Tài liệu tham khảo:
Vì sao nói hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ hàng đầu gây bệnh mạch vành?
Kết quả điều tra dịch tễ học ở Trung Quốc cho thấy, người hút thuốc lá nhiều có tỉ lệ mắc bệnh mạch vành cao hơn từ 2 đến 6 lần so với người không hút thuốc, tỉ lệ cơn đau thắt ngực cũng cao hơn từ 3 đến 6 lần. Ở Mỹ, Anh, Canada và Thụy Điển, qua quan sát trên 12 triệu người, cho thấy tỉ lệ tử vong chung, tỉ lệ mắc và tử vong do bệnh tim mạch ở nam giới hút thuốc cao hơn 1,6 lần so với người không hút. Nguy cơ tương đối mắc nhồi máu cơ tim (gây tử vong hoặc không tử vong) ở người hút thuốc cao hơn 2,3 lần so với người không hút. Trong nhiều nước công nghiệp hóa, hút thuốc được xem là một trong những yếu tố nguy cơ chủ yếu dẫn đến bệnh mạch vành. Nguyên nhân là do trong khói thuốc lá (sinh ra khi đốt cháy thuốc lá) có chứa hơn 3.800 chất hóa học được biết đến, trong đó có carbon monoxide (CO), nicotine cùng nhiều loại alkaloid, amin, nitril, rượu, phenol, ankan, aldehyde, kim loại nặng,… Các chất này đều có những tác động sinh học khác nhau, gây hại cho cơ thể. Khoảng hơn mười loại hóa chất có liên quan đến bệnh mạch vành, trong đó nicotine và carbon monoxide được xem là hai thành phần chính kích thích và làm nặng thêm sự phát bệnh mạch vành.
Nicotine (còn gọi là nicotin hoặc “yên kiềm” trong y học cổ truyền Trung Hoa) là chất gây nghiện chủ yếu. Chỉ cần 7,5 giây sau khi hút thuốc, nicotine trong khói thuốc đã có thể đến não, tạo cho người hút cảm giác thư giãn, thoải mái tạm thời, đồng thời kích thích hệ thần kinh trung ương hưng phấn rồi ức chế. Nicotine còn tác động lên hệ thần kinh giao cảm, làm tim đập nhanh, tăng huyết áp, kích thích tuyến thượng thận tiết nhiều catecholamine hơn, khiến cơ tim phản ứng mạnh hơn, nhịp tim tăng, mạch máu co thắt, huyết áp tăng. Đồng thời, nó còn thúc đẩy kết tụ tiểu cầu và làm tăng hàm lượng fibrin, tạo điều kiện cho huyết khối hình thành, gây tắc nghẽn các tiểu động mạch. Vì vậy, tác động kích thích của nicotine khiến tim phải làm việc nhiều hơn, tiêu thụ nhiều oxy hơn, và từ đó động mạch và cơ tim bị thiếu oxy. Nicotine cũng có thể kích thích hệ dẫn truyền của tim, gây tim đập nhanh quá mức (nhịp tim nhanh) hoặc các dạng rối loạn nhịp khác; đồng thời làm tăng nồng độ cholesterol máu và giảm hàm lượng HDL (cholesterol tốt).
Carbon monoxide (CO) là khí không màu, không mùi. Ái lực của nó với hemoglobin cao gấp 250 lần so với oxy. Khi con người hít nhiều CO, nó sẽ gắn với hemoglobin tạo ra nhiều carboxyhemoglobin, từ đó làm giảm đáng kể lượng oxyhemoglobin. Ở người không hút thuốc, nồng độ carboxyhemoglobin trong máu chỉ khoảng 0,5%, nhưng ở những người hút thuốc lá nặng có thể lên tới 15%~20%, nghĩa là 15%~20% hemoglobin đã mất chức năng vận chuyển oxy, gây thiếu oxy ở thành động mạch, làm thành động mạch bị phù nề, thúc đẩy sự thấm và lắng đọng lipid, dẫn đến xơ vữa động mạch.
