Tiết 1 Âm Dương
Âm Dương (阴阳)là tên gọi chung của Âm và Dương, dùng để chỉ hai thuộc tính cơ bản đối lập nhau phổ biến của sự vật hoặc giữa sự vật, nó không chỉ có thể đánh dấu hai khía cạnh đối lập lẫn nhau trong một sự vật mà còn đánh dấu hai mặt đối lập lẫn nhau của hai loại sự vật hoặc hiện tượng. Mối quan hệ đối lập, bổ sung cho nhau của âm dương là quy luật, là căn nguyên của sự phát sinh, phát triển và biến hoá của sự vật.
Âm dương tiêu trưởng (阴阳消长)Trong sự thống nhất âm dương của sự tăng trưởng và suy giảm của âm dương, số lượng và tỷ lệ âm dương không hề cố định bất biến mà luôn vận động biến hoá trong trạng thái âm tiêu thì dương trưởng, dương tiêu thì âm trưởng để hạn chế và đấu tranh lẫn nhau.
Âm (阴)vận động bên trong, biểu hiện là hướng nội, hướng xuống dưới, ức chế, suy yếu, đục nặng là Âm.
Dương(阳) chuyển động ra ngoài có biểu hiện là hướng lên trên, hướng ra ngoài, mạnh mẽ, nhẹ nhàng và trong sáng.
Âm chứng (阴证) Các biểu hiện lâm sàng của hội chứng âm bao gồm bệnh tiến triển chậm, trầm cảm, chức năng kém, giảm chuyển hóa và vết loét phẫu thuật không đỏ, không sưng và có đế tản mạn đều là hội chứng âm.
Âm thịnh (阴盛) là một cơ chế bệnh của y học cổ truyền, chủ yếu đề cập đến hội chứng âm hàn dư thừa dẫn đến dương khí suy yếu mà xuất hiện chứng lý hàn.
Âm hư hoả vượng (阴虚火旺)Âm dịch không đủ, hư hỏa dư thừa xuất hiện các triệu chứng nóng trong như sốt nhẹ, nóng lòng bàn tay, lòng bàn chân, nóng bừng buổi chiều, sụt cân, đổ mồ hôi ban đêm, khô miệng khô họng, nước tiểu ít và nóng.
Âm trung chi âm (阴中之阴)Âm trong âm biểu thị vạn vật được chia thành âm và dương, một trong số đó thuộc về khía cạnh âm. Ví dụ, lưng là dương vì nó ở bên ngoài, ngực và bụng là âm vì nó ở trong, ngực là dương vì nó ở trên, và bụng là âm vì nó ở dưới vì bụng vừa ở trong lại vừa ở dưới nên bụng được cho là âm trong âm.
Ban ngày là dương, đêm tối là âm, trước giờ ngọ mặt trời không ngừng lên cao là dương trong dương, sau giờ ngọ mặt trời không ngừng xuống thấp là âm trong dương; Thời gian ban đêm trước giờ tý khí ôn càng lúc càng thấp là âm trong âm, sau nửa đêm khí ôn càng lúc càng cao là dương trong âm.
Âm trung chi dương (阴中之阳) là dương trong âm có nghĩa là sự vật được chia thành âm và dương, một phương diện của chúng thuộc về dương. Ví dụ, lưng là dương vì ở bên ngoài, ngực và bụng là âm vì ở bên trong, ngực là dương vì ở bên trên, nên ngực là dương trong âm.
Âm dương hỗ căn (阴阳互根) Hỗ căn là hỗ tương nương dựa tồn tại, chính là một thể thống nhất có hai mặt âm dương hỗ tương đối lập lại hỗ tương tồn tại, với sự tồn tại của đối phương là điều kiện tồn tại của bản thân
Âm sinh vu dương (阴生于阳) Căn cứ quy tắc âm dương hỗ căn. Nó ám chỉ âm dương đối lập lẫn nhau trong một thể thống nhất phụ thuộc lẫn nhau và lấy sự tồn tại của cái kia làm điều kiện cho sự tồn tại của chính mình, âm và dương có thể chuyển hóa lẫn nhau trong những điều kiện nhất định.
