toàn thân, liên hệ giữa tạng phủ và các chi thể, thông suốt trên dưới trong ngoài, điều hòa các bộ phận bên trong cơ thể.
Kinh mạch (经脉) là trục đường chính vận hành khí huyết, nối liền các bộ phận trong cơ thể. Kinh mạch được chia thành hai loại là “chính kinh (正经)” và “kỳ kinh (奇经)”, cùng cấu thành hệ thống kinh mạch.
Chính kinh (正经) tức mười hai kinh mạch (十二经脉), là đường vận hành khí huyết chủ yếu trong cơ thể, bao gồm:
Thủ thái âm phế kinh (手太阴肺经) Thủ dương minh đại trường kinh (手阳明大肠经) Túc dương minh vị kinh (足阳明胃经) Túc thái âm tỳ kinh (足太阴脾经)
Thủ thiếu âm tâm kinh (手少阴心经) Thủ thái dương tiểu trường kinh (手太阳小肠经) Túc thái dương bàng quang kinh (足太阳膀胱经) Túc thiếu âm thận kinh (足少阴肾经) Thủ quyết âm tâm bào kinh (手厥阴心包经) Thủ thiếu dương tam tiêu kinh (手少阳三焦经) Túc thiếu dương đởm kinh (足少阳胆经) Túc quyết âm can kinh (足厥阴肝经)
Kỳ kinh (奇经) là cách gọi tắt của kỳ kinh bát mạch (奇经八脉), bao gồm: Nhâm mạch (任脉), Đốc mạch (督脉), Xung mạch (冲脉), Đới mạch (带脉), Dương duy mạch (阳维脉), Âm duy mạch (阴维脉), Dương kiều mạch (阳跷脉), Âm kiều mạch (阴跷脉).
Thập tứ kinh (十四经) tức là mười hai chính kinh (十二经) cộng với hai mạch là Nhâm mạch (任脉) và Đốc mạch (督脉).
Thủ tam âm kinh (手三阴经) bao gồm Thủ thái âm phế kinh (手太阴肺经), Thủ thiếu âm tâm kinh (手少阴心经), Thủ quyết âm tâm bào kinh (手厥阴心包经). Chúng đều đi từ ngực qua mặt trong tay và kết thúc ở tay.
Thủ tam dương kinh (手三阳经) bao gồm Thủ dương minh đại trường kinh (手阳明大肠经), Thủ thái dương tiểu trường kinh (手太阳小肠经), Thủ thiếu dương tam tiêu kinh (手少阳三焦经). Chúng đi từ tay qua mặt ngoài tay lên đầu.
Túc tam dương kinh (足三阳经) bao gồm Túc dương minh vị kinh (足阳明胃经), Túc thái dương bàng quang kinh (足太阳膀胱经), Túc thiếu dương đởm kinh (足少阳胆经). Chúng đi từ đầu qua thân và mặt ngoài chân xuống chân.
Túc tam âm kinh (足三阴经) bao gồm Túc thái âm tỳ kinh (足太阴脾经), Túc thiếu âm thận kinh (足少阴肾经), Túc quyết âm can kinh (足厥阴肝经). Chúng đi từ chân qua mặt trong chân lên bụng và ngực.
Lục kinh (六经) gồm: Thái dương kinh (太阳经), Dương minh kinh (阳明经), Thiếu dương kinh (少阳经), Thái âm kinh (太阴经), Thiếu âm kinh (少阴经), Quyết âm kinh (厥阴经).
Dương mạch (阳脉) tức là dương kinh trong hệ thống kinh mạch, bao gồm Thủ túc tam dương kinh (手足三阳经), Đốc mạch (督脉), Dương duy mạch (阳维脉), Dương kiều mạch (阳跷脉).
Âm mạch (阴脉) tức là âm kinh, bao gồm Thủ túc tam âm kinh (手足三阴经), Nhâm mạch (任脉), Xung mạch (冲脉), Âm duy mạch (阴维脉), Âm kiều mạch (阴跷脉).
Thủ thái âm phế kinh (手太阴肺经) là một trong mười hai kinh mạch.Lộ trình tuần hành của nó là: Trong cơ thể: thuộc về phế, lạc với đại trường, và có liên hệ với vị và hầu họng; Trên bề mặt cơ thể: bắt đầu từ phần ngoài trên của ngực, đi dọc theo mặt trước phía trong của tay, xuống đến đầu ngón tay cái.
