Tham khảo liên quan: Bệnh nấm miệng
Điều gì đã xảy ra với bệnh tưa miệng?
Tưa miệng là bệnh răng miệng truyền nhiễm do nấm Candida albicans gây ra, thường gặp ở trẻ sơ sinh, trẻ suy dinh dưỡng, trẻ tiêu chảy, trẻ dùng kháng sinh phổ rộng hoặc hormone kéo dài, trẻ có khoang miệng không sạch sẽ. Do niêm mạc miệng có nhiều mảng trắng, giống như bông tuyết rải rác nên còn được gọi là “Tuyết khẩu” (雪口) Miệng tuyết.
Bệnh tưa miệng có thể xảy ra ở bất kỳ vị trí nào trong niêm mạc miệng và má, lưỡi, nướu, môi trên và môi dưới là những vị trí phổ biến nhất. Mảng trắng đặc trưng của bệnh này rất giống với cục sữa còn sót lại, do sợi nấm bám sâu nên không dễ cạo bỏ. Nếu bóc mạnh sẽ thấy chảy máu trên bề mặt vết loét dưới mảng xơ vữa. Các mảng tưa miệng nghiêm trọng có thể hợp nhất thành mảng lớn và có thể lan xuống đường hô hấp và đường tiêu hóa, gây khó thở và tiêu chảy. Khi mắc bệnh này trẻ dễ quấy khóc, không thích bú, có khi sốt nhẹ.
Làm thế nào để ngăn ngừa bệnh tưa miệng?
1/ Nhẹ nhàng chà miệng bằng bông thấm nước soda 2% đến 5%, sau đó bôi nystatin glycerin hoặc xi-rô tím lên mảng bám. Do sợi nấm cấy sâu nên sau khi màng đốm trắng biến mất cần bôi thuốc thêm vài ngày để phòng bệnh tái phát. Đồng thời uống vitamin B2.
2/ Bình sữa và núm vú của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ nên được ngâm trước trong nước soda 2% hoặc nước xà phòng, sau đó đun sôi để khử trùng. Đối với trẻ đang bú mẹ, trước khi cho trẻ bú, mẹ nên rửa tay trước, sau đó dùng khăn ướt ấm lau sạch đầu vú.
3/Đối với trẻ bệnh nặng, sốt cao, kéo dài hoặc tiêu chảy cần đưa trẻ đến bệnh viện để điều trị. Nystatin có thể dùng đường uống, mỗi lần từ 5 đến 100.000 đơn vị, ngày 4 lần.
(4) Cha mẹ không nên tự ý quyết định và lạm dụng kháng sinh như khi trẻ ốm bình thường.
Y học cổ truyền điều trị bệnh tưa miệng như thế nào?
Đông y cho rằng có hai nguyên nhân chủ yếu gây ra chứng tưa lưỡi: Một là do người mẹ khi mang thai thích ăn đồ chiên, rán, những thức ăn này sẽ tích nhiệt ở tỳ vị, thai nhi bị ảnh hưởng từ nhiệt và độc tố của mẹ nên sau khi sinh sẽ phát bệnh, mặt khác do chăm sóc không đúng cách, tâm tỳ của trẻ tích nhiệt, hoặc bẩm sinh tiên thiên không đầy đủ, hoặc sau một thời gian bệnh kéo dài và tiêu chảy, sức đề kháng của cơ thể suy yếu, hoặc miệng không sạch sẽ, do nhiễm trùng cục bộ. Căn cứ vào sự khác biệt về thể chất của trẻ em và các nguyên nhân khác nhau, có thể xuất hiện hai hội chứng lớn là tâm tỳ tích nhiệt và hư hỏa bốc lên.
1/ Tâm tỳ tích nhiệt
Các triệu chứng bao gồm miệng và lưỡi phủ vảy trắng, phân bố lan tỏa, niêm mạc đỏ, mặt đỏ, môi đỏ hoặc kèm theo sốt, khó chịu, la hét và khóc, hơi thở có mùi hôi và tiết nước dãi, khô miệng và khát nước, nước tiểu vàng ít, phân khô, đầu lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch tế sác.
Trị pháp: Thanh tiết tâm tỳ.
Xử phương: Thanh nhiệt tả tỳ tán hợp Đạo xích đan gia giảm, dùng Hoàng cầm, Sinh địa, Trúc diệp, Xích phục linh, Huyền sâm, Mạch đông, Hoàng liên, Thạch cao sống, Cam thảo sống, sắc uống, ngày 1 thang, phân 3 lần uống. Nếu táo bón gia Đại hoàng sống, Huyền minh phấn; Nếu khô họng khát nước gia Thiên hoa phấn, Lô căn. Nếu chứng trạng nhẹ có thể dùng Hoàng liên Cam thảo sắc nước quét, chấm vào miệng.
2/ Hư hoả thượng phù
Triệu chứng bao gồm trong miệng có vảy trắng rải rác, dây dưa nhấp nhô, niêm mạc đỏ không rõ rệt, sắc mặt trắng, gò má đỏ, lòng bàn tay chân nóng, miệng khô không khát, mệt mỏi, đại tiện lỏng, chất lưỡi đỏ mềm, ít rêu lưỡi, mạch tế sác.
Trị pháp: Tư thận dưỡng âm, dẫn hoả quy nguyên.
Xử phương: Tri bá địa hoàng hoàn gia giảm. Sinh địa, Thục địa, Tri mẫu, Hoàng bá, Đan bì, Sơn dược, Sơn thù, Trạch tả, Nhục quế, sắc ngày 1 thang chia ba lần uống. Nếu gò má đỏ, mồ hôi trộm, trằn trọc ngủ ít, gia Địa cốt bì, Long cốt (nung), Mẫu lệ (nung); Ăn kém, phân lỏng, gia Bạch truật, Đảng sâm, Ý rĩ nhân, Sơn tra, khứ Thục địa, Tri mẫu.
Các phương pháp ngoại trị cho bệnh tưa miệng là gì?
1/ Liệu pháp châm cứu
Chọn các huyệt chính: Địa thương, Giáp xa, Thừa tương. Dự trữ dùng huyệt Hợp cốc. Mỗi lần chọn 2 huyệt, kích thích nhẹ, ngày 1 lần.
2/ Phương pháp đắp thuốc bên ngoài
①Thanh đại tán, Băng bằng tán đắp bột thuốc vào nơi bị bệnh, 3 lần một ngày. ②Bách thảo sương, Thanh đại, Cảm lãm thán (sao thành than) lượng bằng nhau, nghiền thành bột mịn, rắc lên chỗ bị đau, ngày 3 lần. ③ Ngũ bội tử 30g sao vàng, thêm 2g đường trắng, đun một lát, đợi đường tan chảy, chắt ra phơi khô, trộn với 20g phèn chua khô nghiền nhỏ, trộn với dầu vừng làm sền sệt, bôi lên da. vùng bị bệnh, ngày 2-2 lần, ngày 3 lần.
3/ Xoa bóp trị liệu
① Bấm và xoa huyệt nội Lao cung 100-300 lần (khoảng 3 phút) để thanh tâm, tiết hỏa. ②Ấn nawsb tổng số cơ, 100-300 lần (khoảng 3 phút), thư giãn và sảng khoái. ③ Day nhẹ huyệt Tiểu Hoành Văn 100-300 lần (khoảng 3 phút) để thanh nhiệt, thông ngực, hóa đờm.Huyệt Tiểu hoành văn
④ Đẩy Thiên Hà thuỷ, 100-300 lần, để giải nhiệt và phiền não. Thiên hà thuỷ
(4) Điều trị nhĩ châm
Các huyệt chữa bệnh tưa miệng thường dùng là: miệng, khẩu cái trên, khẩu cái dưới, dùng kích thích vừa phải, lưu kim 30 phút, ngày 1 lần, 3 lần làm một liệu trình. Hoặc dùng liệu pháp ấn bằng hạt đậu, dùng hạt trắng, dùng băng dính để ấn vào các huyệt trên, cũng có thể đạt được hiệu quả tương tự.
Ly Trường Xuân dịch
14/8/23