Âm sinh vu dương (阴生于阳) Âm sinh từ Dương, theo nguyên lý âm dương tương sinh, “Âm” lấy sự tồn tại của “Dương” làm điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại của mình. Trong cơ thể con người, quá trình sinh hóa của vật chất (Âm) do Âm Khí đại diện phải dựa vào lực lượng năng động do Dương Khí đại diện. Vì vậy, tinh chất Âm được hấp thụ và sản sinh thông qua hoạt động của Dương Khí.
Dương sinh vu âm (阳生于阴) Dương sinh ra từ Âm, theo nguyên lý âm dương hỗ căn, “Dương” lấy sự tồn tại của “Âm” làm điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại của chính mình. Trong cơ thể con người, việc sinh ra chủ lực do Dương Khí đại diện phải căn cứ vào thực chất (tinh chất Âm) do Âm đại diện làm cơ sở. Vì vậy, người ta nói rằng Dương Khí được sinh ra từ bản chất Âm.
Âm bình dương bí (阴平阳秘) Là âm khí thuận lợi (bình), dương khí phòng thủ kiên cố (bí), cả hai điều chỉnh (điều tiết) lẫn nhau để duy trì cân bằng tương đối, đó chính là điều kiện cơ bản duy trì hoạt động sống bình thường.
Âm dương chi trạch (阴阳之宅) Nhà của âm dương. Có ý đề cập đến tạng thận trong yhct. Yhct cho rằng tạng thận tàng chứa nguyên dương, nguyên âm, vì thế ám chỉ thận là ngôi nhà của âm dương.
Âm dương thất điều (阴阳失调) Mất cân bằng âm dương có nghĩa là sự cân bằng tương đối giữa âm và dương bị phá vỡ, dẫn đến âm dương bị thiên về quá mức và thiên về suy yếu, đây là nguyên lý cơ bản của những biến đổi bệnh lý.
Âm dương li quyết (阴阳离决) Âm và Dương tách rời, mối quan hệ giữa Âm và Dương bị phân li đoạn tuyệt. Nó ám chỉ sự mất cân bằng âm dương, bên này tiêu diệt bên kia, hoặc bên này suy kiệt quá mức khiến bên kia mất đi sự phụ thuộc và không thể duy trì mối quan hệ tương hỗ giữa âm và dương, thường dùng để giải thích cái chết.
Âm dương tự hoà (阴阳自和)Việc thiết lập sự cân bằng tương đối giữa âm và dương và âm dương có xu hướng cho thấy sự cải thiện của bệnh hoặc hồi phục của sức khoẻ.
Âm dương lưỡng hư (阴阳两虚)Âm và dương đều hư yếu, chủ yếu đề cập đến việc nội tạng âm dương đều hư tổn, khí huyết hư và thận âm, thận dương đều hư yếu. Trên lâm sàng có biểu hiện Dương hư lại vừa có biểu hiện âm hư.
Âm dương chuyển hoá (阴阳转化) Song phương âm dương đối lập hỗ tương, trong những điều kiện nhất định có thể hỗ tương chuyển hoá, âm có thể chuyển hoá thành dương, và dương cũng có thể chuyển hoá thành âm.
Âm dương thắng phục (阴阳胜复)Âm và Dương thắng và phục hồi. Thắng có nghĩa là chiến thắng hay thịnh vượng, phục có nghĩa là phục thù hoặc lặp lại. Trong mâu thuẫn đấu tranh của âm dương, sự thống trị của một bên sẽ dẫn đến sự đấu tranh của bên kia, dẫn đến tình trạng âm mạnh hơn và dương mạnh hơn hoặc dương mạnh hơn và âm báo phục, từ đó ảnh hưởng đến kết quả của quá trình thay đổi của sự vật. Người xưa dùng quy luật biến hóa này để giải thích sự biến đổi của thiên nhiên và quá trình bệnh tật, nếu năm nay mưa quá nhiều, âm ẩm thấp chiếm ưu thế thì năm sau dương khô hanh sẽ quay trở lại, thời tiết khô hạn sẽ xuất hiện.