Điều đặc biệt nguy hiểm là hút thuốc còn kích thích co thắt động mạch vành, làm dòng chảy trong mạch vành chậm hơn, lượng máu nuôi tim giảm, tăng độ nhớt của máu, dẫn đến cơ tim thiếu oxy, thậm chí gây nhồi máu cơ tim.
Như vậy có thể thấy, hút thuốc lá thực sự là “thủ phạm” hàng đầu dẫn đến bệnh mạch vành. Để giảm tỉ lệ mắc bệnh mạch vành và nâng cao sức khỏe cộng đồng, chúng ta cần kiên quyết bỏ thuốc lá, tránh để tình trạng “ Tử hôi phục nhiên” (死灰复燃。)tàn lửa tưởng đã tắt lại cháy bùng lên.
Uống rượu và bệnh mạch vành có mối quan hệ như thế nào?
Ở Trung Quốc, văn hóa uống rượu đã có lịch sử hàng ngàn năm. Y học cổ truyền cho rằng, rượu có vị cay tính ấm, uống vừa phải có thể giúp thông kinh hoạt lạc, điều hòa khí huyết, làm đẹp da, tăng tuổi thọ và bồi bổ sức khỏe. Khi kết hợp với thuốc (như rượu thuốc hoặc dùng rượu để hòa thuốc) còn có thể hỗ trợ dược tính, hai bên bổ trợ lẫn nhau. Tuy nhiên, nếu uống quá mức, sẽ gây tổn hại cơ thể, ảnh hưởng tâm trí, “Thập hại nhi vô nhất lợi” có hại nhiều, không lợi ích gì. Vì thế, chúng ta cần nhìn nhận việc uống rượu một cách biện chứng.
Mối liên hệ giữa uống rượu và bệnh mạch vành đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi. Có tài liệu cho rằng, mối quan hệ giữa uống rượu và tỉ lệ tử vong do bệnh mạch vành có dạng đường cong hình chữ “U,” và uống rượu ở mức nhẹ hoặc trung bình có thể làm giảm tỉ lệ tử vong do bệnh mạch vành. Trong nước cũng từng có nghiên cứu ở nam giới 251,5 kg rượu trắng (khoảng 1,1~3,0 lít) mỗi tháng, hàm lượng HDL-C tăng đáng kể so với nhóm không uống rượu. Nhưng nếu tiếp tục tăng lượng rượu, HDL-C cũng không tăng thêm, mà còn kéo theo việc tăng nồng độ cholesterol toàn phần (TC) trong huyết thanh, khiến tỉ lệ tử vong do bệnh mạch vành tăng gấp đôi.
Những năm gần đây, có ý kiến cho rằng, uống ít rượu có thể ức chế kết tập tiểu cầu, ngăn chặn đông máu và có tác dụng phòng ngừa nhồi máu cơ tim. Các nhà nghiên cứu Mỹ khảo sát trên 340 bệnh nhân mới bị nhồi máu cơ tim cho thấy, uống rượu ở mức độ vừa phải có thể làm tăng 15% hàm lượng HDL-C trong máu, qua đó giảm bớt nguy cơ nhồi máu cơ tim. Tuy nhiên, các nghiên cứu lâm sàng và thực nghiệm hiện đại cũng chứng minh, uống rượu nhiều sẽ làm tăng gánh nặng lên tim và gan. Lượng cồn lớn có thể trực tiếp gây tổn thương cơ tim và nội mạc mạch máu, rối loạn chuyển hóa năng lượng trong cơ tim, ức chế enzyme lipoprotein lipase, thúc đẩy gan tổng hợp tiền β-lipoprotein; đồng thời làm β-lipoprotein (tức LDL, vốn chứa nhiều cholesterol) bị phân giải chậm, tăng triglyceride, gây xơ vữa động mạch.
Do vậy, để giảm tỉ lệ mắc bệnh và tử vong do bệnh mạch vành, chúng ta nên uống ít và chọn rượu chất lượng cao (nếu có uống), hoặc tốt nhất là không uống.
