Bệnh đậu fava là một bệnh thiếu máu tán huyết cấp tính xảy ra sau khi ăn đậu fava. Đậu fava (viciafaba) còn được gọi là đậu nành vàng.
Bệnh đậu fava đã được tìm thấy ở tây nam, nam, đông và bắc Trung Quốc, và phổ biến nhất ở Quảng Đông, Tứ Xuyên, Quảng Tây, Hồ Nam và Giang Tây. 70% bệnh nhân dưới 3 tuổi và 90% nam giới là nam giới. Bệnh nhân trưởng thành rất hiếm, nhưng một số ít bệnh nhân không phát triển bệnh cho đến tuổi trung niên hoặc tuổi già. Vì thiếu hụt G6PD là di truyền, có tiền sử gia đình trong hơn 40% trường hợp. Bệnh thường xảy ra vào đầu mùa hè trong mùa chín của đậu tằm. Đại đa số bệnh nhân phát triển bệnh do tiêu thụ đậu rộng tươi. Nguyên nhân của bệnh này khác nhau ở phía bắc và phía nam, khởi phát muộn hoặc sớm.
Y học Trung Quốc nhận thức về bệnh đậu đản như thế nào?
Bệnh đản đậu fava được đặc trưng bởi vàng da sau khi ăn đậu rộng (đản đậu蚕豆), tương đương với phạm trù “Hoàng đản” và “Cốc đản” trong y học cổ truyền Trung Quốc. Trương Trọng Cảnh thời nhà Hán trong {Kim Quỹ Yếu Lược} có một cuộc thảo luận đặc biệt về “Cốc đản”: “Cốc khí bất tiêu, vị trung khổ trọc, trọc khí thượng lưu, tiểu tiện bất thông, âm bị kỳ hàn, nhiệt lưu bàng quang, thân thể tận hoàng, danh viết cốc đản.” Ẩm thực không tiêu, ứ trệ trong dạ dày, trọc khí đi lên trên, tiểu tiện không thông, âm bộ bị lạnh, nhiệt vào bàng quang, toàn thân thể phát màu vàng, gọi là chứng cốc đản. Đến thời nhà Minh, trong {Cảnh Nhạc Toàn Thư} thì viết: “Nhân ẩm thực thương tỳ nhi đắc giả, viết cốc đản.” Cho rằng ăn đản đậu tổn thương tỳ vị dẫn đến bệnh vàng da thì thuộc phạm trù “Cốc đản”.
Các biểu hiện nghiêm trọng của bệnh đậu đản tương tự như chứng “Cấp hoàng” trong y học cổ truyền Trung Quốc.
Thời nhà Tuỳ trong {Chư bệnh Nguyên hậu luận}, có chuyên điều luận về chứng “Cấp hoàng” viết: “Tỳ vị hữu nhiệt, cốc khí uất chưng, nhân vi nhiệt độc sở gia, cố thốt nhiên phát hoàng, tâm mãn khí suyễn, mệnh tại khoảnh khắc, cố vân cấp hoàng dã.” (Tỳ vị có nhiệt uất chưng với cốc khí, nhân vì nhiệt độc tăng lên, đột nhiên phát bệnh vàng da, đầy bụng khí suyễn, sinh mệnh nguy kịch trong chốc lát, vì thế gọi là chứng cấp hoàng)
Liên quan với điều trị vàng da, Trương Trọng Cảnh đề xuất thanh nhiệt lợi thấp, tiết nhiệt thông phủ, thấm thấp lợi tiểu, hoà giải xu cơ (then chốt), kiện tỳ bổ thận. Đặc biệt là xác lập nguyên tắc điều trị chính là: “Chư bệnh hoàng gia, đãn lợi kỳ tiểu tiện” Những bệnh vàng da, nên lợi tiểu tiện). Đồng thời còn sáng chế nhiều phương tễ điều trị chứng hoàng đản, như thang Nhân trần hao, thang Chi tử bá bì, thang Chi tử Đại hoàng, thang Đại hoàng Tiêu thạch, Nhân trần ngũ linh tán, thang Tiểu kiến trung…Y gia thời hiện đại Quan Ấu Ba đã sáng lập lý luận theo huyết trị hoàng (vàng da), đề xuất “Trị hoàng tất trị huyết, huyết hành hoàng dị khước” (治黄必治血,血行黄易却。) Muốn trị chứng vàng da tất phải trị huyết, huyết vận hành thì chứng vàng da dễ bị trừ khứ, căn cứ theo bệnh cơ: “Thấp nhiệt uẩn (tích tụ) ở huyết phận”, “Ứ nhiệt phát hoàng”, chỉ ra rằng trên cơ sở thanh nhiệt khứ thấp, gia nhập dược của huyết phận và hoạt huyết hoá ứ dược. Ông còn đề xuất “Trị hoàng nhu giải độc, giải độc hoàng dị trừ” (Trị chứng vàng da cần giải độc, giải độc vàng da dễ trừ), Khi dùng dược điều trị chứng vàng da nên gia thêm các vị thuốc giải độc. Trị bệnh vàng da với phép giải độc đối với điều trị bệnh đản đậu có gía trị vận dụng rất trọng yếu.
