Bài giảng Thương hàn luận
Nguyễn Nghị dịch
Lời nói đầu
Sự ra đời của {Thương hàn tạp bệnh luận}, đã xác lập được cấu trúc cơ bản của hệ thống biện chứng luận trị và quy tắc ứng dụng cơ bản của lý pháp phương dược lâm sàng, đặt nền tảng vững chắc cho sự phát triển của y học lâm sàng Trung y. Vì giá trị lý luận và giá trị ứng dụng lâm sàng tuyệt vời, cuốn sách đã được các học giả y học các triều đại xưa coi là “医门之圭臬,医家之圣书”(Y môn chi khuê niết, y gia chi thánh thư) là tiêu chuẩn của y học và là thánh thư của các y gia. Nghiên cứu về “Thương Hàn Luận” đã bắt đầu ngay sau khi nó được viết ra không lâu. Sau thời Tống, rất nhiều người đã nghiên cứu “Thương Hàn Luận”. Sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập, do tích cực chủ trương kế thừa và tiếp nối di sản y học của đất nước, công trình nghiên cứu về “Thương Hàn Luận”đã bước sang một giai đoạn mới, đã xuất hiện một nhóm chuyên gia và nhà giáo dục nghiên cứu “Thương Hàn Luận”. Giáo sư Lưu Độ Châu là một trong những người ưu tú nhất. Trong quá trình giảng dạy “Thương Hàn Luận”, Giáo sư Lưu Độ Châu đã lồng ghép kinh nghiệm lâm sàng và tư duy lý thuyết của cá nhân mình vào bài giảng, điều này không chỉ làm cho lời giải thích sinh động hơn mà còn giúp học viên hiểu sâu hơn. May mắn thay, Giáo sư Lưu Độ Châu đã để lại cho chúng tôi một đoạn băng ghi âm khi ông giảng về “Thương Hàn Luận”cho các sinh viên cao học Lý thuyết cơ bản về y học cổ truyền Trung Quốc tại Đại học Y học cổ truyền Trung Quốc Bắc Kinh. Lời giải thích của Giáo sư Lưu Độ Châu dựa trên “Chú giải Thương hàn luận” do Thành Vô Kỷ viết làm bản chính. Ngoại trừ phần có thể tóm tắt và không thể tóm tắt của “Phương pháp biện mạch”, “Phương pháp bình mạch v.v. Các phần chính được bảo lưu và thứ tự số ① được gán theo thứ tự ban đầu, và sau đó giải thích từng thứ một.
Thương hàn thốt bệnh luận tập
Luận viết: Mỗi khi nghĩ đến Việt nhân vào nước Quắc để vọng chẩn cho Tề hầu, thường thở dài tiếc cho tài năng của ông. Trách kẻ sĩ sống trên đời, không chú ý đến y, dược, nghiên cứu phương thuật, bên trên thì điều trị bệnh tật cho vua chúa, cha mẹ, bên dưới thì giúp người bần hàn, ở giữa thì có thể giữ cho thân mình được sống lâu khoẻ mạnh, nhưng nếu chỉ tranh giành danh lợi, nóng vội, vất vả truy tìm lợi danh, tôn sùng cái ngọn, bỏ bê căn bản, hào nhoáng bên ngoài, nghèo nàn tiều tuỵ bên trong, mà không biết rằng da không còn thì lông dựa vào đâu?.