Thủ dương minh đại trường kinh (手阳明大肠经) là một trong mười hai kinh mạch.Lộ trình tuần hành: Trong cơ thể: thuộc về đại trường, lạc với phế;
Trên bề mặt: bắt đầu từ đầu ngón trỏ, đi qua mặt ngoài phía trước của tay, vai, cổ, má, và kết thúc ở bên cánh mũi đối diện.
Túc dương minh vị kinh (足阳明胃经) là một trong mười hai kinh mạch.
Lộ trình tuần hành:
Trong cơ thể: thuộc về vị, lạc (nối) với tỳ; Trên bề mặt: bắt đầu từ vùng mũi, đi qua vùng thái dương, mặt, cổ, ngực, bụng, mặt trước ngoài của chân, và kết thúc ở đầu ngón chân thứ hai.
Túc thái âm tỳ kinh (足太阴脾经) là một trong mười hai kinh mạch. Lộ trình tuần hành: Trong cơ thể: thuộc về tỳ, lạc (nối) với vị, và liên hệ với tâm cùng gốc lưỡi;
Trên bề mặt: bắt đầu từ ngón chân cái, đi dọc theo mặt trong chân (từ giữa chuyển ra phía trước), bụng, ngực, và kết thúc ở vùng bên ngực.
Thủ thiếu âm tâm kinh (手少阴心经) là một trong mười hai kinh mạch.
Lộ trình tuần hành:
Trong cơ thể: thuộc về tâm, lạc với tiểu trường, liên hệ với họng và mắt;
Trên bề mặt: bắt đầu từ nách, đi dọc theo mặt sau phía trong của tay, và kết thúc ở đầu ngón út.
Thủ thái dương tiểu trường kinh (手太阳小肠经) là một trong mười hai kinh mạch.Lộ trình tuần hành: Trong cơ thể: thuộc về tiểu trường, lạc với tâm, liên hệ với vị, mắt và tai trong; Trên bề mặt: bắt đầu từ đầu ngón út, đi qua mặt sau ngoài của tay, vai, vùng bả vai, bên cổ, mặt, mắt, và kết thúc ở tai.
Túc thái dương bàng quang kinh (足太阳膀胱经) là một trong mười hai kinh mạch.
Lộ trình tuần hành:
Trong cơ thể: thuộc về bàng quang, lạc với thận, và liên hệ với não;
Trên bề mặt: bắt đầu từ mắt, đi lên đỉnh đầu, ra sau, xuống dưới qua vùng gáy, hai bên lưng, mông, mặt sau của chân, và kết thúc ở đầu ngón chân út.
Túc thiếu âm thận kinh (足少阴肾经) là một trong mười hai kinh mạch.
Lộ trình tuần hành:
Trong cơ thể: thuộc về thận, lạc với bàng quang, liên hệ với tủy sống, can, cơ hoành, họng, gốc lưỡi, phế, tâm, và khoang ngực;
Trên bề mặt: bắt đầu từ đầu ngón chân út, đi qua gan bàn chân, mắt cá trong, mặt sau trong của chân, bụng, và kết thúc ở ngực.
Thủ quyết âm tâm bào kinh (手厥阴心包经) là một trong mười hai kinh mạch.
Lộ trình tuần hành:
Trong cơ thể: thuộc về tâm bào, lạc với tam tiêu, liên hệ với cơ hoành;
Trên bề mặt: bắt đầu từ bên ngực, đi qua nách, dọc theo đường giữa mặt trước phía trong của tay, và kết thúc ở đầu ngón giữa.
Thủ thiếu dương tam tiêu kinh (手少阳三焦经) là một trong mười hai kinh mạch.
Lộ trình tuần hành:
Trong cơ thể: thuộc về tam tiêu, lạc với tâm bào, liên hệ với tai và mắt;
Trên bề mặt: bắt đầu từ đầu ngón áp út, đi dọc theo đường giữa phía ngoài của tay, qua vai, bên cổ, vùng đầu bên, tai, và kết thúc ở mắt.
Túc thiếu dương đởm kinh (足少阳胆经): là một trong mười hai kinh mạch.
Lộ trình tuần hành:
Trong cơ thể: thuộc về đởm, lạc với can;
Trên bề mặt: bắt đầu từ vùng mắt, đi qua đầu bên, tai, má, sau đầu, vai, hai bên ngực và bụng, mặt ngoài của chi dưới, kết thúc ở đầu ngón chân thứ tư.
Túc quyết âm can kinh (足厥阴肝经): là một trong mười hai kinh mạch.
