BỆNH MẠCH MÁU NÃO.脑血管病
BỆNH MẠCH MÁU NÃO (脑血管病)
1/. Khái quát về bệnh mạch máu não
Bệnh mạch máu não (脑血管病) là nhóm bệnh lý do các động mạch trong não hoặc các động mạch vùng cổ cung cấp máu cho não bị tổn thương, dẫn đến rối loạn tuần hoàn nội sọ, làm tổn thương mô não. Biểu hiện lâm sàng thường là đột ngột ngã quỵ, hôn mê, có thể kèm méo miệng, mắt xếch (miệng mắt lệch), khó nói hoặc liệt nửa người.
1.1. Phân loại theo diễn tiến
- Bệnh mạch máu não cấp tính (中风, “trúng phong”)
Bao gồm cơn thiếu máu não thoáng qua (TIA), huyết khối não, tắc mạch não, bệnh não do cao huyết áp, xuất huyết não, xuất huyết dưới nhện,…
- Bệnh mạch máu não mạn tính
Bao gồm xơ cứng động mạch não, sa sút trí tuệ do bệnh mạch não, hội chứng trộm máu động mạch não, bệnh Parkinson,…
Khi nói đến “bệnh mạch máu não”, thông thường ta hay chỉ các thể cấp tính (tai biến mạch máu não), vì phát bệnh đột ngột, dễ gây tử vong và được quan tâm nhiều hơn. Còn các thể mạn tính diễn tiến chậm, thường bị xem nhẹ.
1.2. Phân loại theo tính chất
- Bệnh mạch máu não thiếu máu cục bộ (Ischemic Stroke)
Đây là dạng hay gặp nhất (70–80% tổng số ca), do xơ vữa động mạch não,… làm hẹp lòng mạch, giảm hoặc tắc hoàn toàn dòng máu não, mô não bị thiếu máu – thiếu oxy, dẫn đến các triệu chứng tổn thương.
- Bệnh mạch máu não xuất huyết (Hemorrhagic Stroke)
Thường do cao huyết áp lâu năm, dị dạng mạch máu bẩm sinh,… gây vỡ mạch máu, máu tràn ra ngoài, chèn ép mô não, làm tắc trở tuần hoàn não. Người bệnh hay gặp tăng áp lực nội sọ, rối loạn ý thức,… Tỉ lệ này chiếm khoảng 20–30% các ca.
Ngoài ra, từ thập niên 1970, nhờ ứng dụng rộng rãi chụp cắt lớp vi tính (CT) và chụp cộng hưởng từ (MRI), lâm sàng còn phát hiện một loại đột quỵ “hỗn hợp” (vừa có chảy máu, vừa có nhồi máu) chiếm khoảng 2,67% bệnh nhân nhập viện cùng kỳ. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh chưa hoàn toàn sáng tỏ, nhưng có thể liên quan đến mức độ nặng của cao huyết áp và xơ vữa động mạch.
1.3. Thống kê dịch tễ
Theo điều tra dịch tễ trong và ngoài nước, bệnh mạch máu não là một trong những bệnh thường gặp, đe dọa nghiêm trọng sức khỏe và tính mạng con người. Tại Bắc Kinh (thống kê năm 1994), tỉ lệ mắc bệnh mạch máu não đứng hàng đầu. Đây cũng là một trong ba nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới. Theo số liệu Trung Quốc (1991), mỗi năm có khoảng 1,5 triệu ca đột quỵ mới, là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu tại nhiều địa phương.
Bệnh mạch máu não không chỉ có tỷ lệ tử vong cao, mà còn có tỷ lệ tàn phế cao. Nhiều trường hợp nặng, dù được cấp cứu qua cơn nguy kịch, vẫn để lại di chứng: liệt nửa người, khó nuốt, mất ngôn ngữ hoặc sa sút trí tuệ,… gây gánh nặng cho gia đình và xã hội.
1.4. Các yếu tố nguy cơ chính
- Cao huyết áp, xơ cứng động mạch não
- Đái tháo đường
- Bệnh mạch vành
- Yếu tố gia đình (di truyền)…
Bệnh mạch máu não có đặc điểm khởi phát đột ngột, tiến triển nhanh, tính chất gia đình cao, là trọng điểm cần tập trung sơ – cấp cứu tại nhà.
- Bệnh mạch máu não và các yếu tố khởi phát
Bệnh mạch máu não thường gặp ở người có cao huyết áp và xơ vữa động mạch não, nhất là khi cơ thể quá mệt mỏi hoặc biến động tâm lý mạnh. Do đó, điều trị và kiểm soát cao huyết áp, tránh căng thẳng và mệt mỏi quá mức là những biện pháp chủ yếu để phòng ngừa. Ngoài ra, thay đổi khí hậu cũng là yếu tố không nên xem nhẹ. Theo thống kê, trên một nửa số ca bệnh xảy ra vào cuối thu đầu đông, khi thời tiết thay đổi đột ngột. Nguyên nhân:
- Nhiệt độ thấp làm giảm tính đàn hồi của mạch máu ngoại vi, tăng sức cản ngoại vi, gây tăng huyết áp và nguy cơ vỡ mạch xuất huyết não.
- Kích thích lạnh gây hưng phấn thần kinh giao cảm, tăng tiết hormone vỏ thượng thận, dẫn tới co thắt tiểu động mạch, tăng sức cản ngoại vi, huyết áp tăng.
- Lạnh còn làm tăng hàm lượng fibrinogen trong máu, tăng độ nhớt, tạo thuận lợi cho hình thành huyết khối.
- Các tên gọi khác của bệnh mạch máu não
Bệnh mạch máu não có rất nhiều tên gọi. Ví dụ, một bệnh nhân ở địa phương được chẩn đoán là “Tai biến mạch máu não” (脑血管意外), lên bệnh viện tỉnh được gọi là “Đột quỵ não” (脑卒中), đến Bắc Kinh lại được chẩn đoán “Trúng phong” (中风). Thực ra, tất cả các tên gọi này đều chỉ chung một bệnh. Sở dĩ tồn tại nhiều tên gọi, là do sự phát triển từ y học truyền thống và y học hiện đại:
- Trúng phong (中风): Theo y học cổ truyền, bệnh xuất hiện đột ngột, nguy hiểm, diễn tiến khó lường như gió.
- Đột quỵ (卒中): Từ “卒” mang nghĩa “bất ngờ”, nhấn mạnh tính cấp diễn, “中” tức là bệnh “trúng” vào não mạch.
- Tai biến mạch máu não (脑血管意外): Nhấn mạnh “sự cố bất thường” của mạch máu não.
Các cách gọi trên đều mang ý nghĩa mô tả lâm sàng, song chưa phản ánh thực chất bệnh học. Ngày nay, nhờ chẩn đoán hình ảnh (CT, MRI) rõ ràng, vị trí, kích cỡ tổn thương được xác định nhanh hơn, tên gọi dần sẽ chuẩn xác, cụ thể hơn.
- Bệnh mạch máu não chia làm mấy loại?
Bệnh mạch máu não thường được chia thành 2 nhóm chính: thiếu máu và xuất huyết.
4.1. Nhóm thiếu máu (nhồi máu não)
- Cơn thiếu máu não thoáng qua (TIA)
Còn gọi “tiểu đột quỵ” hoặc “một cơn thiếu máu não tạm thời”. Nguyên nhân thường do xơ vữa động mạch, gây tổn thương cục bộ và rối loạn chức năng trong thời gian ngắn.
- Huyết khối não (não tắc mạch do cục máu đông hình thành tại chỗ)
Thường do xơ vữa động mạch, viêm động mạch, chấn thương, bệnh lý huyết học… làm hẹp tắc mạch não.
- Tắc mạch não (não tắc mạch do “dị vật” từ nơi khác di chuyển đến)
Hay gặp nhất do bệnh tim mạch (ví dụ rung nhĩ, viêm nội tâm mạc), tạo huyết khối buồng tim, mảng sùi hay mảnh vỡ di chuyển lên não gây tắc. Ngoài ra có thể do gãy xương (mỡ từ tủy xương), sán ký sinh, vi khuẩn, khí (do chọc tĩnh mạch, phẫu thuật lồng ngực),…
4.2. Nhóm xuất huyết
- Xuất huyết não (chảy máu nhu mô não)
Không tính chấn thương sọ não. Thường do cao huyết áp, xơ cứng động mạch, u não,…
- Xuất huyết dưới nhện
Do vỡ mạch máu não trên bề mặt não hoặc đáy não, máu chảy vào khoang dưới nhện. Nguyên nhân thường do túi phình động mạch, dị dạng mạch, cao huyết áp, xơ vữa động mạch, bệnh lý máu,…
Thống kê nước ngoài, các thể thiếu máu (não nhồi máu) chiếm 59,2–85%. Tỉ lệ xuất huyết (trừ Nhật Bản) thường dưới 20%. Ở Trung Quốc (năm 1984, điều tra tại nông thôn 280 ca đột quỵ hoàn toàn mới), tỉ lệ xuất huyết dưới nhện 3,9%, xuất huyết não 44,6%, huyết khối não 46,4%, tắc mạch não 2,5%, không phân loại 2,9%. Như vậy, ở Trung Quốc, tỉ lệ xuất huyết não (44,6%) cao hơn nhiều so với quốc tế, cần tiếp tục nghiên cứu làm rõ.
- Phòng ngừa bệnh mạch máu não
(Trích từ tạp chí khoa học phổ thông y dược 《求医问药-开卷有益》, tác giả: Đỗ Hồng Kiên (杜红坚))
Bệnh mạch máu não là một trong những bệnh thường gặp, gây nguy hiểm cho sức khỏe và sinh mạng. Do đó, tăng cường phòng ngừa là việc hết sức quan trọng. Muốn phòng ngừa, trước hết phải kiểm soát các yếu tố nguy cơ chính:
- Cao huyết áp
Cao huyết áp là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất đối với cả xuất huyết và thiếu máu não. Huyết áp càng cao, nguy cơ đột quỵ càng lớn. Điều trị sớm và tích cực có thể giảm rõ rệt tỉ lệ đột quỵ và tử vong.
- Người trên 35 tuổi nên đo huyết áp định kỳ, ai có huyết áp tâm thu ≥140 mmHg hoặc tâm trương ≥90 mmHg phải điều trị theo đúng hướng dẫn.
- Nếu đã mắc cao huyết áp, cần chú ý:
- Hạn chế muối, ăn uống thanh đạm.
- Vận động vừa sức.
- Kiên trì uống thuốc, không tự ý ngừng.
- Bệnh tim (mọi loại bệnh tim)
Tim và não cùng chung hệ tuần hoàn, khi chức năng tim suy giảm, cung lượng tim và lượng tuần hoàn giảm, dòng máu nuôi não cũng ít đi. Tích cực chữa các bệnh tim giúp ngăn ngừa đột quỵ.
- Đái tháo đường
Rối loạn chuyển hóa glucose làm thành mạch xơ hóa, hẹp, dễ gây nhồi máu não. Kiểm soát tốt đường huyết:
- Ăn uống hợp lý, hạn chế tổng năng lượng, đảm bảo dưỡng chất, cân bằng các nhóm bột – đạm – béo.
- Vận động vừa sức, kết hợp chế độ ăn và thuốc.