Nhận thức của Trung y đối với Nguyên nhân và cơ chế của bệnh đản đậu là gì?
Trung y cho rằng nguyên nhân chủ yếu của bệnh đản đậu gồm hai phương diện là thấp nhiệt uẩn kết và ăn uống không thích đáng, cơ chế phát bệnh như sau:
1/ Thấp nhiệt uẩn kết
Bệnh đản đậu với biểu hiện lâm sàng chủ yếu là vàng da (hoàng đản) và bần huyết, chủ yếu xảy ra ở lưu vực sông Trường giang và các tỉnh phía Nam, và nằm ở những vùng ẩm thấp. Trung y cho rằng nguyên nhân chính gây ra vàng da là do thấp nhiệt, thấp nhiệt xâm nhập vào cơ thể, một số trẻ nhỏ không đủ năng lực bẩm sinh, cùng với cơ thể âm dương còn non yếu (trĩ âm trĩ dương), hình thể hư nhược, Chính khí (năng lực kháng bệnh) không đầy đủ, thấp tà thừa cơ xâm nhập cơ thể cuả trẻ, uất lâu ngày hoá nhiệt, thấp nhiệt nung nấu nhau ở can đảm, dẫn đến can mất sơ tiết (phân tán), đảm trấp tràn ra ngoài, ngấm vào da thịt, chảy xuống bàng quang, khiến cho mặt mắt và tiểu tiện đều vàng.
2/ Chế độ ăn uống không hợp lý
Ăn uống không sạch sẽ và đói no thất thường có thể làm tổn thương tỳ vị, dẫn đến công năng vận hoá suy yếu, sinh ra thấp trọc, uất lại hoá nhiệt, thấp nhiệt nung nấu nhau ở can đảm, đảm trấp không theo đường bình thường, nhiễm vào da thịt mà gây bệnh vàng da. Trẻ em tỳ vị non yếu. Nếu như mẫn cảm với đản đậu tươi, sau khi ăn nhập vào cơ thể, gây tổn thương tỳ vị, ảnh hưởng can đảm. Độc tố của đản đậu tổn thương đến doanh huyết, can trữ tàng huyết, huyết độc tích tụ ở trong tạng can mà trẻ em tạng can còn non yếu, không thể trừ độc trong máu, tích độc ngày càng nhiều, dẫn đến tổn thương can đảm, đảm trấp tràn ra ngoài mà xuất hiện vàng da (hoàng đản)
Chất độc xâm nhập vào doanh huyết, làm tổn thương tỳ và thận, tổn thương tỳ nên không thể sinh hóa khí huyết, tổn thương thận khiến cho âm suy tinh bị tổn hại, nguồn tinh hoá huyết không đầy đủ nên xuất hiện chứng trạng khí huyết lưỡng hư. Nếu như độc hãm vào tâm bào che lấp thần minh thì sẽ phát thành trọng chứng cấp hoàng.
Những điểm chính của Trung y khi biện chứng đản đậu bệnh là gì?
Y học cổ truyền Trung Quốc cần nắm bắt hai điểm chính khi phân biệt hội chứng bệnh đản đậu gồm:
1. Phân biệt bản chất của hội chứng hoàng đản (vàng da): Hoàng đản được chia thành dương hoàng, âm hoàng và cấp hoàng.
Dương hoàng: Bệnh khởi phát nhanh, bệnh trình ngắn, màu vàng tươi sáng, thuộc chứng thực nhiệt;
Âm hoàng: Bệnh khởi phát chậm, bệnh kéo dài, màu vàng tối hoặc xỉn màu hoặc vàng sẫm đen, thuộc hàn, hư chứng;
Cấp hoàng: Bệnh khởi phát đột ngột, biến hoá nhanh chóng, cơ thể có màu vàng như vàng, chứng thuộc hư thực hàn nhiệt đan xen lẫn lộn.
2. Phân biệt mức độ nghiêm trọng của thế bệnh:
Thông qua quan sát biến hoá của màu sắc hoàng đản, biến hoá của màu nước tiểu để phán đoán biến hoá của bệnh và tình trạng nặng nhẹ của bệnh.
Quan sát sự thay đổi màu sắc của hoàng đản:
Vàng da dần dần thâm hơn, cho thấy bệnh đã trở nên nặng hơn, đây là nghịch chứng;
Vàng da dần trở nên nhạt màu hơn, cho thấy tình trạng đang được cải thiện, đây là một dấu hiệu thuận lợi.