Dương sinh âm trưởng (阳生阴长) Dương khí sinh hoá bình thường, âm khí có thể không ngừng phát triển, điều này giải thích phương diện sinh phát (phát sinh, phát triển) của sự vật.
Âm thắng tắc hàn (阴胜则寒)Âm khí thiên thịnh thì hàn, là thuật ngữ của nguyên nhân, bệnh lý học. Nói về khi âm khí mạnh (thiên thịnh), dương khí suy (thiên suy) thì xuất hiện hội chứng hàn. Xuất từ {Tố vấn Âm dương ứng tượng đại luận}. Điều: Âm thịnh tắc nội hàn.
Âm tổn cập dương (阴损及阳) Âm hư tổn ảnh hưởng đến dương. Theo nguyên tắc âm dương hỗ căn, nên khi âm hư tổn nên dẫn đến bệnh cơ dương khí hoá sinh không đủ.
Dương tổn cập âm (阳损及阴) Dương hư tổn lảnh hưởng đến âm. Căn cứ theo nguyên tắc âm dương hỗ căn, do dương khí hư nhược nên dẫn đến bệnh cơ âm tinh hoá sinh không đầy đủ.
Âm hư hoả vượng (阴虚火旺) Âm tinh suy hư, gây mất thăng bằng âm dương, dương không thể kiềm chế; Dương lại khiến âm tinh suy yếu thêm, từ đó xuất hiện một loạt hội chứng bệnh hư hoả quá mạnh.
Âm hư nội nhiệt (阴虚内热) Do âm hư nên thuỷ không thể chế hoả, nên xuất hiện phát nhiệt do dương khí bên trong quá mạnh (nội thịnh) gây ra.
Dương sinh âm trưởng Sự tồn tại và sinh trưởng của âm khí không thể tách rời sự ấm áp và khí hoá của dương khí, Điều này giải thích sự phát triển của vạn vật trong tự nhiên.
Âm bất bão dương (阴不抱阳) Âm không ôm dương, là do bệnh ở âm, không thể duy trì phòng thủ kiên cố bình thường của dương khí, xuất hiện bệnh lý “Âm hư dương kháng” (阴虚阳亢) hoặc hiện tượng bệnh lý “Âm thịnh dương suy” (阴盛阳衰).
Âm thắng tắc dương bệnh (阴胜则阳病) Âm là chỉ về âm hàn, dương là chỉ về dương khí, ngoại cảm hàn tà sẽ khiến hoạt động của dương khí ở vệ dương bị bó buộc hạn chế, âm hàn bên trong quá mạnh (nội thịnh) cũng sẽ dẫn đến dương khí của tạng phủ hư yếu, những điều này đều là bệnh chứng của tình trạng âm hàn thắng mà ảnh hưởng đến dương khí.
Dương thắng tắc âm bệnh (阳胜则阴病) Dương là chỉ về dương nhiệt, âm là chỉ về âm dịch. Dương nhiệt quá mạnh hoặc hư hoả vọng động (vận động không theo quy củ) đều khiến âm dịch bị tổn háo, những điều này đều thuộc bệnh chứng của dương khí thắng mà âm khí không đầy đủ.
Trùng dương (重阳) Hai loại có tính chất thuộc dương đồng thời xuất hiện trên một sự vật, như giữa ngày (chính ngọ) trong một ngày đêm, ban ngày là dương, giữa ngày là dương trong dương, nên gọi là trùng dương; Mùa hạ thuộc dương, nắng là dương tà, vì thế mùa hè bị cảm nắng, cũng gọi là trùng dương.