Đến khi đột nhiên bị bệnh, một căn bệnh ngặt nghèo, hoạn đến, hoạ tới, sợ hãi run rẩy, mất hết sức lực ý chí, tìm đến thày pháp thày bùa, cho rằng bệnh tật là số trời định, thúc thủ chịu thất bại, đem đời sống trăm năm quý giá, giao cho bọn phàm y, thày bói thày cúng, phóng túng sai lầm, ô hô ai tai, không quý trọng thân thể, tin vào thần linh, biến mình thành dị vật, đau thay, cả đời mê muội, không thể giác ngộ, không tiếc sinh mệnh, coi thường sự sống, thì còn nói gì đến vinh hoa phú quý! Tiến thì không yêu người, biết người, thoái không thể yêu mình biết mình, gặp tai hoạ, thân ở nơi nguy hiểm, lúc nào cũng mê mê muội muội, ngơ ngẩn như du hồn. Ôi chính vì chỉ theo cái phù hoa mà từ bỏ căn bản nên hãm thân nơi nguy hiểm như hố băng hiểm địa. Gia tộc nhà ta rất đông, trên 200 người, từ năm Kiến an đến nay, chưa đầy 10 năm, đã chết mất 2/3, chết vì thương hàn chiếm đến 7/10. Nghĩ đến sự chết chóc đã qua, lại càng thương cho những người tuổi trẻ chết yểu mà không được cứu, nên ta chú tâm nghiên cứu sách cổ, thu thập các phương, tuyển dụng {Tố vấn}, {Cửu quyển}, {Bát thập nhất nan}, {Âm dương đại luận} , {Thai lư dược lục}, đồng thời bình mạch biện chứng, làm thành 16 quyển {Thương hàn tạp bệnh luận}, tuy chưa thể chữa khỏi hết mọi loại bệnh, nhưng có thể biết được nguồn gốc của bệnh, nếu hiểu được ý của ta thì có thể biết được quá nửa nguyên nhân của bệnh tật. Trời đất dùng ngũ hành để sinh hoá, vận hành vạn vật, con người bẩm thụ ngũ thường (thường khí của ngũ hành) mà có ngũ tạng, kinh lạc phủ du, âm dương hội thông, sâu kín, biến hoá khôn lường, nếu không phải là những người tài cao, hiểu rộng thì làm sao có thể hiểu được! Thượng cổ có Thần Nông, Kỳ Bá, Bá Cao, Lôi Công, Thiếu Du, Thiếu Sư, Trọng Văn, trung thế có Trường Tang, Biển Thước, Thời Hán có Công Thừa Dương Khánh và Thương Công, sau nữa thì chưa nghe đề cập đến. Quan niệm về việc làm thuốc hiện nay là không nghĩ đến việc nghiên cứu, tìm hiểu ý nghĩa kinh điển mà trình bày hiểu biết của mình, chỉ theo truyền thống gia đình, trước sau thuận theo như cũ, xem tật hỏi bệnh, sự việc đều do kể lại. Suy đoán một cách tương đối hời hợt mà cấp thuốc, tựa như án bộ thốn mà không án đến bộ xích, khám tay bệnh nhân mà không khám đến chân, Nhân nghênh Điệt dương không tham khảo cả ba bộ, số mạch đập theo hơi thở không đủ 50, không quyết đoán trong thời gian ngắn, không nghĩ đến cửu hậu, chưa bao giờ quan sát Minh đường, Khuyết đình, tầm nhìn hời hợt, hạn hẹp, thế mà muốn phân biệt sống chết thì chẳng phải khó lắm sao?
Khổng Tử nói: Sinh ra mà biết là bậc trên, học mà biết là á thánh, nghe học nhiều mà biết thì kém hơn, ta ngày đêm nghiên cứu phương thuật, theo sự việc mà kể lại, nên cũng chỉ là người thường thôi.
Nguồn gốc và sự phát triển của Thương hàn luận.
Thương hàn luận có tên là {Thương hàn tạp bệnh luận} hoặc {Thương hàn thốt bệnh luận}
Là trứ tác của Trương Cơ thời hậu Hán. Trương Cơ, tự là Trọng Cảnh, người ở nam quận Niết Dương (nay là quận Nam Dương) sống trong khoảng thời gian từ năm 150- 219 sau công nguyên. Ông từng theo học danh y Trương Bá Tổ, quá nhiều năm miệt mài nghiên cứu, bất luận là mực độ lý luận y học hay thực tiễn lâm sàng, đều vượt qua thày, có thể nói là “青出于蓝而胜于蓝” (Thanh xuất vu lam nhi thắng vu lam) màu xanh xuất từ màu lam mà thắng màu lam.
I/ Bối cảnh lịch sử và điều kiện chủ quan và khách quan của {Thương hàn luận}
Trương Trọng Cảnh sống vào những năm cuối của thời Đông Hán, do sự bóc lột và áp bức tàn nhẫn của giai cấp thống trị phong kiến thời bấy giờ, đặc biệt là chiến tranh liên miên và dịch bệnh (bệnh truyền nhiễm) nên người dân sống không tốt. Theo lời tựa của “Thương hàn tạp bệnh luận”: Dòng tộc nhà ta rất đông, khoảng hơn 200 người. Từ năm Kiến an đến nay, chưa đầy 10 năm, đã chết hết 2/3, bị chết vì sốt thương hàn chiếm 7 phần 10. Đây chính là nguyên nhân trực tiếp viết {Thương hàn luận} của Trương Trọng Cảnh. Lấy gia đình của Trương Trọng Cảnh làm ví dụ, có hơn 200 người, nhưng chưa đầy mười năm sau năm Kiến An thứ nhất đã có hơn 120 người chết, chiếm 2/3 dân số, trong đó có những người đã chết sốt thương hàn là hơn một trăm người. Đánh giá về số người chết này, dịch bệnh tràn lan vào thời điểm đó là đáng báo động. Vì vậy, Trương Trọng Cảnh, với tư cách là một nhà khoa học y học đầy khát vọng, lập chí chiến đấu và chữa bệnh, cứu người, và sau đó ông đã viết cuốn sách “Thương hàn tạp bệnh luận”.
