Những bệnh nào có liên quan mật thiết đến rối loạn nhịp tim?
Rối loạn nhịp tim (loạn nhịp) thường gặp nhất ở bệnh nhân tim mạch, nhưng thực tế cũng có thể xảy ra ở người có trái tim bình thường. Các bệnh lý liên quan chặt chẽ đến rối loạn nhịp gồm:
1/ Các bệnh tim thực thể: Bệnh mạch vành (đặc biệt là nhồi máu cơ tim cấp),
Viêm cơ tim, bệnh cơ tim, suy tim,thấp tim v.v.
2/ Rối loạn điện giải và tác dụng của thuốc:
Tăng kali máu (thường gặp ở suy thận, nhiễm toan, sốc hoặc nạp thừa kali),
Hạ kali máu (thường do đói ăn, dinh dưỡng kém, nôn mửa, tiêu chảy, cắt đoạn ruột non…),
Sử dụng digitalis kèm rối loạn điện giải dễ gây loạn nhịp hơn.
3/ Nhiễm trùng và virus:
Nhiều bệnh nhiễm trùng (vi khuẩn hoặc virus) đều có thể kèm loạn nhịp, như cảm cúm, sốt, viêm amiđan, viêm họng… Có trường hợp thoáng qua, hết nhiễm trùng thì nhịp trở lại bình thường, nhưng cũng có trường hợp di chứng lâu dài khó hồi phục.
4/ Các rối loạn nội tiết:
Cường giáp hoặc suy giáp,ri loạn tuyến thượng thận, tuyến tụy (như tăng aldosterone, toan đái tháo đường, hạ đường huyết tự phát…),
Tất cả đều có thể gây nhiều dạng loạn nhịp.
Vì sao cảm mạo, sốt có thể dẫn đến rối loạn nhịp tim?
Nhiều bệnh nhân nhận thấy khi bị cảm, sốt thường cảm giác “tâm hoảng” (心慌) là tim đập nhanh hoặc “nhịp không đều.” Điều này có thể do virus hoặc vi khuẩn tác động, với cơ chế bệnh lý tổng hợp:
Khi sốt, nhịp tim và thân nhiệt tăng song song (thân nhiệt tăng 1°C, nhịp tim tăng khoảng 8–10 lần/phút). Nguyên nhân một phần do nhiệt độ cao kích thích trực tiếp ổ phát nhịp của tim, một phần do dòng máu trở về tim tăng.
Nhổ răng có thể gây rối loạn nhịp tim không?
Khi bệnh nhân đi nhổ răng, bác sĩ nha thường hỏi “Bạn có bị bệnh tim? Cao huyết áp không?” Lý do:
Thường gặp nhất là:
Cường giáp (tăng năng tuyến giáp) nghĩa là quá nhiều hormone giáp (thyroxin…), làm tăng nồng độ trong máu. Hormone giáp cao kích thích giao cảm, làm catecholamine tăng, tăng thụ thể β-adrenergic…, hoặc tác dụng trực/gián tiếp lên cơ tim, mạch ngoại vi, dẫn đến tăng co bóp cơ tim, nhịp nhanh, tăng lưu lượng tim và tiêu hao oxy nhiều, gây rối loạn nhịp.
Xơ vữa động mạch (đặc biệt mạch vành) là bệnh thường gặp ở Việt Nam. Bệnh nhân có rối loạn lipid, tích tụ mảng xơ vữa trong thành mạch, gây hẹp/nút lòng mạch. Nếu xảy ra ở động mạch vành, dòng máu nuôi tim bị thiếu, làm hệ dẫn truyền tim không được cấp máu đầy đủ, gây rối loạn dẫn truyền, sinh nhiều loạn nhịp.
Các loạn nhịp do cường giáp hay gặp:
Biểu hiện lâm sàng loạn nhịp ở bệnh nhân cường giáp?