Trùng âm (重阴) Hai loại có tính chất thuộc âm đồng thời xuất hiện trên một sự vật. Như nửa đêm của một ngày đêm, đêm là âm, nửa đêm là âm trong âm, vì thế gọi là trùng âm; Mùa đông thuộc âm, hàn vi âm tà, mùa đông bị cảm lạnh, cũng có thể gọi là trùng âm.
Chí âm (至阴) chí là đến. Thái âm là bắt đầu của tam âm, vì thế Thái âm gọi là Chí âm; Tên du huyệt, túc thái dương kinh bàng quang tỉnh huyệt, bên cạnh đốt cuối của ngón chân út, cách móng 0.1 thốn.
Trùng âm tất dương (重阴必阳) Tính chất của bệnh nguyên thuộc âm khí thiên thắng, nhưng khi âm khí mạnh đến một mức độ nhất định sẽ xuất hiện hiện tượng dương hoặc chuyển hoá về hướng dương, nhưng sự chuyển biến này phải có điều kiện là với một hạn độ nhất định.
Trùng dương tất âm (重阳必阴) Tính chất của tật bệnh nguyên thuộc dương khí thiên thắng, nhưng khi dương khí thiên thắng đến một hạn độ nhất định, sẽ xuất hiện hiện tượng âm, hoặc phương hướng chuyển hoá đến hướng âm. Những chuyển biến này đều cần có điều kiện, không nên cho rằng tất nhiên sẽ như vậy, như bệnh lý biến hoá “Nhiệt cực sinh hàn” (热极生寒) nóng cực độ sinh hàn lãnh, là bệnh dương nhiệt ở một điều kiện nhất định sẽ xuất hiện chứng trạng có tính hàn. Như ngày hè trúng nắng là trùng dương, nhưng do thử nhiệt không những gây tổn thương tân dịch, còn khiến dương khí tổn háo, chính khí không đầy đủ mà xuất hiện hư thoát.
Dương thường hữu dư, âm thường bất túc (阳常有余,阴常不足)Chu Đan Khê thời nhà Nguyên cho rằng âm là tinh huyết, dương là khí hoả. Tinh huyết là cơ sở vật chất của hoạt động sinh mệnh, không ngừng tiêu hao, dễ tổn hại khó phục hồi, nên thường không đủ. Nếu không chú ý bảo dưỡng tinh huyết, ham mê tửu sắc, tự hại quá độ thì dương khí dễ bốc lên, hư hoả vọng động, nên dương thường dư thừa.
Dương cường bất năng mật (阳强不能密), âm khí nãi tuyệt, dương cường tức là dương kháng (dương cao), chính là nói dương khí quá cao, không kiên cố kín đáo bảo vệ bên ngoài, mà âm khí ở bên trong lại bị háo tổn hoặc bị bức bách tiết ra ngoài, dẫn đến chân âm bị hư tổn.
Dương sát âm tàng (阳杀阴藏) Sát là kiềm chế hoặc tiêu diệt, dương khí kiềm chế thì âm khí tiềm tàng (ẩn dấu), điều này nói về quan hệ hỗ căn của âm dương.
Âm tại nội,(阴在内) dương cố thủ, âm là vật chất, dương là công năng, vật chất ở trong cơ thể, chính là cơ sở sản sinh công năng.
Dương tại ngoại, (阳在外) Âm là vật chất, dương là công năng, công năng biểu hiện ở bên ngoài chính là thể hiện vận động của vật chất bên trong.
Nhân sinh hữu hình, bất li âm dương (人生有形,不离阴阳)
Sinh trưởng, phát dục của cơ thể không thể tách rời tác dụng hỗ tương của âm dương.
Đệ Nhị Tiết Ngũ Hành (第二节五行)
Ngũ hành (五行) – Cổ nhân cho rằng kim (金), mộc (木), thủy (水), hỏa (火), thổ (土) năm thứ vật chất là các yếu tố cơ bản không thể thiếu cấu thành vũ trụ; trong vận động biến hoá không ngừng, chúng vừa tương sinh hỗ trợ vừa tương khắc kiềm chế nhau. Y học cổ truyền dùng ngũ hành để lý giải nhiều vấn đề trong y lý.