“Kiến an kỷ niên dĩ lai”, “Kiến an” là niên hiệu của Hán Hiến đế.
Khảo sát theo tình huống lịch sử, không phù hợp lắm với mô tả của Trương Trọng Cảnh, và có khả năng đã viết nhầm chữ “Kiến Ninh” thành hai chữ “Kiến An”. Kiến ninh là niên hiệu của Hán Linh Đế, trước Kiến An. Căn cứ theo Hậu Hán thư, trong khoảng 9 năm này có 3 lần đại dịch làm chết nhiều người. Người ta suy đoán rằng Trương Trọng Cảnh đã nhớ lại cái chết của đại dịch thời Kiến Ninh vào thời Kiến An, điều này phù hợp với sự thật lịch sử. Đại dịch xảy ra trong thời kỳ Kiến An là khi nào? Không phải trong vòng mười năm của Kiến An, mà là 22 năm của Kiến Ninh. Theo ghi chép của “Thái Bình Ngự Lãm”, Cao Thực, con trai của Tào Tháo, nói rằng tình hình dịch bệnh kích thích trong 22 năm Kiến An đã đạt đến thảm cảnh “nỗi đau của người chết trong mỗi gia đình, sự tang tóc và tiếng khóc có trong mọi nhà “.
Ngoại trừ bối cảnh lịch sử, còn có nguyên nhân khác thúc đẩy Trương Trọng Cảnh viết {Thương hàn tạp bệnh luận}.
Ngoài bối cảnh lịch sử của trận dịch vào thời điểm đó, còn có một lý do khác đã thúc đẩy Trương Trọng Cảnh viết {Thương hàn tạp bệnh luận}.. Vào thời hậu Hán, sự phát triển của y học Trung Quốc đã tạo điều kiện cho Trương Trọng Cảnh viết sách. Trong lời nói đầu ban đầu, Trương Trọng Cảnh đã liệt kê những cuốn sách y học phong phú mà ông đã tham khảo khi viết {Thương hàn tạp bệnh luận}. bao gồm, tuyển dụng “Tố vấn”, “Cửu quyển”, “Bát thập nhất nan”, “Âm Dương Đại luận”, Thai Lư “,” Dược lục “, và “Bình mạch biện chứng” là {Thương hàn tạp bệnh luận} trong 16 quyển.
Trên cơ sở những sách tham khảo này với phương pháp sàng lọc lấy những gì tinh tuý nhất (khứ thô thủ tinh) , Trương Trọng Cảnh đã làm nên một tác phẩm vĩ đại. Đồng thời, sự phát triển mạnh mẽ của dược học thời Hậu Hán cũng thúc đẩy sự nâng cao trình độ của phương tễ học, các phục phương đã được sử dụng để điều trị bệnh và được sử dụng rộng rãi trong thực hành lâm sàng.
Với sự hoàn chỉnh của lý pháp phương dược trong {Thương hàn tạp bệnh luận} nên được gọi là “Phương thư chi tổ” (tổ của các phương thuốc) then chốt là phải hoàn chỉnh là điều kiện tiên quyết. Một số di tích văn hóa được khai quật cũng có thể minh họa cho vấn đề này. Vì vậy, việc xuất bản cuốn {Thương hàn tạp bệnh luận} phản ánh trình độ phát triển và thành tựu của y học Trung Quốc thời hậu Hán.
Trương Trọng Cảnh không chỉ kế thừa những thành tựu y học trước thời Hán mà còn phát triển tính sáng tạo. Nói một cách ngắn gọn, ông đã cải thiện đáng kể trình độ biện chứng luận trị trong y học Trung Quốc. Mặc dù phương pháp biện chứng luận trị đã có từ trước Trương Trọng Cảnh, nhưng trình độ vẫn còn hạn chế.