Lộ trình tuần hành:
Trong cơ thể: thuộc về can, lạc với đởm, và liên hệ với cơ quan sinh dục, vị, cơ hoành, họng và nhãn cầu;
Trên bề mặt: bắt đầu từ ngón chân cái, đi dọc mặt trong chi dưới (từ trước chuyển sang giữa), qua vùng âm hộ, bụng và kết thúc ở bên ngực.
Đốc mạch (督脉): là một trong bát mạch kỳ kinh. Bắt đầu từ hội âm, đi dọc theo đường giữa sau lưng và cột sống lên trên, qua gáy, vượt qua đỉnh đầu, kết thúc ở vùng mặt tại huyệt trên lợi giữa hai răng cửa trên (tất cả đều dọc theo đường giữa).
Trên đường tuần hành, Đốc mạch liên hệ với tủy sống, não và các dương kinh, là “tổng cương” của dương kinh.
Nhâm mạch (任脉): là một trong bát mạch kỳ kinh. Bắt đầu từ bên trong bụng dưới (bào trung), đi dọc lên theo đường trong cột sống. Đồng thời cũng khởi ra từ hội âm, lên đến tiền âm, rồi dọc theo đường giữa phía trước bụng, qua rốn, lên ngực, đầu (đều theo đường giữa), đến giữa môi dưới, từ đó chia thành hai nhánh nhỏ đi đến hai bên mắt.
Trong quá trình tuần hành, Nhâm mạch liên hệ với các âm kinh, là “tổng cương” của âm kinh.
Xung mạch (冲脉): là một trong bát mạch kỳ kinh. Bắt đầu từ trong bụng dưới, đi dọc trong cột sống lên trên. Đồng thời từ hai bên vùng âm hộ đi lên, song song hai bên cột sống, đến ngực thì kết thúc.
Đới mạch (带脉): là một trong bát mạch kỳ kinh. Bắt đầu từ vùng hạ sườn (túc hiếp), đi ngang quanh eo một vòng.
Dương duy mạch (阳维脉): là một trong bát mạch kỳ kinh. Bắt đầu từ phía dưới mắt cá ngoài, đi lên theo mặt ngoài chi dưới, vùng bụng bên, ngực bên, vai, má sau và kết thúc ở đỉnh đầu.
Âm duy mạch (阴维脉): là một trong bát mạch kỳ kinh. Bắt đầu từ phía trên mắt cá trong, đi dọc theo mặt trong chi dưới, bụng, ngực, họng, và kết thúc ở sau cổ.
Dương kiều mạch (阳跷脉): là một trong bát mạch kỳ kinh. Bắt đầu từ gót chân ngoài, đi lên dọc mắt cá ngoài, qua mặt ngoài chi dưới, bụng bên, ngực, vai, má, và kết thúc ở sau cổ.
Âm kiều mạch (阴跷脉): là một trong bát mạch kỳ kinh. Bắt đầu từ gót chân trong, đi lên theo mặt trong của chân, qua vùng tiền âm, bụng, ngực, cổ, hai bên mũi, và kết thúc ở mắt.
Tam âm (三阴): là cách gọi chung của Thái âm, Thiếu âm và Quyết âm. Bao gồm Thủ tam âm và Túc tam âm, tổng cộng là sáu kinh mạch.
Tam dương (三阳): là cách gọi chung của Thái dương, Dương minh và Thiếu dương. Bao gồm Thủ tam dương và Túc tam dương, thực tế cũng là sáu kinh mạch.
Thái dương (太阳): là tên một kinh mạch. Ý nghĩa là dương khí thịnh, vì nó nằm ở lớp ngoài cùng của cơ thể và là kinh mạch đầu tiên phát bệnh khi bị ngoại tà xâm nhập.
Thiếu dương (少阳): là tên một kinh mạch. Có ý nghĩa là dương khí giảm nhẹ, vị trí nằm giữa biểu và lý, thuộc trung gian giữa Thái dương và Dương minh.
Dương minh (阳明): là tên một kinh mạch. Là giai đoạn phát triển cuối cùng của dương khí, tiếp tục trên cơ sở dương khí của Thái dương và Thiếu dương, vị trí nằm phía trong của hai kinh đó.
Thái âm (太阴): là tên một kinh mạch. Có ý nghĩa là âm khí thịnh, nằm ở lớp ngoài cùng trong ba âm kinh.
Thiếu âm (少阴): là tên một kinh mạch. Có ý nghĩa là âm khí yếu hơn, vị trí nằm giữa Thái âm và Quyết âm.