- Cơn thiếu máu não thoáng qua (TIA)
Đây là giai đoạn não thiếu máu tạm thời, có thể biểu hiện rối loạn vận động – cảm giác – ngôn ngữ ngắn hạn. Đây là dấu hiệu cảnh báo sớm của nhồi máu não nặng. Nếu kịp can thiệp, có thể ngăn chặn tai biến “chính thức”.
- Rối loạn mỡ máu
Tăng cholesterol, triglycerid… có liên hệ chặt chẽ với bệnh mạch vành, cũng được coi là yếu tố nguy cơ đột quỵ. Phòng ngừa rối loạn mỡ máu rất quan trọng:
- Ăn uống hợp lý, dùng thực phẩm giúp giảm mỡ.
- Uống thuốc hạ mỡ máu khi cần.
- Tập luyện thể thao.
- Hút thuốc, nghiện rượu
Hút thuốc là yếu tố nguy cơ bệnh mạch vành, cũng là nguy cơ cho đột quỵ. Nghiên cứu dịch tễ cho thấy người hút thuốc có tỷ lệ đột quỵ cao hơn nhiều người không hút. Uống rượu quá mức (chè chén) cũng có hại cho mạch máu. Tuy nhiên, uống chút ít có thể có tác dụng nhất định. Vì vậy, khuyến cáo bỏ thuốc, hạn chế rượu.
- Bất thường độ quánh (độ nhớt) của máu
Khi xét nghiệm thấy độ nhớt hoặc độ kết tập tiểu cầu cao, cũng là yếu tố nguy cơ đột quỵ. Một số thuốc như aspirin liều thấp dài ngày có thể giảm kết tập tiểu cầu, giúp phòng tim mạch và đột quỵ.
- Cảnh giác tái phát
Ngoài kiểm soát các yếu tố nguy cơ, bản thân người bệnh cũng cần:
- Tăng rèn luyện trong sinh hoạt hằng ngày,
- Ăn thanh đạm, ít cholesterol,
- Giữ tinh thần vui vẻ,
- Tránh những thói quen xấu.
Cần tránh các yếu tố “kích phát” như tâm trạng xấu (tức giận, kích động), ăn uống thiếu điều độ (uống rượu nhiều, ăn quá no), làm việc quá sức, gắng sức đột ngột, tập quá nặng, thay đổi tư thế quá nhanh (ngồi – đứng dậy), táo bón, ngồi xem tivi quá lâu,…
Nói chung, đột quỵ rất nghiêm trọng, nhưng nếu tất cả mọi người đều hiểu rõ yếu tố nguy cơ và tích cực phòng tránh, tỷ lệ mắc bệnh chắc chắn sẽ giảm đáng kể.
- Các biến chứng thường gặp ở giai đoạn cấp tính
Bệnh mạch máu não giai đoạn cấp tính thường diễn biến nguy kịch, dễ phát sinh nhiều biến chứng nghiêm trọng, phổ biến gồm:
- Thoát vị não (não tụt, não herniation)
Phần lớn bệnh nhân tai biến tử vong giai đoạn cấp là do xuất huyết số lượng lớn, cấu trúc đường giữa não bị lệch hoặc phá hủy, phù não, dẫn đến thoát vị não, chèn ép thân não, đe dọa trung khu sinh mạng.
Tài liệu trong nước cho biết, xuất huyết não kèm thoát vị não gây tử vong chiếm 44,8–50,1%. Do đó, giảm áp lực nội sọ, giảm phù não, phòng ngừa thoát vị não là chìa khóa điều trị. Khi người bệnh có các dấu hiệu sau:
- Đau đầu dữ dội hoặc vật vã;
- Nôn liên tục hoặc co giật;
- Nhịp thở, nhịp tim chậm lại, huyết áp tăng;
- Rối loạn ý thức nặng dần;
- Đồng tử hai bên không đều;
=> Cần lập tức điều trị chống phù não (dùng thuốc lợi tiểu thẩm thấu) hoặc can thiệp phẫu thuật.
- Hội chứng não – tim (cerebral – cardiac syndrome)
Khi xuất huyết não tổn thương trung khu thực vật cao cấp ở vùng dưới đồi, gây rối loạn thần kinh thể dịch, dẫn đến rối loạn chức năng tim mạch gọi là “não – tim syndrome”.
Có 2 dạng:
- Não → tim đột quỵ: khởi phát xuất huyết não, sau đó xảy ra biến cố tim mạch.
- Não – tim cùng đột quỵ: xuất huyết não và biến cố tim xảy ra đồng thời hoặc gần nhau.
Các triệu chứng thường lẫn lộn, dễ chẩn đoán nhầm. Cần chú ý theo dõi chức năng tim, nếu có khó thở, tím tái, rale ẩm, nhịp tim nhanh chậm bất thường, cần đo ECG kịp thời, xử trí tổn thương tim song song với điều trị xuất huyết não.
- Rối loạn chức năng bàng quang và trực tràng
- Nhẹ: Bệnh nhân nằm lâu, chưa quen bài tiết khi nằm, gây bí tiểu “do tư thế” và táo bón.
- Nặng: Khi tổn thương trung khu vận động bán cầu, có thể đái rắt, tăng áp lực bàng quang. Nếu não thất 3 bị kích thích, trực tràng tăng co bóp, đòi đi đại tiện liên tục, mỗi lần ít phân. Hoặc nếu vùng “củ xám” bị tổn thương, có thể gây đại tiện không tự chủ. Người bệnh hôn mê sâu thường đại – tiểu tiện không tự chủ hoặc bí tiểu.
- Suy thận và rối loạn điện giải
Bệnh nhân hôn mê, mất khả năng tự ăn uống, đồng thời có nhiều liệu pháp can thiệp phức tạp (chống phù não, lợi tiểu, bổ dịch chưa đủ…), dễ rơi vào mất nước, rối loạn điện giải, suy thận. Đôi khi thiếu oxy, toan kiềm rối loạn…, nhưng do hôn mê – nhiễm trùng che lấp, dễ bị bỏ qua, khiến bệnh càng nặng. Nếu thấy bệnh nhân thở sâu, nhanh, tim đập nhanh, ý thức xấu đi, huyết áp tụt, ít nước tiểu hoặc vô niệu, phù nề mặt – chi, nên tìm nguyên nhân, làm xét nghiệm (CO2, ure, điện giải, khí máu…), xử trí kịp thời.
- Rối loạn điều nhiệt trung ương
Xuất huyết não vùng dưới đồi (đồi thị) hoặc phần trước dưới đồi có thể phá hủy cơ chế thải nhiệt, gây sốt cao liên tục trên 40°C kèm không ra mồ hôi, chân tay lạnh, tim đập nhanh, thở gấp,… Bạch cầu thường không tăng, thuốc hạ sốt thông thường ít hiệu quả, có khi dùng barbiturat và chườm lạnh – đội mũ lạnh mới hạ được. Nếu không can thiệp kịp, có thể tử vong sau vài giờ.
- Loét do đè ép (lóet tì đè)
Người tai biến thường liệt, phải nằm lâu, nếu người bệnh béo phì khó xoay trở, vùng xương cùng cụt, mắt cá trong – ngoài, gót chân, mấu chuyển xương đùi… dễ bị đè ép, giảm tuần hoàn, da thiếu dinh dưỡng và hoại tử gây loét.
Các biến chứng thường gặp khác gồm xuất huyết tiêu hóa (xuất huyết đường tiêu hóa trên), viêm phổi,…
- Nguyên nhân phổ biến của bệnh mạch máu não
- Cao huyết áp và xơ vữa động mạch
Đây là nguyên nhân chính. Theo số liệu, 93% bệnh nhân xuất huyết não có tiền sử cao huyết áp, 86% bệnh nhân huyết khối não cũng từng cao huyết áp, 70% người bệnh có xơ vữa động mạch.
- Bệnh tim
Là nguyên nhân chủ yếu của tắc mạch não. Ví dụ van tim do thấp, tăng huyết áp, bệnh mạch vành, viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn bán cấp,… đều tạo huyết khối bám thành. Khi suy tim hoặc rung nhĩ, cục máu đông dễ bung, trôi lên não gây tắc.
- Bất thường mạch máu nội sọ (phình, dị dạng động tĩnh mạch)
Hay gây xuất huyết não hoặc xuất huyết dưới nhện, có thể vỡ nhiều lần.
- Viêm nhiễm
Như viêm màng não, viêm mạch não do lao, mủ, nấm, thấp khớp… có thể tổn thương mạch não, gây bệnh mạch máu não.
- Bệnh máu
Như giảm tiểu cầu vô căn, đa hồng cầu, bạch cầu,… thường dẫn đến xuất huyết não, ít gặp tắc mạch não.
- Rối loạn chuyển hóa
Đái tháo đường, rối loạn lipid máu… liên quan mật thiết tai biến mạch não. Ước tính 30–40% người tai biến có đái tháo đường, tỉ lệ xơ vữa mạch của họ cao gấp 5 lần người thường, tiến triển sớm và nặng.
- Chấn thương, ngộ độc, u não, xạ trị khối u não,…
Đều có thể gây xuất huyết hoặc thiếu máu não.
- Vì sao nói cao huyết áp là yếu tố nguy hiểm nhất cho bệnh mạch máu não?
- Thống kê Mỹ cho thấy, nguy cơ nhồi máu não ở người cao huyết áp gấp 2–3 lần so với người bình thường. Nhật Bản, quốc gia có tỉ lệ đột quỵ cao nhất thế giới, nguy cơ bệnh não ở người cao huyết áp cao gấp 13,1 lần người không cao huyết áp.
- Trung Quốc: 80% ca đột quỵ liên quan cao huyết áp, trong đó 86% xuất huyết não và 71% huyết khối não có tiền sử cao huyết áp. Ngay cả “cao huyết áp tiềm tàng” (không triệu chứng) cũng làm nguy cơ tai biến gấp 4 lần.
- Nghiên cứu cho thấy, cả huyết áp tâm thu và tâm trương tăng đều rất nguy hiểm. Tâm thu >150 mmHg thì nguy cơ tai biến gấp 28,8 lần khi ≤150 mmHg; tâm trương >90 mmHg thì nguy cơ gấp 19 lần khi ≤90 mmHg.
Cơ chế chính là cao huyết áp thúc đẩy xơ vữa động mạch não, làm dày – cứng thành mạch, hẹp lòng mạch, gây thiếu máu não, nhồi máu não. Đồng thời, cao huyết áp còn gây thoái hóa (dạng hyalin hoặc fibrin), hình thành vi phình mạch, dễ vỡ khi huyết áp đột ngột tăng cao, dẫn đến xuất huyết não.
Kiểm soát huyết áp hiệu quả có thể giảm đáng kể tỷ lệ bệnh mạch máu não. Thuốc chẹn kênh calci (như nimodipine, nicardipine, nifedipine…) có tác dụng hạ áp, giãn mạch não, bảo vệ tế bào não, duy trì độ mềm dẻo hồng cầu.
- Vì sao huyết áp thấp cũng có thể gây bệnh mạch máu não?
Thường chúng ta chỉ biết huyết áp cao gây tai biến, nhưng trên thực tế, huyết áp quá thấp cũng khiến mạch não bị tổn thương.
- Khi huyết áp cao quá, áp lực trong mạch não vượt khả năng chịu đựng → vỡ mạch, xuất huyết.
- Khi huyết áp quá thấp, não không được cung cấp đủ lượng máu cần thiết. Mạch não co thắt, não thiếu oxy → nhồi máu. Huyết áp thấp, vận tốc dòng chảy giảm, tiểu cầu dễ kết tụ, độ nhớt máu cao, dễ hình thành huyết khối.