{Thương hàn tạp bệnh luận} đã thiết lập một hệ thống hoàn chỉnh về biện chứng luận trị cho các bệnh lâm sàng khác nhau. Sốt thương hàn là một bệnh cấp tính, truyền nhiễm, phát sốt, phát bệnh cấp, phát bệnh nhanh;Tạp bệnh là nhiều bệnh mãn tính khác với bệnh thương hàn. Nếu nói rằng trình độ biện chứng luận trị không được nâng cao; Sẽ không thể tưởng tượng là đã thảo luận về bệnh thương hàn lại thảo luận về tạp bệnh. Thí dụ như nói, phương pháp phân chứng lục kinh của {Thương hàn luận} bắt nguồn ở {Tố vấn. Nhiệt luận}, nhưng không giới hạn ở nhiệt chứng và thực chứng, mà là kèm theo hư chứng và hàn chứng, đồng thời phản ảnh khách quan tình huống cụ thể tạng phủ kinh lạc, âm dương biểu lý, hàn nhiệt hư thực. Những bệnh biến và hội chứng đều được khái quát hoá, phân chứng lục kinh được toàn diện và phong phú hơn, chính là những cống hiến rất lớn. Trương Trọng Cảnh sử dụng thuốc và thang dịch cũng rất phong phú, {Thương hàn luận} có 113 phương thang, bao gồm 91 vị thuốc, dựa theo từng bước lý pháp phương dược để phù hợp với lâm sàng thực dụng.
Có thể thấy, {Thương hàn tạp bệnh luận} là một trứ tác kết nối quá khứ với tương lai, phát triển lý luận y học từ trước thời nhà Hán, đến hiện tại cũng còn ý nghĩa chỉ đạo nhất định. Trương Trọng cảnh có khả năng sáng tạo, không khoe khoang, luôn tiến bộ và phát triển dựa trên nền tảng của những người tiền nhiệm.
II/ Sự lưu truyền và ấn bản của {Thương hàn luận}
Không lâu sau khi xuất bản cuốn {Thương hàn tạp bệnh luận}, cuốn sách đã bị hư hại nghiêm trọng do nạn cướp bóc và chiến tranh, và mười sáu tập gốc cũng bị phân tán ( Khoảng 100 năm kể từ thời kỳ hậu Hán, nơi Trọng Cảnh tọa lạc),
Thái y lịnh Tây Tấn Vương Thúc Hoà rất coi trọng {Thương hàn tạp bệnh luận} của Trương Trọng Cảnh. Sau khi thu thập, phân loại và viết lại, nó đã trở thành mười tập {Thương hàn luận}.
Nếu kiến thức lịch sử này không rõ ràng, trong tương lai mối quan hệ giữa {Thương hàn luận}, {Thương hàn tạp bệnh luận} và {Kim quỹ yếu lược} sẽ rất dễ bị nhầm lẫn.
Thầy thuốc Nhật Bản Sơn Điền Chính Trân từng nói: “Thù bất tri cổ tích thập lục quyển chi bản thị Vương thị bất truyền, tuy Thúc Hoà diệc bất đắc nhi kiến chi hĩ.” Cũng như có ý nói là Vương Thúc Hoà cũng không xem đầy đủ 16 quyển. Vì vậy, Vương Thúc Hoà có công đối với việc lưu truyền“Thương hàn tạp bệnh luận” nếu không chúng ta sẽ không thấy cuốn sách này bây giờ. Khi gặp khó khăn trong quá trình phân loại, Vương Thúc Hoà có thể tham gia vào bằng ý kiến riêng của ông.
Sẽ không công bằng nếu đổ lỗi cho ông đã phá huỷ văn bản gốc. Còn một số học giả đã cho rằng Vương Thúc Hoà đã chia {Thương hàn tạp bệnh luận} thành hai cuốn sách, kết luận này hiện nay vẫn bỏ ngỏ. Diện mạo và tình huống ban đầu của {Thương Hàn Luận}rất khó tìm thấy trong các tư liệu lịch sử, chỉ có một vài manh mối trong sách lịch sử.
Trong {Tuỳ Thư * Kinh Tịch Chí} ghi lại “{Trương Trọng Cảnh biện Thương hàn} thập quyển” , trong{Đường Thư * Nghệ Văn Chí}ghi lại “{Thương Hàn Tạp Bệnh Luận} thập quyển”. Nếu Vương Thúc Hoà lấy {Thương Hàn Tạp Bệnh Luận} phân thành 10 quyển {Thương hàn luận} và 10 quyển {Tạp Bệnh Luận}, thì vì sao
{Tuỳ Thư * Kinh Tịch Chí} và {Đường Thư * Nghệ Văn Chí} không ghi lại?
