Tham khảo tư liệu:
Con người, khi đang đói mà ăn một lượng lớn quả hồng trong một lần, do chất tanin (chất chát) trong quả hồng tác dụng với axit dạ dày, rất dễ hình thành những khối bền vững, không tan trong nước, không tiêu hóa được, gọi là “sỏi hồng” ở dạ dày. Sỏi hồng lưu lại lâu ngày trong dạ dày, không thể tiêu hóa, hơn nữa do thể tích lớn hơn đường kính của cơ thắt môn vị khi nở ra, nên không thể thải xuống ruột. Vì thế, nó có thể gây viêm niêm mạc dạ dày, gây lở loét, viêm loét, đồng thời dẫn đến rối loạn chức năng dạ dày. Bệnh lý như vậy được gọi là “Bệnh sỏi dạ dày do quả hồng” (胃柿石症).
Tỉ lệ mắc bệnh này thường cao ở các khu vực trồng hồng và vào mùa hồng chín. Quả hồng chưa chín có hàm lượng tanin cao hơn, nên ăn quả hồng chưa chín càng dễ mắc bệnh sỏi dạ dày do quả hồng.
Bệnh sỏi hồng có thể biểu hiện ở hai thể: cấp tính và mạn tính. Thể cấp tính có thể khởi phát sau khoảng nửa tiếng ăn nhiều quả hồng, với triệu chứng nặng tức ở thượng vị, đầy trướng, buồn nôn, nôn, trong dịch nôn có mảnh quả hồng, cũng có thể nôn ra máu. Dưới tác động kích thích của sỏi hồng, có thể phát sinh viêm dạ dày mạn tính, loét dạ dày, rối loạn chức năng dạ dày. Quá trình bệnh kéo dài hơn sáu tháng được xếp vào thể mạn tính. Triệu chứng của thể mạn tính tương tự với loét hoặc viêm dạ dày mạn tính, như biếng ăn, khó tiêu, đau thượng vị, ợ chua, nóng rát. Ở người bệnh có sỏi lớn, có thể sờ thấy khối cứng ở thượng vị.
Biến chứng của sỏi hồng trong dạ dày là sỏi chèn ép thành dạ dày, làm hoại tử và thủng dạ dày. Hoặc do được đẩy xuống ruột lại gây tắc ruột.
Nếu bệnh nhân có tiền sử từng ăn một lượng lớn quả hồng trong một lần, trong vòng một năm sau đó xuất hiện triệu chứng ở dạ dày, cần chụp X-quang (thông qua soi hoặc chụp thường) để kiểm tra ổ bụng. Nếu trong dạ dày có sỏi hồng, có thể phát hiện hình cản quang (bóng sỏi) trên phim (vì sỏi hồng có mật độ cao, khó để tia X xuyên qua). Nội soi dạ dày cũng có thể nhìn thấy sỏi hồng màu nâu sẫm có thể di chuyển, đồng thời quan sát được tình trạng viêm và loét kèm theo. Một số bệnh nhân có phản ứng dương tính với xét nghiệm máu ẩn trong phân; khi phân tích dịch vị, độ axit tự do trong dạ dày thường cao hơn bình thường.
Về điều trị, có thể dùng dung dịch 5% muối natri bicacbonat (5% soda) rửa dạ dày, có tác dụng hòa tan dần sỏi hồng. Khi sỏi nhỏ lại, nó có thể tự thoát qua môn vị. Người ta cũng có thể dùng kìm sinh thiết hoặc lưới qua nội soi để kẹp vỡ hoặc lấy sỏi ra. Nếu các biện pháp trên không hiệu quả hoặc đã có biến chứng, có thể cân nhắc phẫu thuật lấy sỏi.
Theo y học cổ truyền (Đông y), bệnh sỏi dạ dày do quả hồng khởi phát do ăn uống không điều độ, tham ăn quả hồng, làm đồ ăn đọng lại bên trong, gây tích trệ ở dạ dày, dẫn đến rối loạn tiếp nhận và vận hành của vị khí. Nếu có các triệu chứng như đầy tức, đau ở vùng thượng vị, ăn uống không ngon, ợ hơi, ợ chua, buồn nôn hoặc tiêu chảy, chất nôn hoặc phân có mùi chua ôi do thức ăn không tiêu, có thể điều trị bằng các bài thuốc tiêu thực đạo trệ như Chỉ Thực Đạo Trệ Hoàn, Bảo Hòa Hoàn hoặc Sơn Tra Hoàn. Nếu là thể mạn tính, do tích trệ và khí trệ lâu ngày dẫn đến ứ trệ tuần hoàn máu, ứ huyết đọng tại dạ dày, gây đau nhói, vị trí đau cố định, ấn đau, lưỡi có màu tím sẫm, có thể dùng Chỉ Thực Đạo Trệ Hoàn gia thêm Tam Lăng, Nga Truật, Đào Nhân, Hồng Hoa, Sơn Tra sống để tiêu thực đạo trệ, hoạt huyết hóa tích. Trường hợp sỏi hồng kèm viêm dạ dày mạn tính hay loét dạ dày, có thể tham khảo phương pháp biện chứng luận trị như đã nêu trong phần “Viêm dạ dày mạn tính”.