Quyết âm (厥阴): là tên một kinh mạch. Là giai đoạn cuối cùng của âm khí, bắt đầu chuyển hóa trở lại về phía dương, vị trí nằm bên trong Thái âm và Thiếu âm.
Thập nhị kinh cân (十二经筋): là hệ thống cân cơ và xương khớp được khí từ mười hai kinh mạch vận hành tới, là hệ thống cơ nhục phụ thuộc vào mười hai kinh mạch.
Thập nhị kinh biệt (十二经别): là phần rẽ nhánh, đi vào, đi ra và hội hợp của mười hai chính kinh, là các nhánh phụ đi sâu vào khoang cơ thể.
Ly (离): là nơi các kinh biệt của mười hai kinh chính tách ra, thường là từ khu vực khuỷu tay và đầu gối trở lên.
Nhập (入): là phần đi sâu vào trong cơ thể, liên hệ với tạng phủ gọi là “nhập”.
Xuất (出): là phần từ cơ thể đi ra ngoài, lên đến đỉnh đầu gọi là “xuất”.
Hợp (合): tại đỉnh đầu, các kinh biệt của dương kinh hợp với bản kinh gốc; còn các kinh biệt của âm kinh thì hợp với kinh dương có quan hệ biểu lý.
Lục hợp (六合): là sự tổ hợp của thập nhị kinh biệt thành sáu cặp theo mối quan hệ âm – dương biểu – lý, hợp ở đầu và cổ với sáu dương kinh, nên gọi là “lục hợp”.
Kinh khí (经气): là tên gọi chung chỉ “khí” lưu hành trong các kinh mạch, cũng là chỉ chức năng chủ yếu của kinh mạch.
Âm mạch chi hải (阴脉之海): là biệt danh của Nhâm mạch, vì các nhánh của Túc tam âm kinh, Âm duy và Xung mạch đều hội tụ về Nhâm mạch, có vai trò điều hòa toàn bộ âm khí trong cơ thể.
Dương mạch chi hải (阳脉之海): là biệt danh của Đốc mạch, vì các nhánh của Thủ và Túc tam dương kinh đều hội tụ về Đốc mạch, có vai trò điều hòa toàn bộ dương khí trong cơ thể.
Thập nhị kinh chi hải (十二经之海): chỉ Xung mạch, vì mười hai kinh mạch đều giao hội với nó, có chức năng chứa đựng khí huyết của mười hai kinh.
Thái xung mạch (太冲脉): là biệt danh của Xung mạch, vì nó có thể điều dưỡng kinh nguyệt và thai bào của phụ nữ nên có tên như vậy.
Tông mạch (宗脉): là nơi hội tụ của các mạch quan trọng, chỉ các mạch chính hoặc đại mạch tập trung ở những cơ quan trọng yếu như mắt, tai… do nhiều kinh mạch cùng hội tụ tạo thành.
Tâm hệ (心系): là hệ thống mạch máu lớn nối trực tiếp với tim.
Thập nhị bì bộ (十二皮部): là vùng phản ánh trên bề mặt da tương ứng với mười hai kinh mạch trong cơ thể.
Tam dương tại đầu (三阳在头): chỉ động mạch tại huyệt Nhân nghênh (人迎) của Túc dương minh kinh ở vùng đầu cổ.
Tam âm tại thủ (三阴在手): chỉ động mạch ở huyệt Thốn khẩu (寸口) nơi cổ tay, thuộc Thủ thái âm kinh.
Khai – Hợp – Khu (Trục xoay) (开、合、枢): là ba đặc điểm sinh lý của kinh mạch. Về dương kinh: Thái dương chủ khai (mở), Dương minh chủ hợp (thu), Thiếu dương chủ xoay trục (chuyển).
Về âm kinh: Thái âm chủ khai, Quyết âm chủ hợp, Thiếu âm chủ xoay trục.
Lạc mạch (络脉): là các nhánh tỏa ra từ kinh mạch, phân bố khắp toàn thân, có tác dụng tăng cường mối liên hệ giữa các kinh biểu – lý, thông đạt đến những nơi kinh chính không đi qua. Bao gồm: Biệt lạc (别络), Phù lạc (浮络) và Tôn lạc (孙络).
Tôn lạc (孙络): là các nhánh nhỏ hơn cả lạc mạch, có rất nhiều phân nhánh, còn gọi là “Tôn mạch (孙脉)”.