Ngoài ra, trong {Tống Sử * Nghệ Văn Chí} ghi lại “{Thương Hàn Luận} thập quyển, {Kim Quỹ Yếu Lược} tam quyển”.
Sở dĩ có ghi chép này là vào thời Tống Thái tổ, tiết độ sứ Cao Kế Xung đã đóng góp 10 quyển tổng cộng 22 bài trong “Thương Hàn Luận”, sau đó, học sĩ hàn lâm Vương Chu đã phát hiện ra ba tập{Kim Quỹ Ngọc Hàn Yếu lược phương} ở trong những nơi chứa sách cũ đã bị mối mọt.
Trong triều đại Trị bình của nhà Tống (1065 SCN), chính quyền nhà Tống đã ra lệnh cho các quan y tế Cao Bảo Hành, Lâm Ức, Tôn Kỳ và những người khác sửa chữa y thư. Trong số đó, mười tập “Thương hàn luận” do Cao Kế Xung hiến đã được sửa chữa, sau đó được khắc và in rồi bán ra thị trường. Đồng thời, “Kim Quỹ ngọc Hàm Yếu Lược Phương” do Vương Chu phát hiện ra, và một bản sao riêng của “Thương Hàn Luận”, cũng được sửa chữa. Hiện chỉ có ba phiên bản “Thương Hàn Luận” đang được sử dụng: một là phiên bản Niên Gian được khắc lại bởi Triệu Khai Mỹ trong thời Vạn Lịch của nhà Minh, được gọi là Triệu bản; Phiên bản còn lại là “Chú Giải Thương Hàn Luận “do Vương Kế Xuyên khắc lại vào thời Gia Tĩnh của nhà Minh, gọi tắt là Vương bản; Ngoài ra còn có” Kim Quỹ Ngọc Hàm Kinh “, được cho là do Vương Thúc hoà viết và gồm tám quyển. và hai mươi chín điều, nội dung về cơ bản tương đồng với “Thương Hàn Luận” nhưng cách sắp xếp các điều khoản không hoàn toàn giống nhau, đồng thời điều văn ở trên mà phương dược ghi ở phía sau. . Tại sao lại có “Kim Quỹ Ngọc Hàm Kinh”?
Nghe nói “Thương Hàn luận” rất được các thầy thuốc coi trọng, để tránh thiệt hại do chiến tranh, người ta đã đặt mua một cuốn sách riêng. Cá nhân tôi nghĩ rằng điều này không phải lúc nào cũng đúng, bởi vì thứ tự của các bài văn, thứ tự sắp xếp của {Kim Quỹ Ngọc hàm Kinh} rất khác với bản của họ Triệu và bản của họ Vương, vì thế phương pháp, cách hiểu và phương diện học thuật không hoàn toàn tương đồng với {Thương Hàn luận}. Trên đây là diễn biến lịch sử của {“Thương Hàn Luận” }
Như vậy {Thương Hàn Tạp Bệnh Luận} là tên được đặt bởi Trương Trọng Cảnh, vì sao lại trở thành {Thương Hàn Luận}như hiện nay? Điều này đã có lịch sử lâu đời. {Tuỳ Thư * Kinh Tịch chí} đã đề cập “{Trương Trọng Cảnh biện Thương Hàn} thập quyển”, {Biện Thương Hàn} chính là {Thương Hàn Luận}. Có một số y gia như Kha Vận Bá phàn nàn cho rằng Vương Thúc Hoà đã thay tên {Thương Hàn Tạp Bệnh Luận} thành {Thương Hàn Luận} là không phù hợp. Tuy nhiên {{Tuỳ Thư * Kinh Tịch Chí}đề cập đến “{Trương Trọng Cảnh Biện Thương Hàn} thập quyển”, nhưng {Đường Thư * Nghệ Văn Chí} lại đề cập “{Thương Hàn Thốt Bệnh Luận} thập quyển” ở đây có một từ viết sai, chữ “卒” (Thốt) là chữ việt sai của chữ “杂” (Tạp). Vì thế bắt đầu từ chọn lựa của Vương Thúc Hoà là{Thương Hàn Luận} đến nay vẫn còn một nghi vấn {Thương Hàn Luận} hay {Thương Hàn Tạp Bệnh Luận}.