Quan sát sự thay đổi màu nước tiểu:
Màu nước tiểu là màu vàng nhạt – nâu sẫm – đỏ máu – màu xì dầu, cho thấy tình trạng tan máu đang nặng hơn và bệnh đang phát triển, đó là nghịch chứng;
Màu nước tiểu là màu nước tương – đỏ máu – nâu sẫm – vàng nhạt, cho thấy tan máu đang giảm và tình trạng đang được cải thiện, đây là một bằng chứng thuận lợi.
Nếu ít tiểu tiện, bí tiểu, hôn mê hoặc co giật, điều đó cho thấy tình trạng này rất nguy kịch và phải được cấp cứu.
Y học cổ truyền Trung Quốc biện chứng luận trị bệnh đản đậu loại hình tỳ hư huyết khuy như thế nào?
Bệnh đản đậu tỳ hư huyết khuy là loại hình nhẹ, Trung y biện chứng luận trị cụ thể như sau.
Chứng trạng: Phát sốt khá nhẹ, mặt, mắt, da và nước tiểu màu vàng nhạt, tay chân yếu, hồi hộp trống ngực, khó thở, chán ăn phân lỏng nát, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi mỏng, mạch nhu tế.
Cơ chế bệnh: Ngộ độc do ăn đản đậu rộng, ngộ độc khá nhẹ, tổn thương tỳ vị, khiến tỳ vị suy yếu. Tỳ hư nên nguồn sinh hoá khí huyết không đầy đủ khiến cho khí huyết hư thiểu, huyết bại nên sắc không tươi, không thể nuôi dưỡng trong ngoài, vì thế mặt mắt và da thịt phát vàng, sắc vàng khá nhạt, nước tiểu vàng, tứ chi không được nuôi dưỡng nên tứ chi không có lực; Huyết không dưỡng tâm nên hồi hộp khí đoản; Tỳ vị hư nhược, vận hoá không có lực nên chán ăn phân lỏng nát; Thấp trọc rót xuống bàng quang khiến màu nước tiểu giống như màu nước trà đậm đặc; Vì huyết hư dẫn đến âm hư nên phát nhiệt khá nhẹ; Hoặc do độc của đản đậu đấu tranh với huyeetsmaf phát nhiệt, nếu độc tố ít thì phát nhiệt nhẹ, nếu độc tố nhiều thì phát nhiệt nặng; Chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi mỏng, mạch nhu tế, đây đều là những hiện tượng của tỳ hư huyết khuy.
Trị pháp: Kiện tỳ lợi thấp, bổ khí dưỡng huyết kiêm giải độc.
Phương dược: Thang Tiểu kiến trung gia vị. Quế chi 10g, Bạch thược 12g, Hoàng kỳ 15g, Đương quy 10g, Phục linh 12g, Nhân trần 12g, Đảng sâm 15g, Điền cơ hoàng 15g, chích Cam thảo 6g.
Gia giảm: Phát nhiệt, khứ Quế chi, gia Hoàng cầm, Chi tử; Hoàng đản nặng, gia Chi tử, Đại hoàng.
Y học cổ truyền Trung Quốc biện chứng luận trị bệnh đản đậu loại hình thấp nhiệt uẩn kết như thế nào?
Loại hình thấp nhiệt uẩn kết của bệnh đản đậu là loại hình trung độ, và y học cổ truyền Trung Quốc căn cứ vào biểu hiện lâm sàng mà tiến hành thi trị tương ứng.
Chứng trạng: Cơ thể và mắt có màu vàng tươi, sốt và khát, bồn chồn, buồn nôn và nôn, chướng bụng, chán ăn, ăn ít, táo bón, nước tiểu ít hoặc có màu đỏ hoặc nước tiểu có màu nước tương, chất lưỡi hồng, rêu lưỡi vàng nhờn hoặc thô, mạch huyền sác hoặc hoạt sác.