BỆNH KẾT KHỐI DẠ DÀY LÀ GÌ?
Nếu trẻ ăn nhiều táo tàu (táo đen), quả hồng, sơn tra hoặc quýt khi đói, rất dễ mắc chứng kết khối dạ dày. Do các loại trái cây này chứa nhiều axit hữu cơ, tanin và xenlulo, dưới sự co bóp của dạ dày sẽ kết hợp với axit dạ dày tạo thành khối cứng. Một số bé gái có thói quen giật tóc, nhai nuốt tóc, khi tóc vào dạ dày, chúng dễ bám vào thành dạ dày, tích tụ dần, hòa với thức ăn và dịch nhầy tạo thành khối bện. Khối này ngày càng to trong dạ dày, liên tục kích thích bề mặt dạ dày, gây khó tiêu. Kết khối từ thực vật thường xuất hiện triệu chứng sau nửa giờ đến nửa ngày kể từ lúc ăn; kết khối do tóc vì cần tích tụ lâu hơn nên khởi phát cũng muộn hơn. Trẻ thường kêu đau vùng thượng vị, buồn nôn, nôn, chán ăn. Nếu không chẩn đoán kịp thời, trẻ sẽ dần sút cân, thiếu máu.
Do trẻ thường đến viện khám vì đau bụng, bác sĩ cẩn thận khám có thể sờ thấy khối cứng di động ở vùng bụng. Nếu gia đình hoặc trẻ cung cấp được tiền sử ăn nhiều táo đen hay quả hồng, chẩn đoán kết khối dạ dày không khó. Hiện nay có nhiều phương pháp thăm khám, dưới đây là các phương pháp giúp chẩn đoán xác định:
Chụp baryt (chụp X-quang dạ dày – tá tràng có cản quang)
Sau khi trẻ uống dung dịch bột baryt, quan sát trên màn huỳnh quang có thể thấy khuyết hình ảnh cản quang trong dạ dày, kích thước tương đương với khối kết, di chuyển theo thay đổi tư thế cơ thể.
Siêu âm ổ bụng (B-mode)
Có thể thấy vùng tăng âm mạnh (phản xạ siêu âm mạnh) ở thượng vị. Vị trí tăng âm cố định cho thấy có khối kết trong dạ dày.
Nội soi dạ dày
Qua ống nội soi sợi mềm có thể quan sát rõ hình dạng, kích thước và tính chất của khối kết.
Các phương pháp điều trị thường dùng:
Nội soi dạ dày lấy khối kết
Nếu khối kết lớn, có thể tán nhỏ trước, rồi lấy dần qua nội soi.
Điều trị bằng thuốc Đông y, chia làm hai thểThể quả trái tích trệ: Có tiền sử ăn nhiều quả hồng, táo đen, buồn nôn, nôn ra mảnh hồng hoặc táo đen, sờ được khối ở thượng vị, ấn đau rõ, rêu lưỡi nhờn, mạch hoạt. Trị bằng phương pháp lý khí trợ vận, tiêu đạo hóa tích. Bài thuốc thường dùng là Lục Ma Thang gia giảm, gồm: Binh lang, Kê nội kim, Tiêu sơn tra, Chỉ thực, Uất kim, Thần khúc, Mạch nha, Mộc hương… sắc nước uống, chia 2 lần/ngày. Nếu đầy bụng, đau nhiều thì gia thêm Đại phúc bì, Lai phục tử; nếu buồn nôn, nôn mửa nhiều thì gia Bán hạ, Toàn qua lâu (hoặc Huyền hồ); nếu tiêu chảy phân lỏng thì gia Thương truật, Pháo khương; nếu táo bón thì gia Đại hoàng, Huyền minh phấn; trường hợp gầy sút có thể gia Đảng sâm, Phục linh.
Thể hàn ngưng ứ kết: Vùng thượng vị đầy đau, sờ thấy khối cứng chắc ở bụng trên, ăn uống giảm dần, miệng tiết nước bọt trong, thích ấm, thích xoa, người gầy yếu, mệt mỏi, phân lỏng, lưỡi tím, rêu mỏng nhờn, mạch trầm sáp. Trị bằng ôn trung tán tích, hóa ứ. Bài thuốc thường dùng gồm Tam lăng, Nga truật, Mộc hương, Thanh bì, Phụ tử, Lương khương, Kê nội kim, Tô ngạnh… sắc nước uống, chia 2 lần/ngày. Nếu đau bụng nhiều thì gia Thược dược, Uất kim; nếu ăn kém thì gia Sơn tra, Thương truật; khối kết cứng to thì gia Côn bố, Hải tảo; miệng tiết nhiều nước bọt trong thì gia Ngô thù du, Can khương.
Phẫu thuật ngoại khoa
Nếu khối quá lớn, tồn tại lâu, kèm theo tắc nghẽn dạ dày hoặc dấu hiệu thủng dạ dày, cần phẫu thuật khẩn cấp.
Trường Xuân