Ngũ thường (五常) – Năm loại sự vật tự nhiên đại diện cho quy luật vận động bình thường của ngũ hành.
Ngũ âm (五音) – Năm bậc âm trong nhạc cổ: giáng (角), chứng (徵), cung (宫), thương (商), vũ (羽); học thuyết ngũ hành phối ngũ âm với ngũ hành để ứng dụng trong chẩn trị.
Ngũ thanh (五声) – Năm loại tiếng phát ra liên quan đến hoạt động tinh thần: hô (呼), tiếu (笑), ca (歌), khốc (哭), chân/y (呻吟); tạng tượng học theo quan điểm ngũ hành phân loại tiếng nói của con người.
Tương sinh (相生) – “Sinh” tức tương hỗ sinh dưỡng, thúc đẩy phát triển: mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thủy, thủy sinh mộc.
Tương khắc (相克) – “Khắc” tức lẫn nhau điều tiết, khống chế: mộc khắc thổ, thổ khắc thủy, thủy khắc hỏa, hỏa khắc kim, kim khắc mộc.
Tương thừa (相乘) – “Thừa” có ý xâm lấn quá độ; khi khắc chế quá mức, mất điều hoà bình thường, là hiện tượng mất cân bằng sinh–khắc.
Tương ức (相侮) – “Ức” tức kẻ mạnh áp kẻ yếu; khắc ngược chiều với quan hệ tương khắc, cũng làm mất điều hoà.
Chế hoá (制化) – “Chế” là khống chế, “hoá” là sinh hoá; học thuyết ngũ hành cho rằng sinh và khắc song hành: trong sinh có khắc, trong khắc có sinh, duy trì cân bằng.
Sở thắng (所胜) – Trong tương khắc, vật “ta” khắc được gọi là sở thắng; ví dụ mộc khắc thổ, mộc là sở thắng.
Sở bất thắng (所不胜) – Trong tương khắc, vật “ta” không khắc được gọi là sở bất thắng; ví dụ thổ bị mộc khắc, mộc là sở bất thắng.
Tử khí (子气) – Trong tương sinh, vật được “ta” sinh ra gọi là tử khí; ví dụ hỏa là tử khí của mộc.
Mẫu khí (母气) – Trong tương sinh, vật sinh ra “ta” gọi là mẫu khí; ví dụ mộc là mẫu khí của hỏa.
Mẫu bệnh cập tử (母病及子) – Trong quan hệ tương sinh của ngũ phủ, khi “mẹ” bị bệnh mà ảnh hưởng đến “con” mới gọi là mẫu bệnh cập tử; ví dụ can (mộc) bệnh nặng có thể làm tâm (hỏa) hỏa càng thịnh sinh bệnh.
Tử đạo mẫu khí (子盗母气) – Trong tương sinh, khi “con” bệnh phản tác hại “mẹ” gọi là tử đạo mẫu khí; ví dụ phổi (kim) hư nặng có thể suy tỳ (thổ).
Mộc hỷ điều đạt (木喜条达) – “Mộc” ẩn dụ cho can, điều đạt tức điều hoà thông suốt; ví như cây cối sinh phát, tượng trưng cho can chủ sơ tiết, giúp khí huyết lưu thông hài hoà.
Mộc u hoá hỏa (木郁化火) – Can uất (mộc u) lâu ngày hoá hỏa, sinh can hỏa; biểu hiện đầu đau, hoa điếu, diện đỏ, nôn huyết, khạc huyết, thậm chí mê cuồng.
Mộc hỏa hình kim (木火刑金) – Can hỏa quá thịnh (mộc hỏa) có thể khắc phế kim, làm phế âm hao tổn; triệu chứng khái khái, ngực hông thống, tâm phiền, khẩu đắng, mục đỏ, hoặc khạc huyết.