Thập ngũ lạc (十五络): là mười lăm lạc mạch lớn nhất trong cơ thể, gồm 14 kinh chính mỗi kinh có một lạc mạch, cộng thêm Tỳ chi đại lạc (脾之大络), hợp lại gọi là “Thập ngũ lạc”.
Vị chi đại lạc (胃之大络): còn gọi là Hư lý (虚里), là một lạc mạch lớn xuất phát trực tiếp từ phủ vị (dạ dày). Lộ trình là từ vị đi lên, xuyên qua cơ hoành, liên lạc với phế, sau đó tỏa ra ngoài, phân bố dưới vú trái, chính là vị trí tim đập.
Tỳ chi đại lạc (脾之大络): là một lạc mạch lớn xuất phát trực tiếp từ tạng tỳ. Lộ trình từ tỳ phát ra, chui qua huyệt Đại bao (大包) ở bên ngực, phân bố vùng hông ngực. Đây là một trong mười lăm lạc mạch lớn.
Bào mạch (胞脉): còn gọi là Bào lạc (胞络), là các mạch máu phân bố trên tử cung, bao gồm cả Xung mạch (冲脉) và Nhâm mạch (任脉).
Công năng chính là chủ quản kinh nguyệt và nuôi dưỡng thai nhi.
Phù lạc (浮络): chỉ các lạc mạch nông ở dưới da.
Ngư lạc (鱼络): chỉ lạc mạch ở vùng mô cơ ngư tế (gò cái) bên trong ngón cái tay.
Âm lạc (阴络):
Dương lạc (阳络):
Tiết 2 – Du huyệt (腧穴)
Huyệt (穴): là nơi khí huyết của kinh lạc tụ lại, truyền dẫn hoặc đi qua tại bề mặt cơ thể, là vị trí then chốt.
Lạc huyệt (络穴): mỗi mạch trong mười lăm lạc mạch đều có một huyệt liên hệ với kinh mạch. Gồm có 14 huyệt của 14 kinh chính và 1 huyệt của lạc từ tỳ, tổng cộng là 15 huyệt lạc.
Ngũ du huyệt (五输穴): mỗi kinh trong 12 kinh chính đều có năm huyệt đặc biệt nằm dưới khuỷu tay hoặc đầu gối, gọi là “Tỉnh (井), Huỳnh (荥), Du (输), Kinh (经), Hợp (合)” – gọi chung là Ngũ du huyệt.
Tỉnh huyệt (井穴): là một loại trong Ngũ du huyệt, đều nằm ở đầu ngón tay hoặc chân. Trong hệ thống kinh mạch, giống như nơi dòng suối bắt đầu chảy ra. Mỗi kinh có một tỉnh huyệt, tổng cộng là Thập nhị tỉnh huyệt (十二井穴).
Huỳnh huyệt (荥穴): là một loại trong Ngũ du huyệt, đều nằm ở phần xa của tay hoặc chân. Trong hệ kinh mạch, giống như dòng nước nhỏ vừa mới ra khỏi suối nguồn.
Toàn thân thập nhị kinh mỗi kinh đều có 1 huỳnh huyệt
Du huyệt (俞穴):
Là một loại trong Ngũ du huyệt, đều nằm ở tay hoặc chân. Trong kinh mạch, giống như dòng nước bắt đầu tụ lại và dẫn vào kênh lớn. Mỗi kinh có một du huyệt, còn gọi là Thập nhị du huyệt (十二俞穴).
Kinh huyệt (经穴):
Hợp huyệt (合穴): là một loại trong Ngũ du huyệt, đều nằm ở vùng khuỷu tay hoặc đầu gối. Trong kinh mạch, giống như dòng sông các nơi đổ vào biển lớn. Mỗi kinh có một hợp huyệt.
Nguyên huyệt (原穴): là một loại trong Ngũ du huyệt, nằm gần vùng cổ tay hoặc cổ chân. Trong hệ thống kinh mạch, giống như dòng nước chính của kênh luôn luôn chảy qua. Đối với Thủ – Túc tam âm kinh, nguyên huyệt chính là du huyệt của bản kinh (tổng cộng 6 huyệt, cũng gọi là “nguyên huyệt”); cộng thêm nguyên huyệt của các dương kinh, gọi chung là Thập nhị nguyên huyệt (十二原穴).