Có trường hợp người huyết áp bình thường, không tiền sử cao huyết áp, tối đi ngủ vẫn ổn, sáng dậy đột nhiên méo miệng, liệt nửa người, mất tiếng,… Lý do, ban đêm huyết áp thường thấp hơn ban ngày, dòng chảy chậm, tiểu cầu, cholesterol, triglycerid, fibrin… lắng đọng, làm bít tắc mạch não.
Vì vậy, người huyết áp thấp, đặc biệt người già, vẫn có nguy cơ đột quỵ do thiếu máu não. Cần điều chỉnh huyết áp ở mức hợp lý để phòng bệnh.
- Mối liên hệ giữa rối loạn lipid máu (tăng mỡ máu) và bệnh mạch máu não?
“Tăng mỡ máu” nghĩa là nồng độ lipid (cholesterol, triglycerid…) trong máu cao hơn bình thường. Người khỏe: cholesterol máu 3,1–5,7 mmol/L, triglycerid 0,56–1,7 mmol/L (khi đói). Vượt giới hạn này gọi là “tăng lipid máu”.
Mối liên hệ giữa tăng mỡ máu với tai biến mạch não vẫn đang tranh cãi. Nhiều ý kiến cho rằng lipid cao dễ gây xơ vữa động mạch, làm tăng nguy cơ nhồi máu não. Nhưng nghiên cứu về những người ăn nhiều hải sản (dầu cá, mỡ cá) cho thấy, dù dung nạp nhiều chất béo, tỷ lệ xơ vữa động mạch lại thấp. Một số khác nói cholesterol không “đáng sợ” như ta nghĩ, miễn là ăn lượng vừa phải.
Thực ra, quan trọng là đặc tính sinh học của lipid. Lipid có thể tồn tại riêng lẻ hoặc gắn với protein thành lipoprotein: α-lipoprotein, β-lipoprotein; nên “tăng mỡ máu” cũng có tên “tăng lipoprotein máu”.
Lipoprotein chia ba loại chính: rất ít tỷ trọng (VLDL), tỷ trọng thấp (LDL) và tỷ trọng cao (HDL). VLDL và LDL có kích thước hạt nhỏ, giàu cholesterol và triglycerid, dễ thâm nhập và lắng đọng ở nội mạc động mạch, gây tăng sinh cơ trơn, thúc đẩy xơ vữa. Nồng độ VLDL và LDL càng cao, tình trạng xơ vữa càng nặng. Ngược lại, HDL hạt to, ít cholesterol, giúp vận chuyển cholesterol từ các mô về gan, “quét dọn” mỡ xấu khỏi thành mạch. HDL giảm lại là yếu tố thuận lợi cho nhồi máu não. Người mắc đái tháo đường, hút thuốc lâu năm thường HDL thấp.
Từ đó, ta thấy chế độ ăn cần khoa học, điều độ, tránh hạn chế chất béo một cách cực đoan, cũng không nên lạm dụng.
- Cholesterol quá thấp có liên quan gì đến bệnh mạch máu não?
Cao cholesterol được xem là thủ phạm chính gây xơ vữa động mạch, bệnh mạch vành, đột quỵ – điều này khá phổ biến. Nhưng cholesterol quá thấp cũng có thể dẫn đến xuất huyết não.
Nghiên cứu cho thấy, cholesterol tham gia cấu tạo màng tế bào, duy trì dinh dưỡng và độ đàn hồi màng. Nếu quá thấp, màng tế bào mất đàn hồi, tăng độ giòn, gây thành mạch mong manh. Khi huyết áp đột ngột tăng, mạch rất dễ vỡ, dẫn tới xuất huyết não.
Ngoài ra, cholesterol là tiền chất tổng hợp nhiều hormone quan trọng như corticoid, progesterone, androgen, estrogen… Các hormone này điều hòa chuyển hóa đường, chất béo, protein, cân bằng nước điện giải, phản ứng stress, chức năng miễn dịch,… Thiếu cholesterol sẽ ảnh hưởng sức khỏe toàn diện.
Cholesterol thấp có nhiều nguyên nhân, thường gặp nhất là suy dinh dưỡng (ăn chay, ăn kiêng quá mức,…). Thứ đến là bệnh mạn tính tiêu hao như ung thư, lao phổi,… gây giảm tổng hợp protein. Thứ ba, bệnh gan mạn (xơ gan) khiến tổng hợp lipoprotein giảm rõ rệt. Ngoài ra, cường giáp, thấp khớp, nhiễm trùng,… cũng liên quan.
Tóm lại, duy trì mức cholesterol cân bằng rất quan trọng. Cực đoan “ăn quá nhiều” hay “kiêng tuyệt đối” đều không tốt. Nếu bị hạ cholesterol, cần tích cực điều trị.
- Vì sao bệnh tim dễ dẫn đến bệnh mạch máu não?
Theo thống kê, nguy cơ nhồi máu não ở người bệnh tim mạch vành cao gấp 5 lần người không mắc. Người có phì đại thất phải nguy cơ nhồi máu não cao gấp 9 lần. Bệnh van tim do thấp, viêm nội tâm mạc (bán cấp, vi khuẩn), virus cơ tim, rung nhĩ, suy tim,… đều làm tăng nguy cơ.
- Tổn thương tim hoặc huyết khối van/tâm nhĩ/tâm thất bong ra, trôi lên não gây tắc.
- Bệnh mạch vành nặng, suy tim, làm giảm cung lượng tim, não bị thiếu máu, hình thành huyết khối não.
-
- Bệnh tim do thấp là nguyên nhân hàng đầu gây tắc mạch não (40–90%), thường tái phát trong vòng 2 năm (30%), 6 năm (5%) do huyết khối bám trên van hoặc buồng tim liên tục bong ra.
- Viêm nội tâm mạc bán cấp, virus cơ tim,… mảng sùi hoặc huyết khối bong, chặn mạch não nhỏ, gây nhồi máu não.
- Rung nhĩ cũng rất nguy hiểm, máu ứ đọng trong tâm nhĩ dễ tạo cục máu đông. Khi bong, gây tắc động mạch não. Rung nhĩ cũng giảm máu não, dễ hình thành nhồi máu.
- Bệnh mạch vành gây đột quỵ chủ yếu do hẹp tắc động mạch vành, giảm cung lượng tim.
- Suy tim sung huyết làm giảm cung lượng, giảm tưới máu não, máu ứ trệ, hình thành huyết khối, gây thiếu máu não.
Vì vậy, không thể xem nhẹ mối liên hệ bệnh tim – bệnh mạch não, cần trị triệt để bệnh tim để phòng đột quỵ.
- Vì sao bệnh nhân đái tháo đường dễ bị bệnh mạch máu não?
Tỉ lệ đột quỵ ở bệnh nhân đái tháo đường rất cao (10–30%). Nguy cơ thiếu máu não của họ cao gấp 2,8 lần người thường. Đột quỵ là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở người đái tháo đường, chiếm 12–28%.
Cơ chế: Đái tháo đường là bệnh nội tiết đặc trưng bởi rối loạn chuyển hóa đường, do tế bào β đảo tụy tiết insulin không đủ (hoặc đề kháng insulin). Rối loạn này kéo theo rối loạn chuyển hóa lipid và protein, làm tăng đường máu, đẩy nhanh quá trình chuyển glucose thành chất béo, sinh ra nhiều triglycerid, acid béo tự do, nhất là cholesterol. Hậu quả là xơ vữa động mạch tăng tốc. Nghiên cứu cho thấy, tỉ lệ xơ vữa của người tiểu đường gấp 10 lần người thường, khởi phát sớm, tiến triển nhanh, thường ở mạch não, vành, chi dưới. Động mạch xơ cứng, kém đàn hồi, nội mạc thô ráp, tiểu cầu dễ bám, hình thành cục máu đông tắc não.
Bên cạnh đó, bất thường lưu biến máu cũng là yếu tố quan trọng: tiểu đường làm tăng lipid, tăng nồng độ lipoprotein, bất thường hồng cầu, tăng kết dính tiểu cầu, cơ thể mất nước,… tất cả làm độ quánh máu tăng, máu chảy chậm, dễ tắc vi mạch. Các hormone bất thường (tăng hormone tăng trưởng, glucagon…), lượng fibrinogen tăng, cũng khiến độ quánh máu cao.
Tóm lại, đái tháo đường là yếu tố nguy cơ hàng đầu gây đột quỵ. Bệnh nhân cần điều trị tích cực để phòng biến chứng.
- Ung thư và bệnh mạch máu não có liên quan không?
Ung thư có thể gây đột quỵ. Thống kê (1970–1981) trên 3426 ca tử vong do ung thư, 500 ca có bệnh mạch não (14%), trong đó 255 ca có triệu chứng lâm sàng (7,4%). Vậy, ung thư là nguyên nhân tương đối phổ biến.
- Tỉ lệ nhồi máu não ở bệnh nhân ung thư ~54,1%, xuất huyết ~45,8%.
14.1. Ung thư → thiếu máu não
- Tắc mạch não do viêm nội tâm mạc huyết khối không nhiễm khuẩn (thường gặp ở ung thư tuyến, đặc biệt ung thư phổi, dạ dày,…). Khi nội mạc tim hình thành sùi, cục máu bám (non-bacterial thrombotic endocarditis – NBTE), mảnh vỡ bong ra gây tắc mạch não. Hoặc mảnh vỡ khối u nhỏ chui vào động mạch não, gọi “thuyên tắc ung thư”.
- Huyết khối não do rối loạn đông máu, tăng độ quánh máu, nhiễm trùng, viêm mạch,… hoặc do bệnh nhân suy kiệt, mất nước.
14.2. Ung thư → xuất huyết não
- Di căn não thường gặp hơn u nguyên phát tại não. Ung thư phổi, dạ dày, ung thư biểu mô nuôi (choriocarcinoma)… di căn lên não.
- Khối u não nguyên phát (u tế bào thần kinh đệm, u màng não,…).
- Cơ chế:
- Tổn thương xâm lấn mạch, hoại tử mô,
- Mạch tân tạo trong khối u dễ vỡ,
- Ung thư máu (bạch cầu), ung thư tủy xương… làm rối loạn chức năng đông cầm máu, giảm tiểu cầu, dễ chảy máu.
- Tăng độ quánh máu, thiếu oxy,…
Tóm lại, ung thư có thể dẫn đến đột quỵ. Đôi khi, chưa kịp phát hiện ung thư nguyên phát, người bệnh đã có triệu chứng tai biến. Vì thế, với những ca đột quỵ “vô căn”, nên nghĩ đến khả năng ung thư.
- Béo phì có gây bệnh mạch máu não không?
Nhiều người lo lắng: “Béo phì liệu có gây tai biến?”. Vậy thế nào là béo phì? Một người có cân nặng vượt quá 20% “trọng lượng chuẩn” được coi là béo.
Công thức tính trọng lượng chuẩn (kg) = (Chiều cao (cm)) – 105. Ví dụ, cao 165 cm, trọng lượng chuẩn = 165 – 105 = 60 kg.
- Thừa 25–34% so với chuẩn: Béo nhẹ,
- Thừa 35–49%: Béo vừa,
- Thừa ≥50%: Béo nặng.
Nhiều tài liệu cho thấy, người béo có nguy cơ tai biến cao hơn 40% so với người bình thường, tỷ lệ đột tử cao gấp 1,86 lần. Vì sao?