Mộc u hoá phong (木郁化风) – Can uất gây can huyết hao tổn, sinh can phong; triệu chứng hoa điếu, thiệt tê, run, co giật.
Hỏa tính viêm thượng (火性炎上) – Ví hiện tượng ngọn lửa bốc lên, chỉ đặc tính tà nhiệt thượng phát. Thực hỏa (tà nhiệt thực) chủ tán phát, làm phế tổn thương (khái khái, khạc huyết, xuất huyết mũi) hoặc can uất (đầu thống, nôn, hôn mê); hư hỏa (âm huyết hư) lại sinh bực bội, họng đau, khàn tiếng, nha lân xuất huyết, vãng âm.
Hỏa thịnh hình kim (火旺刑金) – Hỏa (tim hỏa hoặc tà nhiệt) thịnh có thể khắc phế kim: tâm hỏa quá nặng làm phế âm hư tổn gây khái khái, khạc huyết; tà nhiệt thịnh cũng gây đàm nhiệt ứ phổi, sốt cao, hô hấp gấp, mũi vách phập phồng, thậm chí khạc huyết, gọi là “hỏa nhiệt áp phế”.
Hỏa bất sinh thổ (火不生土) – “Hỏa” chỉ thận dương, tức mệnh môn hỏa; “thổ” tức tỳ vị. Khi thận dương hư yếu, mệnh môn hỏa bất túc, tỳ vị mất nguồn dương ôn, ảnh hưởng vị khí khí hóa thủy cốc và tỳ khí vận hoá tinh vi, dinh dưỡng; vận hoá thuỷ thấp bị suy, sinh chứng thận tỳ dương hư tổng hợp. Lâm sàng biểu hiện yết hạ đau lưng gối lạnh, sợ hàn, thực khó tiêu, tiểu không lợi, phù chân hoặc tiêu chảy trước khi tinh mơ.
Thổ sinh vạn vật (土生万物) – Tỳ vị thuộc thổ; ví như muôn vật sinh sôi tự thổ địa, tượng trưng tỳ vị là nguồn dưỡng hoá của cơ thể: vị chủ thụ nạp và tiêu hoá thực phẩm; tỳ chủ hấp thu và tống phát tinh vi dinh dưỡng, cung cấp nền tảng vật chất cho tạng phủ và tổ chức.
Thổ hỷ ôn táo (土喜温燥) – “Thổ” chỉ tỳ; trong chuyển hoá thuỷ thấp, tỳ khí ôn táo thì chức năng vận hoá mạnh mẽ, hấp thu bình thường. Nếu quá nhiều thụ nạp thức ăn ôn lương, lạnh hàn, sẽ thương tổn tỳ dương, ảnh hưởng chức năng vận hoá; ngược lại, tỳ hư bất vận thấp táo lại ứ trệ, sinh tiểu tiện bế tắc, phù, đàm ẩm…
Thổ bất chế thuỷ (土不制水) – “Thổ” chỉ tỳ thổ, “thuỷ” chỉ thuỷ thấp; tỳ hư bất hoá thuỷ thấp, thấp trọc ứ trệ, biểu hiện khạc đàm trắng loãng, tiểu ít, đại tiện lỏng hoặc phù thũng.
Kim khí túc giáng (金气肃降) – Diễn tả đặc tính sinh lý của phổi. “Kim” đại biểu phổi, phổi chủ khí tuyên thanh hạ giáng, khí hoá thuận lợi, tam tiêu thuỷ đạo thông hành; ngược lại, phổi khí bất túc, không hạ giáng, khí nghịch lên, sinh ho, khái khái hoặc tiểu không lợi.
