Bệnh túi thừa đường tiêu hóa (消化道憩室病) là gì?
Bệnh túi thừa đường tiêu hóa chỉ tình trạng một đoạn của ống tiêu hóa phình dạng túi, có thể gồm đủ tất cả các lớp của thành ruột (túi thừa thật) hoặc chỉ niêm mạc và lớp dưới niêm (túi thừa giả, không có lớp cơ). Phần lớn các túi thừa phình ra ngoài lòng ống, cực ít trường hợp lồi vào trong lòng ống (gọi là túi thừa nội ống). Khi có nhiều túi thừa cùng lúc sẽ được gọi chung là “bệnh túi thừa” (憩室病). Túi thừa có thể gặp mọi nơi trong ống tiêu hóa, thường thấy nhất là đại tràng, tiếp đến tá tràng, còn dạ dày ít gặp nhất. Những túi thừa có triệu chứng hoặc biến chứng gọi là “túi thừa có triệu chứng” hay “bệnh túi thừa cần điều trị”.
Bệnh túi thừa hỗng – hồi tràng (khởi phát muộn) là như thế nào?
Đây là một dạng của bệnh túi thừa đường tiêu hóa, khá hiếm gặp. Tại đoạn hỗng tràng (khoảng trên) và hồi tràng (đoạn cuối), do mạch máu lớn đi qua, chỗ cơ thành ruột mỏng, nên dễ hình thành túi thừa ở hỗng tràng trên hoặc hồi tràng gần cuối.
Túi thừa đơn độc thường không có triệu chứng. Túi thừa đa ổ, nếu bên trong ứ đọng nhiều vi khuẩn, có thể gây khó tiêu (đau bụng, chướng hơi, tiêu chảy, kém hấp thu), dẫn đến sụt cân, thiếu máu, tiêu phân mỡ. Bệnh túi thừa hỗng – hồi tràng là một nguyên nhân phổ biến gây hội chứng kém hấp thu ở ruột non. Biến chứng ít gặp, nhưng có thể viêm cấp, chảy máu, thủng ruột, tắc ruột, ung thư trong túi thừa.
Bệnh hay gặp ở người trung niên trở lên, nam hơi nhiều hơn nữ. Chụp X-quang có Baryt là cách chẩn đoán hiệu quả, phát hiện ~1%. Không triệu chứng thì không cần điều trị. Nếu có biến chứng nặng, phải phẫu thuật cắt bỏ. Viêm cấp kèm vi khuẩn dư phát, có thể dùng kháng sinh đường uống như gentamicin, clindamycin… phối hợp metronidazol. Triệu chứng do kém hấp thu cần trị triệu chứng.
Túi thừa đại tràng có đặc điểm gì, chẩn đoán và điều trị ra sao?
Túi thừa đại tràng thường thấy ở phương Tây, tỷ lệ mắc tăng theo tuổi, <40 tuổi hiếm, >80 tuổi có thể đến 65–80%. Nguyên nhân liên quan đến việc ăn ít chất xơ, làm áp lực trong lòng đại tràng tăng lâu ngày; ở người già, cơ thành ruột suy yếu càng dễ hình thành.
Vị trí các túi thừa: Manh tràng (1–5%), Kết tràng lên (10%), Kết tràng ngang (15%), Kết tràng xuống (45%), Sigma (90%),
Trực tràng (<1%). Đa số là túi thừa giả (chỉ có niêm mạc và lớp dưới niêm phồng ra).
Chỉ khoảng 20% bệnh nhân có triệu chứng: đau thất thường vùng hạ vị/trái, thay đổi thói quen đại tiện, hay đầy hơi, táo bón, ăn khó tiêu, hoặc tiêu chảy.
Chụp Baryt đại tràng là xét nghiệm chẩn đoán quyết định. Có thể dùng phương pháp bơm baryt áp suất thấp để dễ thấy túi thừa. Trước đó, nên chụp X-quang bụng không chuẩn bị để loại trừ sỏi thận niệu quản. Cần phân biệt với hội chứng ruột kích thích, ung thư đại tràng, Crohn, bệnh sinh dục – tiết niệu… Lưu ý có trường hợp đồng tồn tại túi thừa với bệnh IBS hoặc ung thư đại tràng.
Tỉ lệ biến chứng 5%, tỉ lệ tử vong 1/10.000. Biến chứng chính: viêm và xuất huyết. Viêm túi thừa: do miệng túi thừa thông với lòng đại tràng, phân ra vào túi. Phân để lâu cứng thành “sỏi phân”, nếu túi thừa miệng hẹp, phân không thoát ra, túi phồng, niêm mạc loét → viêm. Khi túi viêm sẽ có triệu chứng rõ: đôi khi tiêu chảy ra mủ máu, nhầy như lỵ; có khi táo bón xen kẽ tiêu chảy, kèm đau bụng (thường ở vùng bụng dưới, bên trái). Xuất huyết: Là nguyên nhân phổ biến gây chảy máu tiêu hóa dưới ở người già. Mạch máu sát túi thừa bị ăn mòn nên rách vỡ, nhất là túi ở nửa phải đại tràng. Chảy máu thường không đau, không kèm viêm túi, ra máu đỏ tươi hoặc lẫn cục, có khi khá nặng khiến bệnh nhân sốc.
Điều trị:
Mục đích phẫu thuật: cắt bỏ đoạn ruột bệnh, dẫn lưu, cắt bỏ áp-xe, rò. Có thể làm mở đại tràng tạm thời hoặc cắt đại tràng…
Ly Nguyễn Nghị dịch