Bát hội huyệt (八会穴): Cổ nhân đã tổng kết tám huyệt vị quan trọng có liên quan đến một số chức năng sinh lý toàn thân, đặt tên dựa trên tác dụng khác nhau của chúng, bao gồm:
Khí hội (气会) – huyệt Đản trung (膻中)
Huyết hội (血会) – huyệt Cách du (隔俞)
Cốt hội (骨会) – huyệt Đại trữ (大抒)
Cân hội (筋会) – huyệt Dương lăng tuyền (阳陵泉)
Tủy hội (髓会) – huyệt Tuyệt cốt (绝骨)
Mạch hội (脉会) – huyệt Thái uyên (太渊)
Tạng hội (脏会) – huyệt Chương môn (章门)
Phủ hội (腑会) – huyệt Trung quản (中脘)
Liêu (髎): là từ gọi chung các vị trí nằm giữa các khớp xương.
Hội huyệt (会穴): là nơi hai hay nhiều đường kinh giao hội nhau.
Khê cốc (溪谷): là từ dùng chung để chỉ các huyệt đạo của kinh lạc. “Cốc” tương ứng với vị trí đi của mười hai đường kinh; “Khê” tương ứng với ba trăm sáu mươi lăm huyệt kinh. Cả “cốc” và “khê” đều chỉ các khe hoặc hõm giữa cơ bắp ở tay chân.
Mộ huyệt (募穴): là các điểm phản ứng trên bề mặt ngực – bụng, có mối quan hệ chặt chẽ với sinh lý và bệnh lý của tạng phủ, là nơi khí của tạng phủ hội tụ.
Bối du huyệt (背俞穴): là các điểm phản ứng trên bề mặt lưng, nằm hai bên cột sống, có liên quan mật thiết đến sinh lý và bệnh lý của ngũ tạng lục phủ, là nơi khí của tạng phủ truyền dẫn ra.
A thị huyệt (阿是穴): còn gọi là Thiên ứng huyệt (天应穴), Bất định huyệt (不定穴). Tức “lấy đau làm huyệt”, nơi có điểm ấn đau chính là huyệt vị.
Khích huyệt (郄穴): từ “khích” mang ý nghĩa là lỗ hoặc khe. Đây là huyệt vị quan trọng nơi khí huyết tụ hội sâu bên trong.
Hoa Đà giáp tích huyệt (华佗夹脊穴): nằm ở hai bên đường giữa cột sống lưng, cách mỏm gai đốt sống 0.5 tấc. Có hai cách xác định vị trí:
Huyệt giáp tích có phạm vi ứng dụng lâm sàng rộng, chủ yếu dùng để điều hòa rối loạn chức năng nội tạng và điều trị triệu chứng tại vùng lưng – cột sống.
Bát phong huyệt (八风穴): nằm ở mu bàn chân, giữa các khe xương của năm ngón chân, tại bờ nếp da gốc ngón chân, mỗi bên bốn huyệt, tổng cộng tám huyệt hai bên. Chủ trị đau, tê, sưng đỏ vùng bàn chân.
Bát tà huyệt (八邪穴): nằm ở mu bàn tay, giữa các khe xương của năm ngón tay, mỗi bên bốn huyệt, hai bên tổng cộng tám huyệt. Chủ trị đau ngón tay, tê liệt và đau cứng đầu – cổ.
Thập tuyên huyệt (十宣穴): nằm ở chính giữa đầu mười ngón tay, tổng cộng mười huyệt ở hai tay. Thường dùng trong cấp cứu hôn mê do trúng phong, say nắng.
Kinh ngoại kỳ huyệt (经外奇穴): là những huyệt không thuộc hệ thống chính kinh (12 kinh) nhưng vẫn có giá trị điều trị, được ghi nhận trong thực hành lâm sàng.
Đồng thân thốn (同身寸): là tiêu chuẩn đo chiều dài trong châm cứu, dùng một số đặc điểm trên cơ thể người bệnh làm đơn vị đo lường.
Đồng thân thốn ngón giữa (中指同身寸): là khoảng cách giữa hai đầu nếp ngang của đốt giữa ngón tay giữa khi bệnh nhân gập ngón, được tính là một tấc. Đây là phương pháp phổ biến nhất trong lâm sàng.
Đồng thân thốn ngón cái (拇指同身寸): lấy chiều rộng đoạn cuối cùng của ngón cái làm một tấc.
Phương pháp một phu (一夫法): là khi chụm các ngón tay từ trỏ đến út (bốn ngón) lại, độ rộng lớn nhất của chúng được tính là một thốn.
Dục chi nguyên (育之原):
Ly Nguyễn Nghị dịch