Kim hàn thuỷ lãnh (金寒水冷) – Chỉ phổi thận hư hàn. Phổi thuộc kim, thận thuộc thuỷ. Phổi hư ảnh hưởng thận, hoặc thận dương hư tác hại phổi, đều sinh phổi thận hư hàn tổng hợp chứng; biểu hiện khái khái, đàm trắng loãng, khí nghịch, sợ hàn, yết hạ đau lưng gối lạnh, phù.
Thủy tính lưu hạ (水性流下) – Lấy hiện tượng nước chảy xuống để ví tà thấp hạ đi, chỉ bệnh nhân tiêu chảy, chi dưới mỏi nhức hoặc phù thũng.
Thủy bất hàm mộc (水不涵木) – “Hàm” nghĩa dưỡng ẩm. Thận thuộc thủy, gan thuộc mộc; thận âm hư không dưỡng gan mộc, khiến can âm bất túc, nội phong động, gọi là thủy bất hàm mộc.
Thủy khuy hỏa vượng (水亏火旺) – “Thủy” chỉ thận thủy, “hỏa” chỉ tâm hỏa. Thận thủy bất túc không tưới dưỡng hỏa, khiến tâm hỏa độc vượng, biểu hiện tâm phiền, mất ngủ hoặc không an giấc; cũng chỉ mất điều hoà thận âm dương; thận thủy khuy, mệnh môn hỏa thiên kiêm, sinh dâm lược, di tinh…
Thủy hỏa bất tế (水火不济) – Tâm chủ hỏa, thận chủ thủy, hai bên tương chế tương hỗ để duy trì cân bằng động; Nếu thận thủy bất túc không tưới dưỡng tâm hỏa, hoặc tâm hỏa vượng hạ hại thận âm, mất điều hoà, biểu hiện tâm phiền, mất ngủ, di tinh, gọi là thủy hỏa bất tế.
Thời lệnh (时令) – Chỉ khí hậu chủ yếu của mỗi mùa.
Tứ thời (四时) – Xuân, hạ, thu, đông bốn mùa; cũng chỉ tứ khắc trong một ngày: triều (朝), trúng (昼), mịch (夕), dạ (夜).
Tiết khí (节气) – Thuật ngữ chung cho hai mươi bốn tiết khí; gồm Lập Xuân, Vũ Thủy, Kinh Trập, Xuân Phân, Thanh Minh, Cốc Vũ, Lập Hạ, Tiểu Mãn, Mang Chủng, Hạ Chí, Tiểu Thử, Đại Thử, Lập Thu, Xử Thử, Bạch Lộ, Thu Phân, Hàn Lộ, Sương Giáng, Lập Đông, Tiểu Tuyết, Đại Tuyết, Đông Chí, Tiểu Hàn, Đại Hàn.
Tam phục (三伏) – Gồm sơ phục, trung phục, mạt phục; Thời gian trong năm nóng nhất.
Thập nhị thì (十二时) – Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi mười hai khắc; mỗi khắc hai giờ.
Ngũ vận lục khí (五运六气) – Gọi tắt là vận khí. “Vận” là năm giai đoạn luân chuyển của mộc, hỏa, thổ, kim, thủy; “khí” là sáu khí hậu: Phong, thử, nhiệt, thấp, táo, hàn. Y học cổ xưa theo thiên can 10 giáp–kỷ phối ngũ vận: Giáp – Kỉ thổ vận, Ất – Canh kim vận, Bính – Tân thủy vận, Đinh – Nhâm mộc vận, Mậu – Quý hỏa vận; theo địa chi 12 Tý–Hợi phân lục khí: Hợi–Ất (phong mộc), Tý–Ngọ (tượng hỏa), Dần–Thân (tượng tiêu hỏa), Sửu–Mùi (ẩm thổ), Mão–Dậu (táo kim), Thìn–Tuất (hàn thủy). Từ thiên can tính vận, từ địa chi tính khí, quan sát mối quan hệ sinh, trị, chế giữa vận và khí để dự đoán quy luật khí hậu hàng năm và ảnh hưởng đến sức khỏe và bệnh tật.
Ly Nguyễn Nghị dịch