- Béo phì thường kèm rối loạn nội tiết, tăng cholesterol – triglycerid, giảm HDL, dễ xơ vữa động mạch.
- Dễ mắc đái tháo đường, mạch vành, cao huyết áp,… đều là yếu tố nguy cơ của đột quỵ.
Một số nghiên cứu nói rằng béo phì gây rối loạn chuyển hóa glucose, thiếu insulin tương đối, làm người bệnh hay đói, ăn nhiều → béo thêm, insulin càng thiếu → vòng luẩn quẩn → tiểu đường. Tiểu đường gây biến dạng mạch, tăng huyết áp, dễ đột quỵ.
Béo phì cũng tăng gánh nặng tim, có nhiều mỡ bọc quanh tim, giảm khả năng tống máu, kết hợp rối loạn lipid → bệnh mạch vành. Mạch vành hẹp dẫn tới đột quỵ do giảm dòng máu não. Béo phì liên quan chặt chẽ cao huyết áp; nghiên cứu cho thấy cân nặng càng cao, huyết áp càng dễ tăng, mà cao huyết áp là nguyên nhân chính của xuất huyết não.
Vì vậy, không nên coi thường béo phì. Muốn phòng đột quỵ, cần kiểm soát chế độ ăn, giảm năng lượng dư thừa, hạn chế chất béo, tăng vận động để tránh béo phì.
- Tuổi tác và bệnh mạch máu não
Bệnh mạch máu não có đặc điểm rõ về tuổi. Tuổi càng cao, tỉ lệ mắc và tử vong càng cao. Theo số liệu Trung Quốc, nhóm ≥75 tuổi có tỉ lệ cao gấp 1,4–1,6 lần nhóm 65–74 tuổi, gấp 3–4 lần nhóm 55–64, gấp 5–8 lần nhóm 45–54, gấp 30 lần nhóm 35–44. Tỉ lệ tử vong trên 50 tuổi chiếm 93,64% tổng tử vong do tai biến, cứ tăng 5 tuổi, tử vong tăng gấp đôi.
- Ở độ tuổi 60, xuất huyết não hay gặp hơn.
- Nhồi máu não thường gặp muộn hơn, khoảng >60.
- Xuất huyết dưới nhện thường xảy ra ở thanh niên, do phình mạch bẩm sinh hoặc dị dạng động – tĩnh mạch.
Khi tuổi tăng, cơ thể lão hóa, đặc biệt mạch máu lão hóa: dày, kém đàn hồi, vữa xơ, sợi đàn hồi đứt, calci hóa, giảm tế bào cơ trơn,… khiến mạch giòn, dòng máu não ít đi,… dễ phát sinh tai biến. Do đó, điều chỉnh ăn uống, dùng não hợp lý, phòng xơ vữa động mạch, làm chậm quá trình lão hóa là cách hiệu quả để ngừa đột quỵ.
Thống kê cũng cho thấy bệnh mạch máu não chủ yếu ở trung – lão niên, tại Trung Quốc, tai biến hay hơn mạch vành, đứng đầu hoặc thứ hai trong số nguyên nhân tử vong nhóm trung cao tuổi. Ở các nước Âu – Mỹ, tai biến đứng thứ ba (sau nhồi máu cơ tim và ung thư). Ở Nhật, tai biến chiếm hàng đầu hoặc ngang với ung thư. Khảo sát ở 6 thành phố (Trường Sa, Thành Đô, Quảng Châu, Cáp Nhĩ Tân, Thượng Hải, Ngân Xuyên) cho hơn 800.000 cư dân cho thấy tỉ lệ bệnh mạch não ~1%. Con số này cao hơn nhiều quốc gia khác.
Sau 40 tuổi, cấu trúc và chức năng mạch dần thoái hóa: lipid lắng đọng → mảng xơ vữa, tổn thương xơ hóa, thành dày và kém đàn hồi → lòng mạch hẹp hoặc phình, dễ vỡ khi huyết áp đột biến.
- Giới tính và bệnh mạch máu não
Nam giới có tỉ lệ đột quỵ cao hơn nữ. Tại Thượng Hải, nam : nữ = 1,3 : 1; Thanh Đảo 1,5 : 1. Ở Mỹ, nghiên cứu theo dõi 18 năm cho ba nhóm 45–54, 55–64, 65–74 nhận thấy tỷ lệ nhồi máu não tương đương hai giới, nhưng xuất huyết não nam nhỉnh hơn. Tại Trung Quốc, nam bị xuất huyết não 57%, nữ 43%; xuất huyết dưới nhện nam 55,21%, nữ 44,79%. Nói chung, xuất huyết não thường gặp ở nam hơn nữ.
Nguyên nhân:
- Nam hay bị cao huyết áp hơn.
- Nam hút thuốc, uống rượu nhiều hơn. Hút thuốc, uống rượu là nguy cơ quan trọng cho đột quỵ.
- Nam thường lao động nặng, dễ gắng sức đột ngột, khởi phát tai biến.
- Một số nam tính nóng nảy, hay cáu giận hoặc căng thẳng, dễ gây đột quỵ.
- Khác biệt về gene và nội tiết nam – nữ cũng ảnh hưởng tỷ lệ bệnh.
- Bệnh mạch máu não có di truyền không?
Tai biến có khuynh hướng gia đình. Một nghiên cứu trên 491 ca tai biến so với nhóm đối chứng, thấy bệnh nhân có gia đình mắc bệnh là 113, nhóm đối chứng 54, khác biệt đáng kể. Anh chị em ruột của bệnh nhân có tỉ lệ đột quỵ cao hơn bình thường. Tư liệu khác cho rằng con cháu trong gia đình bố mẹ, ông bà có tai biến thì nguy cơ bệnh gấp 4 lần. Rõ ràng, yếu tố di truyền là có.
Điều tra cho thấy thân nhân của bệnh nhân tai biến dễ bị xơ vữa động mạch, mạch máu kém đàn hồi, rối loạn chuyển hóa lipid, protein, cơ chế đông máu rối loạn, điều hòa thần kinh thực vật kém… Tất cả đặt nền tảng di truyền cho nguy cơ đột quỵ, tương tự như cao huyết áp cũng di truyền. Cần chú ý giảm thiểu hoặc cải thiện yếu tố bất lợi này, mới giúp giảm nguy cơ.
- Bệnh thoái hóa đốt sống cổ (cervical spondylosis) có liên quan gì đến bệnh mạch máu não?
Thoái hóa đốt sống cổ hoàn toàn có thể dẫn đến bệnh mạch máu não. Thực tế, nhiều trường hợp đột quỵ thiếu máu não nguyên nhân xuất phát từ cổ.
Cơ chế:
- Đốt sống cổ khi cúi – ngửa đầu sẽ có sự di chuyển, nhưng bình thường đĩa đệm linh hoạt giữ cho thân đốt không trượt tới – lui đáng kể.
- Khi tuổi cao, cơ – dây chằng cột sống cổ thoái hóa, mất ổn định. Lúc cúi hay ngửa, đốt sống có thể trật hoặc trượt, chèn ép động mạch đốt sống (nằm trong lỗ mỏm ngang của cổ), gây co thắt hoặc gập góc, làm dòng máu lên não kém.
- Bao xơ đĩa đệm bám mép đốt sống, trượt vi chấn nhiều lần → kích thích sinh gai xương (chồi xương), chèn ép hoặc co thắt động mạch đốt sống. Thiếu máu tuần hoàn phần sau não (tiểu não, thân não) gây chóng mặt, buồn nôn, nhìn mờ, đi loạng choạng, thậm chí ngã đột ngột…
Ở người trung – cao tuổi, thường kèm xơ vữa động mạch, dòng chảy lên não càng chậm, nguy cơ nhồi máu càng cao. Vì vậy, người bị thoái hóa đốt sống cổ nên cử động cổ nhẹ nhàng, dùng gối thấp và vừa phải, tránh đè ép động mạch đốt sống, giảm nguy cơ đột quỵ.
- Thuốc tránh thai đường uống liên quan gì đến bệnh mạch máu não?
Vấn đề này vẫn tranh cãi, nhưng nhiều nghiên cứu nghiêng về khả năng làm tăng nguy cơ tai biến. Một điều tra dịch tễ cho thấy phụ nữ >35 tuổi, nhất là có hút thuốc, dùng thuốc tránh thai dễ bị huyết khối tĩnh mạch sâu hơn nhóm không dùng gấp 5,7 lần, nguy cơ nhồi máu cơ tim gấp 3–4 lần; nguy cơ đột quỵ não tỉ lệ thuận với hàm lượng estrogen trong thuốc.
Cơ chế:
- Thuốc tránh thai có thể gây cao huyết áp. Một nghiên cứu nước ngoài, phụ nữ dùng loại estrogen liều cao (50µg) trong 2–5 năm, tỉ lệ tăng huyết áp gấp 2,6–5 lần so với người không dùng.
- Estrogen làm tăng các yếu tố đông máu (Factor VIII, IX, X), tiểu cầu, fibrinogen, giảm chất chống đông, làm máu quánh hơn, dễ nhồi máu.
- Thuốc nội tiết steroid ảnh hưởng chuyển hóa lipid và glucose, gây tăng cholesterol, thúc đẩy xơ vữa mạch.
Vì vậy, dùng thuốc tránh thai liều cao estrogen có tiềm ẩn nguy cơ. Hiện nhiều nghiên cứu cải tiến công thức liều thấp (chứa ≤35µg estrogen) cho thấy không làm tăng huyết áp. Thuốc tránh thai tại Trung Quốc cũng có hàm lượng estrogen thấp, ít rủi ro. Tuy nhiên, phụ nữ mắc cao huyết áp, đái tháo đường, migraine, rối loạn lipid máu… vốn đã máu quánh cao, nên tránh uống thuốc tránh thai, tốt hơn dùng phương pháp khác.
- Vì sao phụ nữ mang thai hoặc sau sinh dễ bị bệnh mạch máu não?
Thai phụ và sản phụ (cả thời kỳ thai nghén, chuyển dạ, hậu sản) có thể bị tai biến mạch não, không phải hiếm. Có nghiên cứu 461.340 ca sinh, thì 100 ca xuất huyết não, 50 ca thiếu máu não. Tỉ lệ này ~1% trong 2626 ca đột quỵ.
Cơ chế xuất huyết:
- Thai kỳ cuối, thể tích máu tăng ~45%, cung lượng tim tăng ~15%, thay đổi động lực tuần hoàn, áp lực thành mạch tăng, các mạch não đã có sẵn bất thường (phình, dị dạng) có thể vỡ.
- Cao huyết áp thai nghén, nếu huyết áp quá cao, gây co thắt tiểu động mạch kéo dài, tính thấm mao mạch tăng, tạo xuất huyết lan tỏa.
- Dùng thuốc tăng co bóp tử cung như oxytocin, ergometrine,… làm huyết áp tăng đột ngột, cũng dẫn tới vỡ mạch.
Cơ chế thiếu máu não:
- Giai đoạn thai nghén muộn, chuyển dạ, 2 tuần sau sinh là thời điểm hay gặp.
- Những nguyên nhân chính:
- Fibrinogen tăng, enzym tiêu fibrin giảm, các yếu tố đông máu, tiểu cầu tăng.
- Estrogen nhiều làm tăng khả năng đông máu.
- Trước đó có dùng thuốc tránh thai, mạch máu thô ráp.
- Đã có xơ vữa động mạch từ trước.