Thói quen ăn uống và bệnh mạch vành có liên quan như thế nào?
Trước đây, khi nói về phòng chống các bệnh truyền nhiễm đường ruột, chúng ta hay nhắc “phải chú ý vệ sinh, phòng bệnh từ miệng.” Ngày nay, để phòng ngừa bệnh tim mạch, bệnh mạch máu não, tiểu đường…, chúng ta cũng cần “Bệnh tòng khẩu nhập” phòng bệnh từ miệng, vì thói quen ăn uống không tốt và cơ cấu dinh dưỡng thiếu hợp lý có liên quan mật thiết đến các bệnh “thời hiện đại” này. Nhiều cuộc điều tra quy mô lớn cho thấy, cơ cấu ăn uống không hợp lý và tình trạng rối loạn apolipoprotein thứ phát là một trong những yếu tố quan trọng làm phát sinh xơ vữa động mạch. Năm 1912, một nhà nghiên cứu Nga cho thỏ ăn thức ăn giàu cholesterol, tạo được mô hình động vật bị xơ vữa động mạch thực nghiệm. Kết quả phát hiện, trong quá trình xây dựng mô hình, đầu tiên là rối loạn mỡ máu, sau đó phát sinh tổn thương xơ vữa động mạch. Điều này cho thấy, thói quen ăn uống không tốt có thể dẫn đến rối loạn chuyển hóa lipid, hình thành xơ vữa động mạch và gây bệnh mạch vành.
Khoảng 40 năm trước, tỉ lệ mắc và tử vong do bệnh mạch vành ở Mỹ từng tăng rất nhanh, nhưng từ thập niên 1960 trở đi lại giảm mạnh cho đến hiện nay. Theo đa số học giả, nguyên nhân chính là do cải thiện lối sống: giảm lượng cholesterol đưa vào cơ thể, kiểm soát việc hút thuốc… Nhờ đó, các yếu tố nguy cơ gây bệnh mạch vành được giảm thiểu.
Trái lại, ở Trung Quốc, cùng với sự phát triển xã hội và nâng cao mức sống của nhân dân, cộng với thói quen ăn uống chưa hợp lý và các yếu tố nguy cơ như hút thuốc…, tỉ lệ mắc và tử vong do bệnh mạch vành ngày càng tăng. Qua nhiều kết quả điều tra dịch tễ học, có thể thấy rõ mối liên hệ chặt chẽ giữa thói quen ăn uống và bệnh mạch vành. Những người thường xuyên ăn thực phẩm giàu cholesterol có tỉ lệ mắc bệnh mạch vành tăng lên đáng kể. Vì thế, cần hình thành thói quen ăn uống tốt ngay từ nhỏ, điều chỉnh lại cơ cấu dinh dưỡng hợp lý để phòng ngừa bệnh mạch vành.
Nguyên tắc ăn uống hợp lý để phòng và điều trị bệnh mạch vành
Vì dinh dưỡng và bệnh mạch vành có mối quan hệ rất mật thiết, nên việc xây dựng chế độ ăn uống hợp lý có ý nghĩa quyết định đối với phòng ngừa và điều trị bệnh mạch vành. Cụ thể:
Tuân thủ những nguyên tắc dinh dưỡng trên sẽ giúp giảm nguy cơ mắc bệnh mạch vành cũng như hỗ trợ điều trị hiệu quả hơn.
Vì sao ăn cá biển có thể phòng ngừa bệnh mạch vành?
Bệnh mạch vành, đặc biệt ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp, thường có hiện tượng tăng hoạt tính tiểu cầu. Trong động mạch vành của người bị nhồi máu cơ tim cấp, thường thấy rất nhiều tế bào mast (dưỡng bào) tập trung, các tế bào này có thể phóng thích leukotriene (bạch cầu trùng hợp), histamin và một số prostaglandin. Khi cơ tim bị thiếu máu, bạch cầu còn phóng thích các gốc oxy tự do, gây tổn thương tế bào nội mô. Những chất do bạch cầu phóng thích có thể làm hoạt hóa tiểu cầu, gây co thắt mạch máu, tăng tính thấm thành mạch, đồng thời thu hút bạch cầu trung tính di chuyển đến. Như vậy, tác dụng kết hợp của tiểu cầu, bạch cầu, prostaglandin và leukotriene chính là cơ chế quan trọng trong sự hình thành xơ vữa động mạch và bệnh mạch vành. Việc sử dụng một số thuốc hoặc biện pháp điều trị để ức chế những tác dụng này có thể cắt đứt một số khâu trong quá trình hình thành xơ vữa, giúp làm chậm diễn tiến xơ vữa, giảm mức độ xơ vữa, giảm huyết khối động mạch vành cũng như giới hạn vùng nhồi máu cơ tim.
Axit eicosapentaenoic (EPA) và axit docosahexaenoic (DHA) có tác dụng rõ rệt trong việc hạ lipid máu, ngăn ngừa co thắt động mạch vành và xơ vữa động mạch. Nguồn EPA chủ yếu từ thực phẩm, cơ thể chỉ tự tổng hợp được một lượng rất nhỏ. Hải sản như hàu, cá thu, cá hồi, cá ngừ… và dầu gan cá chứa hàm lượng EPA rất phong phú, có thể chiếm 0,1%~90% tổng thành phần. EPA có tác dụng làm giãn động mạch vành, chống kết tụ tiểu cầu và cải thiện tính thấm thành mạch; đồng thời hạ lipid máu. Nhiều báo cáo cho biết, người Eskimo và các dân tộc vùng Bắc Cực hiếm khi ăn thịt hoặc sữa từ động vật trên cạn, cũng ít ăn thực phẩm có nguồn gốc thực vật, mà chủ yếu dùng cá, nội tạng cá, mỡ cá voi, v.v… Khảo sát cho thấy, lượng cholesterol, triglyceride, lipoprotein tỷ trọng thấp và rất thấp trong máu của họ đều ở mức thấp, trong khi hàm lượng lipoprotein tỷ trọng cao (HDL) lại cao. Dựa trên các số liệu đó, có thể nhận định lượng EPA hấp thu và tồn tại ở mức cao trong cơ thể chính là nguyên nhân quan trọng giúp dân cư vùng Bắc Cực có tỉ lệ mắc xơ vữa động mạch và bệnh mạch vành rất thấp. Nhiều nghiên cứu trên thế giới cũng xác nhận tác dụng phòng chống bệnh mạch vành của EPA.
Vì vậy, trong dự phòng tiên phát và thứ phát đối với xơ vữa động mạch và bệnh mạch vành, thịt cá, dầu cá và EPA có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Đây cũng là thành tựu lớn trong nghiên cứu căn nguyên học bệnh mạch vành những thập niên gần đây. Việc sử dụng EPA, DHA hoặc ăn một lượng cá, dầu cá thích hợp có thể là hướng đi mới trong phòng và điều trị xơ vữa động mạch và bệnh mạch vành. Do đó, hãy thường xuyên ăn cá biển!
Vì sao thực phẩm từ tảo biển có lợi trong phòng ngừa bệnh mạch vành?
Các điều tra dịch tễ về bệnh mạch vành cho thấy, ngư dân sống ven biển thường có tỉ lệ mắc bệnh này thấp hơn hẳn. Điều đó có thể liên quan đến việc họ ăn nhiều hải sản. Những năm gần đây, ngành dược liệu từ thực vật biển có bước phát triển lớn. Nhiều hoạt chất chiết xuất từ tảo biển, như Polysaccharide Sulfate (PSS) (tức Alginic Acid Sodium Double Ester) hoặc Laminarin Sulfate (LS), đã bộc lộ vai trò nhất định trong phòng và điều trị bệnh mạch vành.
Các nghiên cứu thực nghiệm và lâm sàng cho thấy, chiết xuất từ tảo biển có nhiều chức năng sinh lý, giúp giảm mỡ máu, giảm khả năng đông máu, chống kết tập tiểu cầu, cải thiện các chỉ số huyết học, đồng thời tăng hàm lượng HDL, từ đó hỗ trợ phòng ngừa bệnh mạch vành và nhồi máu cơ tim trên nhiều mặt. Các chuyên gia phát hiện Laminarin Sulfate có thể hạ mỡ máu đáng kể, đồng thời tăng nồng độ lipoprotein tỷ trọng cao (HDL); PSS có tác dụng chống đông, chống kết tập tiểu cầu, giúp ngăn ngừa hình thành huyết khối ở vi mạch. Trong lâm sàng, các chế phẩm này được sử dụng rộng rãi để phòng và điều trị bệnh mạch vành và nhồi máu cơ tim, cho hiệu quả khả quan.
Nguyên tắc ăn uống phòng và điều trị bệnh mạch vành
Tại các nước phương Tây phát triển, bệnh mạch vành là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu. Ở Trung Quốc hiện nay, đây cũng là bệnh thường gặp, đe dọa sức khỏe cộng đồng. Phòng và điều trị bệnh mạch vành đã trở thành vấn đề y học cấp thiết. Các cuộc điều tra quy mô lớn cho thấy, bệnh mạch vành có liên quan đến tình trạng mất cân đối dinh dưỡng. Vì vậy, việc điều chỉnh chế độ ăn một cách hợp lý là giải pháp quan trọng để phòng, chống bệnh mạch vành. Dưới đây là các nguyên tắc ăn uống cho người bệnh mạch vành:
Vì sao người bệnh mạch vành nên tránh ăn quá no?
Ăn quá no có thể khởi phát và làm nặng thêm các cơn đau thắt ngực. Vì sao lại như vậy? Kết quả nghiên cứu trên động vật cho thấy, khi mô phỏng hiện tượng dạ dày căng (như tình trạng no căng) trong điều kiện động mạch vành bình thường, dạ dày căng sẽ làm tăng huyết áp và tăng nhu cầu oxy của cơ tim, đồng thời mạch vành giãn, dòng máu vành tăng. Nhưng trong trường hợp động mạch vành đã bị hẹp, khi dạ dày căng, huyết áp và nhu cầu oxy của cơ tim vẫn tăng, nhưng mạch vành lại co thắt, lưu lượng máu giảm, khiến thiếu máu cơ tim càng trầm trọng, thậm chí có thể gây nhiều dạng rối loạn nhịp tim. Ở người, sau khi ăn quá no, nồng độ catecholamine trong máu tăng cao, chất này rất dễ gây co thắt động mạch vành, làm dòng máu vành đột ngột sụt giảm, dẫn đến đau thắt ngực, thậm chí nhồi máu cơ tim. Thực tế lâm sàng cũng ghi nhận, no căng là một yếu tố quan trọng dẫn đến đột tử. Trong các trường hợp đột tử có nguyên nhân rõ, hơn một nửa liên quan đến ăn uống quá no. Vì thế, bệnh nhân mạch vành, đặc biệt khi đã có cơn đau thắt ngực, cần tuyệt đối tránh ăn quá no, nhằm ngăn ngừa tình trạng đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim và đột tử.
Người bệnh mạch vành có được uống rượu không?
Nhiều nghiên cứu cho thấy, uống rượu ở mức từ ít đến trung bình có thể ức chế kết tụ tiểu cầu, ngăn ngừa hình thành huyết khối, qua đó có tác dụng phòng nhồi máu cơ tim. Lượng rượu vừa phải (0,55~1,5 kg mỗi tháng) còn giúp tăng mức HDL trong máu và giảm LDL. LDL có quan hệ thuận với nguy cơ mắc bệnh mạch vành về sau, còn HDL thúc đẩy quá trình đào thải cholesterol, tăng tốc độ chuyển hóa lipoprotein tỷ trọng rất thấp (VLDL), ngăn lipid lắng đọng ở thành mạch, qua đó có lợi cho phòng ngừa bệnh mạch vành.
Tuy nhiên, tháng 10 năm 1980, nhóm chuyên gia của WHO mặc dù ghi nhận lợi ích của việc uống rượu ở mức nhẹ đến vừa phải trong việc giảm tỉ lệ mắc mạch vành, nhưng vẫn không khuyến khích sử dụng cách này để phòng bệnh mạch vành, bởi lẽ rượu tự nó có thể làm tăng nguy cơ cao huyết áp, xơ gan, ung thư dạ dày, tổn thương cơ tim, tai nạn… dẫn đến tăng tỉ lệ tử vong chung, đồng thời gây ra nhiều vấn đề về kinh tế, tinh thần, xã hội. Với những người đã có thói quen uống rượu, lượng rượu mỗi ngày không nên vượt quá 2~4 đơn vị (mỗi đơn vị ~ 15 ml cồn nguyên chất, tương đương 300 ml bia, 100 ml rượu vang hoặc 25 ml rượu mạnh).
Nguyên tắc ăn uống cho bệnh nhân nhồi máu cơ tim
Nhồi máu cơ tim là biến chứng chủ yếu của bệnh mạch vành. Chế độ ăn uống hợp lý có ý nghĩa quan trọng trong điều trị nhồi máu cơ tim. Đối với bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp, phải nghiêm ngặt nằm nghỉ tại giường, việc ăn uống cũng không nên quá thừa dinh dưỡng. Cần lưu ý:
Thực phẩm nào có lợi cho quá trình hồi phục của bệnh nhân mạch vành?
Tại sao đậu nành có thể giảm cholesterol huyết tương? Nghiên cứu cho thấy đậu nành chứa phytosterol (như beta-sitosterol, stigmasterol…), cơ thể người không hấp thu phytosterol mà trái lại, nó còn ức chế quá trình hấp thụ cholesterol, giống như một chất ức chế cạnh tranh, ngăn việc thủy phân cholesterol trong lòng ruột, nhờ vậy làm hạ nồng độ cholesterol. Một số ý kiến ủng hộ dùng phytosterol để giảm cholesterol huyết tương.
Thực phẩm đậu nành là món ăn quen thuộc, giá rẻ, giàu protein, lại có tác dụng hạ cholesterol máu. Vì thế, người đã được kiểm tra và phát hiện mỡ máu cao nên thường xuyên ăn đậu phụ, giá đỗ, các món đậu… để giảm cholesterol, coi đó như một phương pháp điều trị. Người có mỡ máu bình thường cũng có thể ăn đậu thường xuyên để phòng ngừa tăng lipid máu, từ đó phòng ngừa xơ vữa động mạch và bệnh mạch vành.
So sánh tỏi sống và tỏi nấu chín cho thấy, ăn tỏi sống phòng bệnh mạch vành tốt hơn ăn cùng một lượng tỏi chín. Nguyên nhân có thể do tinh dầu chứa hoạt chất phòng bệnh, nhưng bị nhiệt phá hủy khi nấu.
Vậy ăn bao nhiêu tỏi, hành tây mới có tác dụng phòng bệnh mạch vành? Một số nghiên cứu cho thấy, mỗi ngày dùng 1 g tỏi sống/kg cân nặng hoặc 2 g hành tây sống/kg cân nặng có thể đạt tác dụng kể trên, tức một người nặng 70 kg cần 70 g tỏi sống hoặc 140 g hành sống mỗi ngày.
Người bệnh mạch vành có được ăn trứng gà không?
Trứng gà là thực phẩm giàu dinh dưỡng. Mỗi quả trứng cung cấp khoảng 56 g chất béo, 30 mg canxi, 1,5 mg sắt, 720 đơn vị quốc tế vitamin A cùng một số vitamin nhóm B. Bởi vậy, trứng gà luôn được xem là món ăn bổ dưỡng. Tuy nhiên, lòng đỏ trứng chứa nhiều cholesterol – khoảng 300 mg/quả, tương đương nhu cầu cholesterol của người trưởng thành trong một ngày. Vì thế, nhiều người lo ngại rằng bệnh nhân mạch vành ăn trứng sẽ làm bệnh nặng hơn.
Trên thực tế, nỗi lo này không cần thiết, vì ngoài cholesterol, lòng đỏ trứng còn chứa lecithin (phosphatidylcholine) rất phong phú. Lecithin có khả năng este hóa cholesterol, khiến cholesterol trở nên ổn định, ít bám vào thành mạch. Tại Mỹ, các nhà dinh dưỡng từng cho bệnh nhân xơ vữa động mạch uống lecithin, sau 3 tháng, cholesterol giảm từ 1.000 mg xuống 186 mg. Một nghiên cứu khác trên 116 nam giới 32~62 tuổi có nồng độ mỡ máu bình thường, cho họ ăn 2 quả trứng mỗi ngày, duy trì nửa năm, kết quả mỡ máu vẫn ở mức bình thường. Nghiên cứu tại Anh cũng chứng tỏ, mỗi ngày ăn 1 quả trứng không ảnh hưởng đáng kể đến cholesterol máu. Hơn nữa, trứng còn chứa methionin và canxi, có tác dụng phòng chống xơ vữa động mạch và cao huyết áp.
Nói chung, bệnh nhân mạch vành có thể ăn trứng gà, nhưng không nên ăn quá nhiều, khoảng 1 quả/ngày là phù hợp. Những người tăng cholesterol máu (nhất là tăng nặng) do rối loạn chuyển hóa, khả năng dung nạp cholesterol kém, nên hạn chế hoặc không ăn lòng đỏ. Có thể chỉ ăn lòng trắng, bỏ lòng đỏ.
Người bệnh mạch vành có thể uống sữa bò không?
Sữa bò là thực phẩm bổ dưỡng, giàu protein chất lượng cao, canxi, sắt, vitamin B… Nhiều ý kiến cho rằng sữa bò có tác dụng phòng cao huyết áp và bệnh mạch vành.
Tại sao sữa bò có thể phòng cao huyết áp và bệnh mạch vành?
Người bệnh mạch vành uống trà nên chú ý điều gì?
Trà có tác dụng hạ nồng độ cholesterol, giảm mức độ xơ vữa, tăng tính đàn hồi thành mạch, nên được xem là thức uống tốt cho phòng và điều trị bệnh mạch vành. Tuy nhiên, vì hệ tim mạch của bệnh nhân mạch vành đã bị tổn thương, khi uống trà cần chú ý:
Bệnh nhân mạch vành có cần kiêng tỏi, hành tây không?
Tỏi và hành tây vốn là gia vị quen thuộc, được biết đến với tác dụng phòng lỵ và tiêu chảy vào mùa hè. Nhiều nghiên cứu lâm sàng cho thấy tỏi và hoạt chất của nó có khả năng ngăn ngừa tăng mỡ máu, làm giảm rõ rệt cholesterol huyết thanh, kéo dài thời gian đông máu toàn bộ. Đồng thời tỏi và hành tây còn giúp ngăn ngừa giảm α-lipoprotein và tăng khả năng tiêu sợi huyết. Một số thí nghiệm khẳng định ăn tỏi sống hiệu quả hơn tỏi chín, do hoạt chất (có thể là tinh dầu) bị nhiệt phá hủy dễ dàng.
Mức ăn tỏi, hành tây cụ thể ra sao để phòng bệnh mạch vành? Theo nghiên cứu, mỗi ngày ăn 1 g tỏi sống/kg thể trọng hoặc 2 g hành tây sống/kg thể trọng là đủ để có tác dụng phòng ngừa xơ vữa động mạch. Nghĩa là, với người nặng 70 kg, mỗi ngày nên ăn ít nhất 70 g tỏi sống hoặc 140 g hành tây sống.
Trường Xuân dịch