Cơ chế bệnh: Sau khi ăn đản đậu, ngộ độc khá nghiêm trọng, chất độc xâm nhập vào doanh huyết, chất độc và máu tương bác, chất độc mạnh và máu vượng, nên sốt cao; Nhiệt độc làm tổn thương can đảm và làm cho can đảm không thể sơ tiết (phân tán) túi mật bị rò rỉ, do đó mật không đi theo đường đi thông thường và lan sang da và trở thành vàng da; Bởi vì nhiệt là dương tà, nhiệt nặng hơn thấp, nên cơ thể và mắt có màu vàng tươi sáng; Nếu nhiệt tà nhiều ở trong, gây tổn thương tân dịch khiến khát nước; Thấp nhiệt uẩn kết trung tiêu, công năng vận hoá bị ảnh hưởng khiến chán ăn và ăn ít; Vị không hoà giáng, trọc khí phậm lên trên nên lợm giọng ẩu thổ, phiền muộn bồn chồn; Dạ dày nhiều nhiệt, phủ khí không thông nên ức bụng trướng đầy, đại tiện táo bón; Thấp nhiệt rót xuống, bệnh tà nhiễu bàng quang, khí hoá không thuận lợi, nên tiểu tiện lượng ít và có màu đỏ hoặc màu giống như nước tương; Chất lưỡi hồng, rêu lưỡi vàng nhờn hoặc vàng thô tháo không mịn, mạch huyền sác hoặc hoạt sác. Đó đều là hiện tượng của thấp nhiệt uẩn kết.
Phương dược: Nhân trần ngũ linh tán gia giảm. Nhân trần 15g, Trư linh 12g, Phục linh 10g, Trạch tả 10g, Bạch truật 12g, Hoàng cầm 15g, Chi tử 12g,Bản lam căn 18g, Uất kim 10g, Cam thảo 6g.
Gia giảm: Đại tiện bí kết, gia Đại hoàng, Chỉ thực; Ẩu thổ nghiêm trọng, gia Bán hạ, Trúc nhự.
Y học cổ truyền Trung Quốc biện chứng luận trị bệnh đản đậu loại hình độc tà nội hãm như thế nào?
Loại đản đậu bệnh tà xâm nhập thuộc loại hình rất nghiêm trọng, và y học cổ truyền Trung Quốc căn cứ theo những biểu hiện lâm sàng để tiến hành điều trị.
Chứng trạng: Bệnh khởi phát nhanh, biến hoá thần tốc, cơ thể có màu vàng như vàng kim loại, sốt cao và khát nước, chảy máu mũi, đại tiện ra máu, phân khô, nước tiểu màu xì dầu, thậm chí bí tiểu, trẻ bị bệnh bồn chồn bất an, thậm chí co giật hoặc buồn ngủ, hôn mê, có thể chạm thấy các khối u dưới sườn, chất lưỡi hồng, rêu lưỡi bẩn và mạch huyền tế mà sác.
Cơ chế bệnh: Trẻ bẩm sinh yếu nhược, cơ thể yếu, sau khi ăn đản đậu bị ngộ độc nặng, bệnh phát triển dữ dội và truyền biến tấn tốc nên khởi phát bệnh rất nhanh; Chất độc tà tranh đấu quyết liệt với máu và gây sốt cao, chất độc nhiệt tiêu háo tân dịchnên khát nước; Độc tà nhiễu loạn bên trong, bức bách đảm trấp tràn ra ngoài, khiến cơ thể vàng như vàng kim loại; Rót xuống bàng quang, cộng với sức nóng độc hại, nước tiểu có màu nước tương, thậm chí bí tiểu; Chất độc nóng xâm nhập vào doanh huyết, bức bách máu vận hành sai đường, tràn ra da và phát thành ban chẩn, nghịch lên trên phát thành thổ nục, hướng xuống thì thành tiện huyết; Chất độc nhiệt nhiễu động can phong, nhẹ thì tứ chi run rẩy, nặng thì gây co giật; Nhiệt độc xâm phạm tâm bào, nhiễu động thần trí, che lấp tâm khiếu thì bn vật vã bất an, thần trí hoảng hốt, thậm chí ngủ mê man; Độc tà uất kết, khí trệ huyết ứ mà tích tụ trong bụng, thì có thể chạm thấy hòn khối ở hạ sườn, chất lưỡi hồng ráng, rêu lưỡi bẩn, mạch tế huyền hoặc sác, là những hiện tượng nguy hiểm của độc tà nội hãm.
Trị pháp: Thanh nhiệt lương huyết, giải độc cứu nghịch.
Phương dược: Tê giác tán gia giảm: Tê giác phấn 3g (uống riêng), Sinh địa 15g, Hoàng liên 10g, Chi tử 10g, Huyền sâm 10g, Nhân trần 18g, Đan bì 10g, Bản lam căn 18g, Thăng ma 10g, Cam thảo 6g.
Nhiệt độc động huyết, xuất hiện các loại xuất huyết, thay thuốc bằng thang Tê giác địa hoàng; Nếu thấy sốt vao vật vã, da thịt phát ban, chảy máu chân răng…đều là những biểu hiện của nhiệt sâu độc nặng, khí huyết cùng bị thiêu đốt, có thể dùng Thanh ôn bại độc ẩm; Nếu nhiệt độc hãm trong tâm bào, tinh thần hôn ám nói nhảm, có thể dùng An cung Ngưu hoàng hoàn hoặc Chí bảo đan.
Trường Xuân Ng Nghị dịch