Theo ý kiến cá nhân của tôi, rất ít khả năng Vương Thúc Hoà đã thay đổi {Thương Hàn Tạp Bệnh Luận} thành{Thương Hàn Luận}. Người ta công khai gọi là {Thương Hàn Luận}từ thời nhà Tống. Vào thời nhà Tống, việc sửa đổi sách y học nhân danh chính phủ đã phổ biến trong xã hội, lúc này không còn gọi là {Thương Hàn Tạp Bệnh Luận}nữa mà là {Thương Hàn Luận}, có ảnh hưởng rất lớn. Tại sao lại đổi{Thương Hàn Tạp Bệnh Luận} được đổi thành {Thương Hàn Luận}? Có một lý do cho việc này. Truyền thống Trung Quốc rất nghiêm ngặt. Làm sao có thể thay đổi tên sách một cách ngẫu nhiên? Cao Bảo Hành, Lâm Ức và những người khác đã đề cập trong lời tựa của {Kim Quỹ} rằng Trương Trọng Cảnh viết {Thương Hàn Tạp Bệnh Luận} gồm 16 quyển, thời gian gần đây truyền lại mười quyển {Thương Hàn}, {Tạp Bệnh} cũng chưa thấy xuất hiện. Vì thế Vương Thúc Hoà chỉ chọn 10 quyển trong 16 quyển {Thương Hàn Tạp Bệnh Luận} và ông không tìm thấy 6 quyển còn lại.
Vì {Thương Hàn Tạp Bệnh Luận} bao gồm mười sáu quyển, trong đó {Thương Hàn Luận} có mười quyển, nên một số học giả cho rằng sáu quyển đó là {Tạp Bệnh Luận}. “Trương Trọng Cảnh viết {Thương Hàn Tạp Bệnh luận} hợp thập lục quyển”, được coi là sự kết hợp của hai cuốn sách trong 16 tập. Cách hiểu này là không đúng. Người xưa viết sách đều dùng chữ “Hợp”, “hợp nhị thập quyển”, “hợp thập ngũ quyển”, “hợp nhất bách quyển” chữ “hợp” này không giống với chữ “hợp” ở hai sách hợp lại.
10 Quyển là {Thương Hàn luận}, 6 quyển là {Tạp Bệnh Luận} là không logic.
Vì vấn đề này không được làm rõ nên đã tạo ra một ảo tưởng rằng{Thương Hàn Luận} được dành cho bệnh ngoại cảm nhiệt. Mọi người có thể nghĩ xem, không có tạp bệnh nào liên quan đến mười quyển {Thương Hàn Luận} của Vương Thúc Hoà tuyển chọn? Đó là điều không thể.
Người viết phản đối tất cả các quan điểm này. {Kim Quỹ Yếu lược}có điều trị thương hàn không?
Có hay không có Thái dương bệnh? Có hay không có lục kinh bệnh? Đơn thuốc đầu tiên là qua lâu Quế chi thang, trị Thái dương bệnh cứng lưng gáy, bất quá cũng chỉ là mạch trầm mà thôi, cho nên gia Qua lâu căn; Bệnh kính “tất giới xỉ”, lại chính là vấn đề của kinh dương minh. Vì thế, {Thương Hàn Luận} và {Kim Quỹ Yếu lược} tuy có những điểm nhấn riêng, nhưng không nên áp đặt, mà chính là có liên hệ hữu cơ.
Thương hàn luận là sách gì?
Để học tốt {Thương Hàn Luận}, chúng ta phải giải quyết {Thương Hàn Luận} là sách gì? ” ‛Về vấn đề này, đã có nhiều tranh cãi giữa các thày thuốc trong quá khứ. Một số người bị ảnh hưởng bởi tiêu đề của {Thương Hàn Luận} và tin rằng {Thương Hàn Luận} chỉ để điều trị sốt thương hàn. Có người cho rằng dù là mười quyển nhưng vẫn thiếu sáu quyển, nhưng tôi hiểu từ tinh thần rằng có cả bệnh thương hàn và các tạp bệnh, và vận dụng phương pháp biện chứng luận trị. Cá nhân tôi giữ quan điểm thứ hai. Do đó, không nên giới hạn cuốn sách {Thương Hàn Luận} trong việc điều trị một loại bệnh nào đó hoặc sử dụng một số đơn thuốc nhất định.
Nếu như vậy là {Thương Hàn Luận} đã bị giáng cấp, mà đúng ra chúng ta nên xem {Thương Hàn Luận} chính là một bộ sách của biện chứng luận trị.
GS Lưu Độ Châu