- Hạ huyết áp do tim hoặc mất máu, thiếu máu khi sinh,…
Do đó, giai đoạn thai kỳ và hậu sản cần quan tâm chăm sóc, kiểm tra thường xuyên, kịp thời phát hiện bất thường.
- Thuốc nào dễ gây bệnh mạch máu não?
Nhiều yếu tố dẫn đến tai biến, ngoài cao huyết áp, bệnh tim, xơ vữa, thời tiết,… còn có một số thuốc (thuốc hạ áp, an thần, lợi tiểu…) có thể gây đột quỵ thiếu máu não.
- Thuốc hạ áp
Dòng máu lên não được duy trì chủ yếu nhờ huyết áp. Nếu dùng thuốc mạnh hoặc quá liều, huyết áp hạ quá nhanh, não thiếu máu đột ngột, dòng chảy chậm, dễ hình thành huyết khối. Đặc biệt, không nên uống liều cao trước khi ngủ, vì ban đêm huyết áp vốn hạ, càng thấp hơn khiến tim – não – thận thiếu máu, dễ đột quỵ.
- Thuốc an thần mạnh
Chlorpromazine, chloral hydrate, magnesium sulfate,… có thể làm huyết áp tụt đột ngột, não thiếu oxy, nhồi máu.
- Thuốc cầm máu
Người trung – cao tuổi thường xơ vữa mạch, độ nhớt máu cao, nếu dùng nhiều aminocaproic acid, anluoxue,… sẽ càng làm máu đông dễ, dễ hình thành huyết khối não.
- Thuốc lợi tiểu
Thuốc như furosemide, hydrochlorothiazide,… gây mất nước nhiều, cô đặc máu, tăng độ quánh → dễ tắc mạch não. Tương tự, dùng nhiều aspirin, amidopyrine để hạ sốt, hoặc dùng quá liều ma hoàng, quế chi (thuốc đông y) làm ra mồ hôi, mất nước, cũng gây hiện tượng tương tự.
- Thuốc tránh thai
Một số loại tăng tính đông máu, nguy cơ tai biến cao hơn nhóm đối chứng 5–8 lần. Thời gian tiềm ẩn có thể từ vài ngày đến 5 năm.
- Thuốc chống loạn nhịp tim
Nếu quá liều hoặc truyền tĩnh mạch nhanh, gây huyết áp hạ, block dẫn truyền, nhịp chậm, dòng máu não thiếu, thuận lợi cho huyết khối hình thành.
Vì thế, không được xem nhẹ yếu tố thuốc. Người già cần hết sức thận trọng, bắt đầu liều nhỏ, tăng dần, tránh hạ áp đột ngột, an thần quá mạnh, lợi tiểu nhiều, đổ mồ hôi quá mức,… để phòng tránh tai biến do thuốc.
- Đã bị bệnh mạch máu não rồi, có tái phát nữa không?
Rất nhiều bệnh nhân và gia đình thắc mắc câu này. Thực tế, có khoảng 1/3 bệnh nhân tái phát trong vòng 5 năm, có trường hợp tái phát nhiều lần (1–2–3 lần…), trong đó tái phát 1 lần chiếm ~74%, 2 lần ~21%, 3 lần trở lên ít gặp. Xuất huyết dễ tái phát hơn thiếu máu. Riêng xuất huyết dưới nhện, 80% tái phát trong 6 tuần, nhất là 2 tuần đầu. Mỗi lần tái phát nặng thêm, chữa khó, nhiều trường hợp tử vong.
Vì sao tái phát?
Vì lần đầu bị, tuy đã điều trị nhưng nguyên nhân gốc (cao huyết áp, xơ vữa, tim mạch, đái tháo đường, rối loạn lipid…) chưa giải quyết triệt để. Các bệnh này đều mạn tính, khó trị dứt điểm. Khi không duy trì kiểm soát, huyết áp lại tăng, xơ vữa tiến triển, đường máu rối loạn,… nguy cơ đột quỵ lần nữa.
Dấu hiệu tái phát thường giống đợt đầu: đau đầu, chóng mặt, mờ mắt, nói ngọng, yếu – liệt nửa người,… hoặc buồn ngủ, rối loạn ý thức. Nhiều trường hợp, một bên đã liệt, nay bên còn lại cũng liệt luôn, kèm nuốt khó, nghẹn sặc, khóc cười vô cớ,… Nếu chăm sóc kém, bệnh nhân có thể tử vong do loét, nhiễm trùng,…
Vì thế, cần chú trọng phòng ngừa tái phát bằng cách: tiếp tục phục hồi chức năng, duy trì điều trị nguyên nhân (cao huyết áp,…), tránh nguy cơ đột quỵ lặp lại.
- Nguyên nhân gây tai biến thiếu máu não ở người trẻ là gì?
Tai biến thiếu máu não ở người trẻ (~3,3% các ca nhồi máu não). Khác với người già chủ yếu do xơ vữa gây huyết khối/tắc mạch, người trẻ có nhiều nguyên nhân phức tạp:
- Cao huyết áp vẫn là lý do thường gặp. Thống kê 31 ca thiếu máu não ở người trẻ, có 6 ca (23,07%) tăng huyết áp. Huyết áp cao tác động tiểu động mạch nền não, gây thoái hóa mạch.
- Rối loạn huyết học: Tăng độ quánh, tăng kết dính hồng cầu/tiểu cầu. Nhiều ca chỉ số đông máu cao trước khi tổn thương nội mạc mạch.
- Tiền sử đau nửa đầu (migraine) ở thanh niên cũng liên quan tình trạng cường đông, kích hoạt huyết khối.
- Nguyên nhân tim (19,23%): bệnh van tim do thấp, rung nhĩ,… thường đã được chẩn đoán trước khi đột quỵ.
- Chấn thương vùng cổ (2 ca), dùng thuốc tránh thai (2 ca). Chấn thương làm rách nội mạc, tạo giả phình hoặc co thắt mạch. Thuốc tránh thai gây xơ mạch, dễ huyết khối.
Tiên lượng người trẻ tốt hơn người già. Có báo cáo 3/4 ca tự phục hồi, tỉ lệ tử vong thấp, do mạch máu còn tương đối lành, lưu thông bàng hệ tốt, ít biến chứng.
- Đặc điểm bệnh mạch máu não ở trẻ em
So với người lớn, mạch máu não ở trẻ em có những khác biệt rõ:
- Nguyên nhân
- Với người lớn tuổi, thường do cao huyết áp, xơ vữa, bệnh tim,… Ở trẻ, thiếu máu não hay do viêm động mạch não (45,5%). Viêm này có thể vì trực khuẩn, lao, nấm, virus, bệnh collagen, xoắn khuẩn leptospira…
- Chấn thương đầu cổ cũng hay gặp. Cơ chế: lực kéo mạnh gây rách nội mạc động mạch, dễ hình thành huyết khối.
- Bệnh “moyamoya” (hẹp tắc động mạch nền – động mạch não giữa), một số không rõ nguyên nhân.
- Dị dạng động tĩnh mạch, phình mạch, bệnh máu… cũng gây đột quỵ ở trẻ.
- Lâm sàng
- Thường có tiền triệu (sốt, đau đầu, co giật, nôn…) trong vòng một tuần.
- Khởi phát cấp, nhiều trẻ co giật, liệt, có thể luân phiên bên này bên kia.
- Mất ngôn ngữ ít hơn, hoặc mức độ nhẹ, có thể hồi phục nhanh.
- Tiên lượng
- Nhìn chung, trẻ em khả năng hồi phục cao hơn, tỉ lệ tử vong thấp, nhưng có thể để lại động kinh hoặc giảm trí tuệ.
- Bệnh mạch máu não có dấu hiệu tiền triệu không?
Mặc dù tai biến khởi phát thường đột ngột, nhưng nhiều bệnh nhân (trước 1–2 ngày, hoặc vài giờ) xuất hiện “tín hiệu sớm”, y học gọi là dấu hiệu báo trước (中风先兆). Nếu nhận biết kịp thời và can thiệp, có thể ngăn chặn đột quỵ.
Các dấu hiệu thường gặp:
- Méo miệng, rớt nước dãi, khó nói, nuốt khó, chân tay một bên yếu,…
Báo hiệu thiếu máu ở động mạch não chi phối vận động – ngôn ngữ.
- Đột ngột đau đầu dữ dội, chóng mặt, buồn nôn, nôn,…
Nhất là đau đầu kiểu khác lạ, nặng hơn, hoặc từ thỉnh thoảng thành liên tục. Có thể báo trước xuất huyết não, xuất huyết dưới nhện.
- Tê mặt, tê lưỡi, tê môi hoặc tê cánh tay, chân,…
Biểu hiện tổn thương vùng cảm giác não do thiếu máu.
- Rối loạn ý thức: Mệt mỏi, buồn ngủ, lơ mơ, hoặc ngược lại, kích động, thay đổi tính tình, có lúc mất ý thức ngắn.
- Toát mồ hôi, toàn thân mệt lả, hơi sốt, khó thở, tim đập mạnh,…
Rối loạn thần kinh thực vật.
Không phải ai cũng có đủ các triệu chứng, nhưng chỉ cần một vài triệu chứng bất thường, đặc biệt ở người trung niên – cao tuổi, cũng phải cảnh giác. Nên để bệnh nhân nằm nghỉ yên, tránh căng thẳng, hạn chế di chuyển. Nếu cần, đưa đi cấp cứu trong tư thế nằm.
- Triệu chứng lâm sàng chính của bệnh mạch máu não là gì?
Tùy vị trí, phạm vi và tính chất tổn thương, biểu hiện có thể khác nhau, nhưng thường gặp:
- Đau đầu
- Xuất huyết dưới nhện: đau đầu thường đột ngột, dữ dội, cảm giác “nứt vỡ”.
- Xuất huyết não: 80–90% có đau đầu rất mạnh, do máu kích thích màng não. Thường khởi đầu 1 bên, sau lan ra cả đầu.
- Nhồi máu não (thiếu máu) thường đau nhẹ hoặc không đau, trừ khi vùng nhồi máu rộng gây tăng áp lực nội sọ.
- Nôn
Gặp ở hầu hết xuất huyết não và dưới nhện (80% trở lên), thường là nôn vọt, liên quan tăng áp nội sọ, thần kinh thực vật bị kích thích. Nếu nôn ra bã cà phê có thể là xuất huyết dạ dày do phản ứng stress, báo hiệu nặng. Thiếu máu não ít nôn, trừ diện nhồi máu lớn.
- Rối loạn ý thức
Thường ở xuất huyết não (60–80%), do tổn thương nặng, lan rộng. Xuất huyết thân não, tiểu não, chảy máu vào não thất,… dễ hôn mê sâu. Nhồi máu não đơn thuần ít mê, trừ trường hợp diện rộng.
- Liệt nửa người (偏瘫)
Biểu hiện bên đối diện tổn thương: từ nhẹ (yếu) đến nặng (liệt toàn bộ). Đôi khi chỉ liệt mặt, lưỡi nặng, còn tay chân nhẹ, hoặc ngược lại. Liệt nửa người diễn tiến nặng nhẹ khác nhau tùy mức độ thương tổn. Nếu liệt nhẹ chuyển thành liệt nặng → bệnh xấu đi; ngược lại → cải thiện.
- Mất ngôn ngữ (失语)
Tổn thương bán cầu ưu thế (thường bán cầu trái). Gồm:
- Mất ngôn ngữ vận động: Không nói được, nhưng hiểu người khác.
- Mất ngôn ngữ cảm giác: Nghe không hiểu, nhưng nói được (nói sai).
- Mất ngôn ngữ hỗn hợp: Cả hai dạng trên.
- Mất khả năng gọi tên đồ vật: Hiểu và diễn đạt được đặc tính, nhưng không gọi tên chính xác.
- Vì sao đột ngột đau đầu cần cảnh giác tai biến mạch não?
Đau đầu là triệu chứng phổ biến trong nhiều bệnh, nhưng với người trung – cao tuổi, nhất là có tiền sử cao huyết áp, xơ vữa động mạch, đột nhiên đau đầu dữ dội thường báo hiệu tai biến.
- Xuất huyết não phần lớn do cao huyết áp, thường có đau đầu ở các mức độ liên quan tới chỉ số huyết áp. Nếu huyết áp tăng đột biến, đau đầu tăng vọt, cảnh báo nguy cơ vỡ mạch. 80–90% xuất huyết não bắt đầu bằng đau đầu dữ dội.
- Xuất huyết dưới nhện cũng đau đầu kịch liệt, do máu chảy tràn khoang dưới nhện kích thích màng não, kèm nôn nhiều, thường đau vùng chẩm, cúi đầu càng đau. Nếu đang giảm đau bỗng đau lại có thể chảy máu thêm, cần cấp cứu ngay.
- Nhồi máu não cũng có thể đau đầu, nhưng ít và nhẹ hơn.
Vì thế, ở người có huyết áp cao, xơ vữa, nếu đột ngột đau đầu dữ dội, kèm nôn, nên nghĩ ngay đến tai biến.
- Đặc điểm đau đầu do bệnh mạch máu não
- Xuất huyết dưới nhện: Đau đột ngột, dữ dội (như búa bổ), ban đầu khu trú (thường chẩm), cúi đầu tăng đau, sau lan toàn đầu, kèm gồng cứng cổ, nôn mửa,…
- Xuất huyết não: Tỷ lệ đau đầu 26%, thường cũng đột ngột và mạnh, kèm nôn, mờ mắt, do tăng áp nội sọ. Thường trong vài phút đến vài giờ phát triển tối đa, bệnh nhân có thể hôn mê, liệt.
- Nhồi máu não: Khoảng 29% có đau đầu, hay gặp trong tắc động mạch nền – đốt sống (phía sau não) hơn tắc cảnh trong (trước não). Ai tắc động mạch não sau (PCA) 48% có đau đầu vùng chẩm – đỉnh, kèm mù nửa thị trường, mất đọc,…
Khi bệnh nhân cao huyết áp, xơ vữa bỗng thấy đau đầu khác thường, có thể kèm dấu chứng thần kinh, cần khám ngay để tránh lỡ cơ hội.
- Vì sao nói nôn ói là dấu hiệu nặng trong bệnh mạch máu não?
Nôn ói trong bệnh mạch máu não khá thường gặp (cả xuất huyết lẫn thiếu máu). Riêng thiếu máu thì thường là do thiếu máu vùng thân não – tiểu não (hệ đốt sống – nền). Xuất huyết não, dưới nhện phần lớn đều buồn nôn, nôn dữ dội, không liên quan ăn uống, có thể xảy ra cả lúc đói hay nghỉ ngơi.
Nguyên nhân: Do tăng áp nội sọ tác động lên trung khu dưới đồi và thân não, làm rối loạn thần kinh thực vật. Hay gặp “nôn vọt” kèm đau đầu kinh khủng. Nếu nôn ra dịch nâu đen như cà phê, chứng tỏ chảy máu tiêu hóa (loét do stress), dấu hiệu bệnh nặng, cần xử trí kịp thời (thuốc chống phù não, cầm máu…).
- Vì sao nói hôn mê là dấu hiệu nguy kịch của bệnh mạch máu não?
Ý thức bình thường phụ thuộc chức năng não hoàn chỉnh. Hôn mê là tổn thương rộng và nghiêm trọng, đặc biệt trong đột quỵ chảy máu lan tỏa, hoặc nhồi máu lớn, phù não tăng áp nội sọ, chèn ép thân não.
- Hôn mê nông: Chỉ tỉnh lại khi kích thích mạnh, ngưng kích thích lại mê. Phản xạ đồng tử, gân xương còn, dấu hiệu sinh tồn khá ổn.
- Hôn mê sâu: Không đáp ứng mọi kích thích, mất phản xạ (đồng tử, giác mạc…), cơ trương lực giảm, hô hấp rối loạn, huyết áp tụt, tiểu tiện không tự chủ,… đe dọa tính mạng.
Tiên lượng phụ thuộc:
- Tính chất: Xuất huyết thường mê nặng, nhồi máu mê nhẹ hơn.
- Lượng và tốc độ chảy máu: Nhiều, nhanh, lan não thất, thân não → xấu; chảy ít, chậm → hi vọng.
- Tuổi và thể lực: Người trẻ, khỏe, hồi phục nhanh hơn người già yếu.
Hôn mê rất nguy hiểm, nhưng không đồng nghĩa tử vong chắc chắn. Nhiều bệnh nhân được cấp cứu kịp thời vẫn sống và hồi phục.
- Vì sao nói “tê bì chân tay” cần cảnh giác bệnh mạch máu não?
Nhiều trung – cao tuổi, đôi lúc bị tê nửa người, kèm tê môi, tê má,… rồi bỏ qua, nghĩ đó là chuyện “thường ở tuổi già”. Đến khi tê nhiều, tay chân yếu hoặc liệt, hối hận không kịp.
Cơ chế: Não bán cầu bên trái chi phối cảm giác – vận động nửa người bên phải và ngược lại. Nếu động mạch cảnh bên nào hẹp/tắc, não vùng cảm giác thiếu máu → tê bì, kiến bò, nóng rát… Lúc đầu, phạm vi nhỏ (chỉ một phần tay/chân/mặt), hoặc ngắn hạn, tê sẽ hết khi máu tạm đủ. Về sau, mảng xơ vữa to, mạch hẹp hơn, vùng thiếu máu lớn, tê rộng hơn, có thể kéo dài. Nếu lan tới vùng vận động, bệnh nhân liệt.
Thế nên, người cao tuổi, cao huyết áp, xơ vữa, nếu thấy tê bì nửa người tái diễn, cần đi kiểm tra Doppler xuyên sọ, CT não…, dùng thuốc phù hợp để tránh tình trạng nặng hơn.
- Vì sao chóng mặt (hoa mắt) cần cảnh giác bệnh mạch máu não?
Chóng mặt (眩晕) là một triệu chứng thường gặp, trong đó nguyên nhân do rối loạn tuần hoàn não khá nhiều (~88% bệnh nhân chóng mặt tại phòng khám), chủ yếu người trung – cao tuổi (90%). Vì vậy, chóng mặt đột ngột cần nghĩ đến thiếu máu não.
33.1. Phân loại
- Chóng mặt thật: Cảm thấy mình hoặc đồ vật quay cuồng, lắc lư, trôi nổi,… Thường kèm ù tai, buồn nôn, sợ hãi,… Có thể thấy rung giật nhãn cầu, mất thăng bằng, nói khó.
- Chóng mặt giả: Chỉ mơ hồ nhức đầu, choáng váng, không có cảm giác xoay, khám không thấy dấu hiệu thần kinh, thường do nguyên nhân sinh lý.
33.2. Nguyên nhân
- Thiếu máu não: Đặc biệt do hẹp hệ đốt sống – nền (75%), thời gian chóng mặt kéo dài, kèm rối loạn thăng bằng, mắt mờ, méo miệng,…
- Thoái hóa đốt sống cổ (54%), chèn ép động mạch đốt sống. Lúc xoay cổ, dòng máu giảm, gây chóng mặt.
- Hội chứng trộm máu động mạch dưới đòn, xuất huyết hoặc nhồi máu não thân – tiểu não.
- Cao hoặc thấp huyết áp đột ngột cũng làm biến đổi tuần hoàn não, gây chóng mặt.
Tóm lại, nếu đột nhiên chóng mặt nhiều, kèm đau đầu, nôn, cần đến bác sĩ loại trừ tai biến mạch não.
- Thay đổi hô hấp ở bệnh mạch máu não có ý nghĩa gì?
Rối loạn hô hấp là 1 dấu hiệu tổn thương não. Hô hấp do các trung khu ở thùy trán, gian não và thân não điều hành. Trong đột quỵ, tổn thương lan rộng hoặc tăng áp nội sọ đè ép thân não, rất hay có bất thường hô hấp.
- Giai đoạn cấp: phù não, thiếu oxy, người bệnh lơ mơ, có thể ngáp liên tục. Sau đó, tần số, biên độ, nhịp thở trở nên rối loạn.
- Nếu thở nhanh nhưng đều, có thể do sốt, viêm phổi, hoặc ổ tổn thương ở não trên.
- Ngừng thở chu kỳ 12–30 giây xen kẽ thở tăng dần, gọi “Cheyne-Stokes” (thở kiểu “nấc cục chu kỳ”), thường tổn thương bán cầu não hoặc gian não.
- Thở nhanh, nông, loạn nhịp,… gợi ý tổn thương thân não, nhất là hành não. Thở không đều, lúc chậm lúc nhanh, kèm ngưng thở bất ngờ, thường sắp tử vong (dấu hiệu thoát vị chèn ép hành não).
Như vậy, quan sát kiểu thở giúp theo dõi tiến triển não.
- Chụp CT sọ não có vai trò gì trong chẩn đoán bệnh mạch máu não?
CT não (chụp cắt lớp vi tính) hiện rất phổ biến, là phương tiện định vị – định tính quan trọng:
- Nguyên tắc: Tia X xuyên qua não, mô não hấp thụ tia X ở mức độ khác nhau. Vùng có mật độ cao hơn mô não sẽ hiện “đậm” (tăng tỉ trọng), vùng mật độ thấp hơn sẽ “nhạt” (giảm tỉ trọng).
- Xuất huyết não: Thấy vùng tăng tỉ trọng rõ, xác định vị trí, diện tích.
- Thiếu máu não: Vùng giảm tỉ trọng, phù hợp phân bố động mạch; nhưng cần lưu ý trong 1–2 ngày đầu, đôi khi chưa thấy thay đổi, phải chụp nhắc lại sau 24 giờ.
- Độ chính xác >95%, chẩn đoán nhanh, không xâm lấn, ít đau, hình ảnh rõ. Giúp đánh giá hiệu quả điều trị, tiên lượng. CT thường là lựa chọn hàng đầu hỗ trợ chẩn đoán.
- Ưu điểm của chụp cộng hưởng từ (MRI) so với CT trong chẩn đoán đột quỵ cấp?
- MRI sử dụng tín hiệu hạt nhân Hydro, rất nhạy với hiện tượng phù nề sớm của não. Từ 1–2 giờ sau thiếu máu, MRI có thể thấy ổ tổn thương, trong khi CT thường phải 24 giờ mới rõ.
- MRI tốt trong nhồi máu lacunar (nhỏ). CT chỉ chụp mặt cắt ngang, khó thấy rõ ổ <10 mm, còn MRI có thể dựng ảnh nhiều mặt phẳng (ngang, đứng, dọc), phát hiện ổ <2 mm.
- Vùng hố sau (thân não, tiểu não) CT bị cản trở do xương, MRI lại rất rõ.
- Ổ xuất huyết kèm thiếu máu, MRI nhạy hơn CT.
- Giai đoạn bán cấp xuất huyết (khoảng 1–2 tuần), CT có thể hiện đẳng tỉ trọng (khó phân biệt), trong khi MRI vẫn rõ.
- Chẩn đoán phình, dị dạng mạch, MRI tốt hơn, thường không cần bơm cản quang (giảm nguy cơ dị ứng).
- CT dùng tia X, có hại nhất định, MRI không có tác hại bức xạ.
Tuy nhiên, CT lại nhanh, rẻ, đặc biệt hữu ích cho xuất huyết não. MRI đắt, tốn thời gian, người hôn mê khó thực hiện. Vì thế, lựa chọn tùy hoàn cảnh.
- Chẩn đoán bệnh mạch máu não gồm những gì?
Chẩn đoán đúng giúp điều trị hợp lý. Ngoài khám lâm sàng kỹ (bệnh sử, khám thần kinh,…) cần có cận lâm sàng. Thường gồm:
- Chẩn đoán định khu (vị trí)
Dựa vào triệu chứng – dấu hiệu thần kinh, xác định tổn thương lan tỏa hay khu trú? Thuộc trung ương hay ngoại biên? Khu vực não nào (bán cầu, tiểu não, thân não)? CT giúp định vị chính xác.
- Chẩn đoán định tính (tính chất)
Xác định là thiếu máu hay xuất huyết. Vì phác đồ điều trị khác nhau.
- Chẩn đoán nguyên nhân
Tìm lý do gây đột quỵ: cao huyết áp – xơ vữa, viêm mạch, phình mạch, bất thường đông máu,… để can thiệp gốc.
- Vì sao bệnh mạch máu não thường gây sốt?
Sốt trong đột quỵ thường do 3 nguyên nhân:
- Sốt trung ương: Tổn thương vùng dưới đồi kiểm soát nhiệt. Đột ngột sốt cao 40–41°C, không dấu nhiễm trùng, ít đáp ứng thuốc hạ sốt, kèm hôn mê sâu, cứng mất não, không toát mồ hôi, tứ chi lạnh, thường tiên lượng nặng.
- Sốt do nhiễm khuẩn: Viêm phổi, tiết niệu, loét, thường không sốt ngay từ đầu mà sau một thời gian, kèm thở nhanh, mạch nhanh, bạch cầu tăng.
- Sốt do hấp thu máu: Thường là sốt nhẹ, do quá trình tiêu biến ổ xuất huyết.
Sốt cao làm tăng chuyển hóa não, nhu cầu oxy tăng, dễ suy kiệt. Cần tích cực xử trí (chống phù não, kháng sinh nếu nhiễm trùng,…) và biện pháp hạ nhiệt phù hợp.
- Điều trị sốt trung ương (khu) thế nào?
Điều trị thuốc hạ sốt ít hiệu quả, thường áp dụng giảm nhiệt vật lý:
- Chườm cồn: Dùng dung dịch cồn 30% xoa tay chân, lưng, bụng, lợi dụng giãn mạch ngoại biên và bay hơi để hạ nhiệt. Phải theo dõi sát: nếu bệnh nhân rét run, tái mặt, ngưng ngay và đắp ấm.
- Đặt túi đá/ Mũ chườm lạnh: Đặt đá trong túi nhựa, bọc vải, đắp vùng cổ, nách, bẹn, trán… thay mỗi giờ. Hoặc đội mũ nước đá. Cần che tai bằng gạc tránh bỏng lạnh.
- Nếu vẫn không hạ được, có thể cân nhắc “liệu pháp giấc ngủ nhân tạo” (dùng barbiturat, kiểm soát thân nhiệt), nhưng cần theo dõi chặt.
- Bệnh nhân liệt kèm đau nhức tay chân, xử trí thế nào?
Sau đột quỵ, một số bệnh nhân liệt kèm đau:
- Bán trật khớp vai: Có thể đeo đai treo cánh tay, tập vận động nhẹ nhàng, chườm nóng, tắm nước ấm,…
- Hội chứng vai – tay (Shoulder Hand Syndrome): Giai đoạn đầu viêm, phù nề, đau dữ dội, cần can thiệp sớm ngừa cứng khớp. Dùng sóng ngắn, nhiệt, xoa bóp, tập luyện chủ động – bị động, kết hợp thuốc (như steroid liều nhỏ) và bôi giảm đau (như Voltaren, Diclofenac…).
- Viêm quanh khớp vai: Nếu dính, chèn ép nặng, vật lý trị liệu không đỡ, có thể kéo giãn hay phẫu thuật giải phóng.
- Đau nhiều, có thể dùng giảm đau (paracetamol, ibuprofen, fenbid…). Kết hợp trị liệu tâm lý, hướng dẫn tập luyện, sinh hoạt để quên đau. Trường hợp lo âu, mất ngủ dùng thêm an thần nhẹ (seduxen, meprobamat…).
- Phòng ngừa bệnh mạch máu não thế nào?
Tai biến khởi phát đột ngột, diễn biến nguy kịch, tử vong cao, nếu sống cũng di chứng nặng nề. Do đó, phòng ngừa là vô cùng quan trọng:
- Kiểm soát cảm xúc, tránh căng thẳng – mệt mỏi quá mức. Kích động thần kinh làm huyết áp vọt cao, dễ vỡ mạch não.
- Ăn uống điều độ, tránh “bổ quá mức”, tránh quá mặn, quá béo, quá ngọt, nhiều gia vị cay. Ăn nhiều rau quả tươi, giữ đại tiện thông suốt.
- Sinh hoạt hợp lý, tránh làm việc quá sức, kết hợp nghỉ ngơi, tập thể dục vừa sức, nâng cao thể trạng.
- Tiết chế tình dục đối với người có nguy cơ cao, vì gắng sức quá độ hại tim thận, có thể dẫn đến đột quỵ.
- Tránh táo bón vì rặn mạnh làm tăng huyết áp đột ngột.
- Tự phòng ngừa bệnh mạch máu não ra sao?
Nếu hiểu biết rõ các yếu tố nguy cơ, bạn sẽ thấy đột quỵ không phải không thể phòng. Tuy có di truyền, nhưng không hẳn ai có tiền sử gia đình cũng phát bệnh, nguy cơ chỉ cao hơn thôi, và vẫn cải thiện được. Nhiều người chỉ chú ý điều trị bằng thuốc mà bỏ qua vai trò chủ động thay đổi lối sống, kiểm soát stress, ăn uống, tập luyện, ngưng hút thuốc, tránh béo phì, giảm muối, tránh mệt mỏi,… Thực tế, “chìa khóa phòng ngừa” phần lớn nằm trong tay chính chúng ta.
- Làm sao tránh tái phát bệnh mạch máu não?
- Phát hiện sớm các dấu hiệu như đau đầu, chóng mặt, khó nói, tê yếu,… nên đi khám.
- Loại bỏ nguyên nhân bên trong: Cao huyết áp, xơ vữa, tim, đái tháo đường, lipid máu,… cần điều trị đều đặn.
- Tránh yếu tố khởi phát: Căng thẳng, gắng sức, thay đổi khí hậu, rượu bia, thuốc lá,…
- Chế độ ăn uống hợp lý, đủ dinh dưỡng, không quá no, kiêng dầu mỡ, đồ mặn, đồ ngọt,…
- Kiên trì dùng thuốc (kháng kết tập tiểu cầu, thuốc hoạt huyết…). Đồng thời, rèn luyện thể lực.
- Vì sao bệnh nhân đột quỵ cần chú ý vệ sinh răng miệng? Chăm sóc thế nào?
Bệnh nhân đột quỵ thường giảm tiết nước bọt, hoặc chảy dãi ở bên liệt, dễ đọng thức ăn, vi khuẩn, nấm,… gây viêm loét miệng, viêm tuyến mang tai, viêm hô hấp,… Vì thế, phải chăm sóc miệng:
- Thường xuyên loại bỏ dịch, thức ăn thừa. Dùng nước đun sôi để nguội, dung dịch oxy già 1%, furacilin 0,2%, boric 3%… rửa. Chú ý làm sạch bên liệt, tránh đọng mảnh vụn.
- Nếu niêm mạc loét, bôi gentian violet 1% hoặc bột băng phiến bôi (ice boron), tannin,… Môi nứt nẻ, thoa glycerin hay vaselin. Nấm miệng: nhẹ nhàng lau bựa trắng, rồi bôi hỗn hợp nystatin + glycerin.
- Người có răng giả, cần tháo ra chải sạch sau ăn, vệ sinh miệng, rồi lắp lại.
- Ai nuôi ăn qua sonde dạ dày (mũi – dạ dày) cũng phải vệ sinh miệng ngày 2 lần.
Đặc biệt bệnh nhân hôn mê, càng phải chăm sóc toàn diện: thay đổi tư thế 2–3 giờ/lần, vệ sinh đường hô hấp, vệ sinh da tránh loét, theo dõi mạch, huyết áp, nhịp thở, ý thức,… Bệnh nhân xuất huyết não trong 2–3 ngày đầu nên hạn chế dịch truyền tránh phù não, song vẫn phải đảm bảo dinh dưỡng, có thể qua ống thông, ghi chép lượng vào – ra. Nếu bí tiểu hoặc mất tự chủ, cần đặt sonde tiểu, hạn chế viêm nhiễm. Kiểm soát nhiệt độ cơ thể (chườm mát khi sốt cao). Mắt hở to chảy dịch phải nhỏ thuốc, che mắt tránh khô loét giác mạc…
- Chăm sóc người bệnh mạch máu não tại nhà thế nào?
Ngoài điều trị chuyên môn, chăm sóc gia đình rất quan trọng:
- Tâm lý: Động viên khuyến khích bệnh nhân, tránh lo âu, thất vọng. Tạo tâm trạng lạc quan.
- Dinh dưỡng: Đủ năng lượng, dễ tiêu. Nhiều rau quả, ít mặn, ít béo. Tránh táo bón.
- Phòng loét, viêm phổi: Thường xuyên thay đổi tư thế 2–3 giờ/lần, giữ da khô sạch, dùng phấn rôm hoặc cồn xoa xoa vùng tỳ đè. Chỗ loét nhẹ bôi thuốc sớm, nặng thì tạo vùng đệm nâng.
- Tập phục hồi: Khi ổn định, bắt đầu tập vận động thụ động (hoặc chủ động với bên lành hỗ trợ), kết hợp tập nói. Ngừa cứng khớp, teo cơ, sớm phục hồi khả năng đi lại, nói năng.
- Theo dõi: Nếu thấy liệt nặng lên, ý thức xấu, cần báo ngay bác sĩ.
- Làm sao loại bỏ và tránh yếu tố khởi phát bệnh mạch máu não?
Có hàng chục “ngòi nổ” chực chờ trong cuộc sống người lớn tuổi (căng thẳng, ăn uống sai, gắng sức, thay đổi thời tiết…). Phòng ngừa chủ yếu phụ thuộc vào ý thức cá nhân. Y học cung cấp kiến thức, thuốc men, nhưng tự ta phải kiểm soát lối sống, cảm xúc, tránh tranh cãi, bốc đồng, không thức khuya, không ăn quá no, tránh rượu mạnh,…
- Kiểm soát tâm lý: Giữ tinh thần vui vẻ, lạc quan, đừng để vui buồn giận ghét quá độ.
- Tránh làm việc quá sức. Sắp xếp thời gian nghỉ ngơi, không gắng sức vượt khả năng.
- Không dùng lực đột ngột, tránh bê vác nặng, tập thể thao quá mức,…
- Tránh ăn uống sai: Kiêng nhậu nhẹt quá độ, hạn chế mỡ động vật, tránh ăn quá no 1 bữa.
- Cẩn thận thời tiết: Giữ ấm khi lạnh, tránh say nắng khi nóng, phòng cảm cúm.
- Thay đổi tư thế chậm rãi, nhất là đêm dậy tiểu.
- Kiểm soát huyết áp: Uống thuốc đều, không ngừng đột ngột.
- Vì sao điều trị cao huyết áp giúp phòng bệnh mạch máu não?
Cao huyết áp là nguy cơ số 1 gây đột quỵ, kể cả xuất huyết và nhồi máu. Nhiều nghiên cứu, thực tiễn cho thấy kiểm soát huyết áp giảm đáng kể tỷ lệ xuất huyết não. Tổ chức Y tế Thế giới công nhận, tai biến là biến chứng chính của cao huyết áp, và thuốc hạ áp giúp kéo giảm tỉ lệ tai biến. Ở Thượng Hải, theo dõi 633 bệnh nhân cao huyết áp 17 năm, tử vong do đột quỵ đứng đầu; nhóm điều trị thường xuyên lâu dài tuổi thọ cao nhất, nhóm điều trị thất thường hay bỏ trị tử vong nhiều nhất.
- Kiểm soát huyết áp thế nào để phòng ngừa đột quỵ?
Cao huyết áp thường tiến triển chậm, gây hại dần cho tim, não, thận, mạch. Nguy cơ tai biến tăng theo độ cao. Có người bị 20–30 năm nhưng không đột quỵ, do điều trị thường xuyên. Người chủ quan “chưa có triệu chứng” sẽ âm thầm tích lũy biến chứng. Ở nước ngoài, nghiên cứu chọn nhóm huyết áp tâm trương >105 mmHg, chia 2 nhóm: được điều trị và không điều trị, kết quả sau 3 năm, nhóm điều trị chỉ 1 ca đột quỵ, nhóm không điều trị 11 ca, rủi ro cao gấp 4 lần.
48.1. Nguyên tắc điều trị
- Kết hợp thuốc và không thuốc: Giảm muối, tránh béo, dừng hút thuốc, hạn chế rượu, thể dục phù hợp, thư giãn tinh thần.
- Nếu huyết áp tâm trương ≥90 mmHg (tương đương 12 kPa), nên dùng thuốc. Hạ áp mục đích kiểm soát lâu dài, không phải “chữa khỏi” ngay.
- Nên có chỉ định bác sĩ, dùng liều nhỏ nhiều loại phối hợp. Nếu không hiệu quả, có thể thay thuốc, tăng liều dần.
- Thuốc tác dụng êm, ít tác dụng phụ (như thuốc lợi tiểu nhóm thiazide, chẹn beta – propranolol, vasodilator – hydralazine, chẹn kênh calci – nifedipine,…). Thuốc phối hợp thảo dược như “phức hợp hạ áp”… cũng phù hợp giai đoạn 1–2.
- Khi huyết áp về gần mức bình thường, duy trì liều ổn định, tránh dừng hẳn (dễ “tăng dội ngược”). Huyết áp dễ dao động khi thời tiết lạnh, stress,… có thể điều chỉnh liều tương ứng.
- Người già mạch cứng, rất nhạy cảm thuốc, cần cẩn trọng tránh tụt quá nhanh gây thiếu máu não.
Phòng đột quỵ đòi hỏi kiên trì lâu dài. Thực tế, chỉ ~25% bệnh nhân thực sự điều trị bền bỉ. Nhiều người tự ý bỏ thuốc khiến bệnh nặng. Cần thay đổi quan niệm “không có triệu chứng là không sao”, phải tuân thủ phác đồ, mới hạn chế tổn hại não.
- Vì sao nói bệnh mạch máu não rất nguy hiểm với sức khỏe con người?
Bệnh mạch máu não (đột quỵ) là bệnh thường gặp, có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, với các đặc điểm: tỷ lệ mắc cao, tỷ lệ chết cao, tỷ lệ tàn phế cao, tỷ lệ tái phát cao, nhiều biến chứng:
- Phát bệnh nhiều: Tỉ lệ trung bình thế giới ~200/100.000 dân/năm. Nước có tỉ lệ cao nhất là Nhật (290/100.000). Trung Quốc có vùng nông thôn ghi nhận 219/100.000. Mỗi năm hơn 2 triệu ca mắc mới. Tăng mạnh ở nhóm >50 tuổi, dân số già tăng, bệnh càng nhiều.
- Tử vong cao: Khoảng 100/100.000 dân/năm, đứng trong top 2–3 nguyên nhân gây chết. Ở Trung Quốc chiếm 116/100.000, ước mỗi năm >1 triệu người chết vì đột quỵ, tỷ lệ tử vong ~45%. Tử vong tăng dần theo tuổi, cứ thêm 5 năm, tử vong gấp đôi. Một nửa số còn sống cũng chết trong vòng 3–10 năm. Tái phát lần 2, nguy cơ tử vong cao hơn lần đầu.
- Tàn phế nặng: 50–80% sống sót bị di chứng (liệt, rối loạn ngôn ngữ, sa sút trí tuệ, co cứng,…) ~3/4 mất khả năng lao động, 16% nằm liệt giường, 10–20% được gần hồi phục hoàn toàn.
- Tái phát cao: 20–47% tái phát trong 5 năm, nhiều nhất là năm đầu. Thiếu kiểm soát huyết áp, tim mạch, xơ vữa,… làm nguy cơ lớn.
- Nhiều biến chứng: Viêm phổi, loét, nhiễm trùng niệu, xuất huyết tiêu hóa,… gây nguy hiểm tính mạng.
- Những ai dễ mắc bệnh mạch máu não?
Cộng đồng y học gọi đó là người mang “yếu tố nguy cơ”:
- Tiền sử gia đình (di truyền).
- Có cao huyết áp hoặc tiền sử cao huyết áp: 80% bệnh nhân đột quỵ có liên quan huyết áp cao, ngay cả thể “tiềm ẩn”.
- Đái tháo đường: Tổn thương vi mạch + xơ vữa, gia tăng thiếu máu não.
- Bệnh tim (mạch vành, rung nhĩ, suy tim…): giảm cung lượng não, dễ huyết khối.
- Cơn thiếu máu não thoáng qua (TIA): thường là giai đoạn đầu của nhồi máu não.
- Xơ vữa động mạch não: nền tảng bệnh lý.
- Các yếu tố khác: béo phì, nghiện thuốc lá, nghiện rượu, tính khí thất thường, ít vận động, dị dạng mạch, thoái hóa đốt sống cổ…
- Trong y học cổ truyền: thể “ứ huyết”, bệnh mô liên kết, gout, macroglobulinemia,…
Nếu một người có nhiều yếu tố gộp lại, nguy cơ càng cao. Biết được nguy cơ giúp ta phòng bệnh hiệu quả.
- Mắc bệnh mạch máu não có thể thọ lâu không?
Nhiều người nghĩ đã đột quỵ thì sớm muộn cũng tử vong. Thực ra, bệnh có tử vong cao, nhưng không có nghĩa ai cũng chết sớm. Vẫn có nhiều người sống được trên 20 năm. Có thống kê trong nước, 5 năm sau tai biến: 62% còn sống, 6–10 năm: 20%, 11–15 năm: 15%, >15 năm: 3%. 40% vượt qua tuổi 70, 5% quá 80. Có trường hợp 63 tuổi tai biến, giờ 87 vẫn còn.
Yếu tố chính:
- Mức độ tổn thương lần đầu. Nếu xuất huyết nhiều, hoặc nhồi máu rộng, liệt nặng, thường tử vong sớm.
- Cách điều trị, hồi phục trong 3–6 tháng đầu.
- Ngừa biến chứng và tái phát. 1 năm đầu nguy cơ tái phát cao nhất. Lần hai nặng hơn lần đầu.
Nhiều người sau 5–10 năm vẫn sống tốt. Miễn chăm sóc, tập luyện, kiểm soát nguyên nhân, họ có thể duy trì nhiều năm, thậm chí 80–90 tuổi.
- Hậu quả của đột quỵ thế nào?
Đột quỵ khiến nhiều người khiếp sợ vì:
- Tử vong cao: 1,5–14,1% (nhồi máu) và 24,5–81,6% (xuất huyết), trung bình 13,8–36,4%. Do tính chất nguy kịch, tiến triển nhanh.
- Di chứng: 50–80% có liệt nửa người, nói khó, lú lẫn, co rút,… 1/3 nằm liệt giường, 2/3 cần hỗ trợ sinh hoạt, chỉ 10–20% gần như bình thường.
- Biến chứng: viêm phổi, loét tì đè, bội nhiễm,… Rất dễ khiến bệnh nặng lên.
- Tái phát – tử vong: Phần lớn tử vong 3–10 năm sau đợt đầu, do đột quỵ tái phát, viêm phổi, tim mạch, ung thư,…
Tuy vậy, y học tiến bộ: kiểm soát huyết áp, can thiệp mạch vành, can thiệp não, kết hợp đông – tây y, phục hồi chức năng,… giúp giảm tử vong, giảm tàn phế.
- Phòng ngừa đột quỵ – bệnh mạch vành (theo hướng tiếp cận cộng đồng)
Nhiều nghiên cứu nước ngoài cho thấy để ngăn ngừa tim mạch – đột quỵ, cần chiến lược lâu dài:
- Ngăn chặn tăng yếu tố nguy cơ toàn dân
- Thay đổi hành vi, lối sống (giảm muối, bỏ thuốc, kiểm soát cân nặng, ăn ít mỡ bão hòa…), giáo dục sức khỏe, nâng cao ý thức.
- Can thiệp vào nhóm “nguy cơ cao” một cách thích đáng.
- Phòng thứ cấp (ngăn tái phát, ngăn tiến triển)
- Quản lý bệnh nhân, điều trị duy trì, theo dõi liên tục.
53.1. Kiểm soát cao huyết áp
- Giáo dục sức khỏe: Giúp người dân hiểu tác hại cao huyết áp, biết cách tự theo dõi, ăn giảm muối, ngưng hút thuốc, bớt rượu, tập thể dục.
- Điều chỉnh lối sống: Chia 2 mức:
- “Chiến lược cộng đồng”: hướng đến toàn dân, giảm lượng muối <5 g/ngày, tăng tiêu thụ rau quả giàu kali, khuyến khích vận động,…
- “Chiến lược cá nhân nguy cơ cao”: Tìm người bị hoặc tiền cao huyết áp, can thiệp sâu.
53.2. Giám sát cộng đồng
- Xây dựng hệ thống thông tin, thu thập dữ liệu phát bệnh, tử vong, yếu tố nguy cơ,…
- Sàng lọc sớm: Đo huyết áp định kỳ, đo ECG nếu nghi mạch vành, kiểm tra cholesterol nếu cần,… Phát hiện tiền cao huyết áp, xử trí.
53.3. Quản lý điều trị bệnh nhân
- Thiết lập hồ sơ, theo dõi nhóm “cận biên” và bệnh nhân cao huyết áp.
- Điều trị liên tục và có kế hoạch. Nghiên cứu chứng minh kiểm soát huyết áp giúp giảm rõ đột quỵ (giảm 50% nguy cơ) và bệnh mạch vành.
Trường Xuân dịch