Ngoài các triệu chứng cường giáp như ăn nhiều, sụt cân, mệt mỏi, hay cáu gắt, sợ nóng, đổ mồ hôi, hiệu suất lao động giảm…, bệnh nhân còn xuất hiện nhịp tim rối loạn:
Biểu hiện lâm sàng loạn nhịp ở bệnh nhân mạch vành
Với bệnh mạch vành, nếu có ngoại tâm thu (thưa) thường không triệu chứng hoặc chỉ hơi đánh trống ngực, chóng mặt. Khi ngoại tâm thu thất dày, bệnh nhân dễ thấy tim đập không đều, khó chịu vùng trước tim, mệt mỏi, hụt hơi…
Khi có cơn tim nhanh (tachycardia), bệnh nhân đột nhiên cảm thấy tim đập dồn dập, nhịp đều và rất nhanh. Cơn kéo dài vài giây đến vài giờ, thậm chí vài ngày, kèm sợ hãi, bất an. Nếu tần số vượt 200 lần/phút, có thể làm hạ huyết áp, thiếu máu nhiều cơ quan: Chóng mặt, buồn nôn, nôn, đau thắt ngực, ngất, suy tim, hoặc xuất hiện hội chứng Adams-Stokes và thậm chí đột tử.
Trường hợp rung thất (VF) hay cuồng thất (VT) nặng, bệnh nhân nhanh chóng mất ý thức, không bắt được mạch, da lạnh, dấu suy tuần hoàn rõ. Nếu không khử rung kịp, thường tử vong ngay.
Khi bệnh mạch vành xuất hiện block nhĩ – thất, mức độ block khác nhau sẽ gây ra những triệu chứng lâm sàng khác nhau.
Nếu nhịp thất chậm quá hoặc tim ngừng đập, bệnh nhân có thể mất ý thức trong chốc lát. Khi tim ngừng co bóp quá 15 giây, dễ xuất hiện ngất, co giật, tím tái… (hội chứng Adams–Stokes).
Phép chọn bài thuốc (phương) điều trị loạn nhịp tim do viêm cơ tim
Loạn nhịp do viêm cơ tim thuộc phạm trù “tâm quý” và “hung tý” (đau thắt ngực) trong y học cổ truyền (YHCT). “Tâm quý” còn được gọi là “kinh quý” hoặc “chứng rối loạn nhịp” với biểu hiện đánh trống ngực.
Trong điều trị YHCT, bệnh được chia thành giai đoạn cấp (cấp tính) và giai đoạn mạn, cụ thể:
(1) Giai đoạn cấp
①Phong nhiệt ngoại cảm
Triệu chứng: Sốt đột ngột kèm ho, hồi hộp đánh trống ngực, bứt rứt, tức ngực hay đau ngực, có thể khó thở, mệt mỏi gia tăng sau vận động, mất ngủ, ăn uống kém, nước tiểu vàng, đại tiện táo bón. Lưỡi rêu trắng dày hoặc vàng mỏng, vàng nhờn; mạch tế vô lực hoặc mạch kết đại (bỏ nhịp). Kiểm tra y học hiện đại có men tim tăng, bạch cầu 1–2 vạn/mm³, bạch cầu trung tính tăng; điện tâm đồ (ECG) thấy ST-T thiếu máu.
Phép trị: Thanh nhiệt giải độc, khoan hung ninh tâm (làm dịu ngực, ổn định tim).
Phương dược: Bài Ngân Kiều Tán gia giảm.
Kim ngân hoa 20g, Liên kiều 12g, Kinh giới 10g, Đạm trúc diệp 10g, Đại lực tử 10g, Lô căn 15g, Bản lam căn 20g, Ngư tinh thảo 20g, Toàn qua lâu 15g, Cam thảo 6g.
Nếu sốt cao: gia Thạch cao 30g, Thiên hoa phấn 12g.
Nếu ho đàm vàng: gia Hoàng cầm 10g, Tang bạch bì 12g, Tri mẫu 10g.
②Tâm khí hư
Triệu chứng: Có tiền sử cảm ngoại tà 0,5~1 tháng, tái phát do lao lực. Đột ngột tức ngực, khó thở, đau ngực, tim đập nhanh, vã mồ hôi, mất ngủ, chán ăn, tiểu trong dài, phân lỏng nát ngày 2–3 lần. Lưỡi nhợt, rìa lưỡi có vết hằn răng, rêu trắng mỏng, mạch trầm tế hoặc tế mà kết đại. Kiểm tra hiện đại: men tim tăng; ECG: ST-T thiếu máu.
Phép trị: Bổ ích tâm khí, hóa đàm trọc, an thần.
Phương dược: Bài Sinh mạch tán hợp Quế chi thang gia giảm.
Hồng sâm 6g, Mạch môn 15g, Ngũ vị tử 10g, Quế chi 12g, Bạch thược 12g, Chích cam thảo 12g, Hoàng kỳ 20g, Đại táo 10g, Sinh khương 10g, Toàn qua lâu 20g.
Nếu dương khí suy, sợ lạnh tay chân lạnh: gia Phụ tử 15g, Pháo khương 10g.
Nếu phù chi, tiểu ít: gia Phục linh 15g, Xa tiền tử 15g, Trạch tả 12g.
Nếu đổ mồ hôi nhiều: gia Long cốt 20g, Ma hoàng căn 10g, Phù tiểu mạch 15g.
(2) Giai đoạn mạn
①Khí âm lưỡng hư
Triệu chứng: Tâm quý, hụt hơi, mệt mỏi, sắc mặt nhợt, tự hãn, đạo hãn, miệng khô, họng khát, hễ gắng sức là tim đập nhanh, mệt thêm, ngủ kém, ăn kém, đại tiểu tiện còn bình thường. Lưỡi hơi đỏ, rêu ít hoặc mỏng, mạch tế nhược hoặc kết đại (结代).
Phép trị: Ích khí dưỡng âm, cố biểu phục mạch.
Phương dược: Sinh mạch tán hợp Gia vị Chích cam thảo thang.
Tây dương sâm 6g, Mạch môn 12g, Ngũ vị tử 10g, Hoàng kỳ 20g, Quế chi 10g, Bạch thược 12g, A giao 15g, Chích cam thảo 10g, Sinh khương 6g, Ma nhân 10g, Sinh địa 12g, Đại táo 12g.
Nếu phân lỏng: bỏ Ma nhân, Sinh địa.
Nếu mất ngủ, nhiều mộng: thêm Toan táo nhân 12g, Dạ giao đằng 20g.
Nếu tức ngực, khó thở: thêm Qua lâu 15g, Giới bạch 10g, Bán hạ 10g (tuyên tý thông dương).
Nếu khô miệng về đêm: gia Thạch hộc 15g, Thiên hoa phấn 10g (sinh tân chỉ khát).
Nếu đầy bụng, kém ăn: gia Sa nhân 10g, Trần bì 12g, Mộc hương 6g (khai vị).
②Khí hư, huyết ứ, đàm trọc trở trệ
Triệu chứng: Tâm quý, hụt hơi, đau tức ngực, mệt mỏi, đặc biệt rõ khi vận động, da mặt tối ám, ăn uống kém, đại tiểu tiện cơ bản bình thường. Mạch tế sáp, lưỡi tím sẫm hoặc có ứ ban.
Phép trị: Ích khí, hoạt huyết, hóa trọc.
Phương dược: Sinh mạch ẩm hợp Đan sâm ẩm gia giảm.
Đảng sâm 15g, Ngũ vị tử 10g, Mạch môn 12g, Đan sâm 20g, Đàn hương 10g, Sa nhân 10g, Xuyên khung 12g, Đương quy vĩ 15g, Nguyên hồ (Huyền hồ) 12g, Chích cam thảo 10g, Sinh hoàng kỳ 20g, Qua lâu 20g.
Nếu lưỡi tím tối, đau nhói nhiều: thêm Đào nhân 10g, Hồng hoa 6g (hoạt huyết).
Nếu khí hư nhiều, có thể bỏ Đảng sâm, dùng Hồng sâm 6g; hoặc nếu bệnh có nhiệt, miệng khô, rêu mỏng vàng thì đổi sang Tây dương sâm 5g (dưỡng âm ích khí).
Nếu mất ngủ: thêm Toan táo nhân 12g, Dạ giao đằng 20g (dưỡng tâm an thần).
Các thuốc đông y thành phẩm điều trị viêm cơ tim gây loạn nhịp
Khi viêm cơ tim đã qua giai đoạn cấp tính, còn lại biểu hiện hồi hộp, tức ngực, mệt mỏi, ECG bình thường hoặc còn thay đổi nhẹ ST-T, thiếu máu cơ tim ít, loạn nhịp mức nhẹ… thì chủ yếu điều dưỡng. Giai đoạn này dùng các bài thuốc thành phẩm (trung成药) rất tiện, kinh tế, hiệu quả: