Thương hàn luận Từ điều 318 đến điều 325 (C332-C339)
318 少阴病,四逆,其人或咳,或悸,或小便不利,或腹中痛, 或泄利下重者,四逆散主之。 C332
318 Thiếu âm bệnh, tứ nghịch, kỳ nhân hoặc khái, hoặc quý, hoặc tiểu tiện bất lợi, hoặc phúc trung thống, hoặc tiết lợi hạ trọng, Tứ nghịch tán chủ chi. C332
Phương Tứ nghịch tán
Chỉ Cam Sài Thược các thập phân Nhiệt quyết năng hồi sát sở nhân
Bạch ẩm hoà phục phương thốn chuỷ Âm dương thuận tiếp dụng tư thần
Phép gia giảm
Khái gia Ngũ vị dữ Can khương Ngũ phân bình hành vi chính lộ
Hạ lợi chi bệnh dã như thử Tân ôn toan thu lưỡng tương cố
Quý giả Quế chi ngũ phân gia Bổ dưỡng tâm hư vi độc bộ
Tiểu tiện bất lợi gia Phục linh Ngũ phân thủ phương vi pháp độ
Phúc trung thống giả lý khí hàn Pháo Phụ nhất mai gia vật ngộ
Tiết lợi hạ trọng dương uất cầu Giới bạch tam thăng dụng thuỷ chử
Thuỷ dụng ngũ thăng thủ tam thăng Khứ Giới nạp tán thốn chuỷ số
Tái chử nhất thăng hữu bán thành Phân ôn lưỡng phục pháp khả ngộ
Cam thảo nướng, Chỉ thực đập vớ, ngâm nước sao khô Sài hồ Thược dược Bốn vị trên mỗi vị 10 phân, nghiền nát sàng lấy bột hoà nước cơm, uống bằng thìa, ngày uống 3 lần.
Nếu ho, gia Ngũ vị tử, Can khương đều 5 phân, đồng thời chủ về hạ lợi. Hồi hộp gia Quế chi 5 phân. Tiểu tiện bất lợi gia Phục linh 5 phân. Đau bụng gia Phụ tử 1 củ, nướng cho nứt vỡ ra. Tiết lợi hạ trọng, trước tiên dùng 5 thăng nước, nấu Giới bạch với 3 thăng nước, nấu còn 3 thăng, bỏ bã, lấy thìa thuốc tán, cho vào nước thuốc, nấu còn 1,5 thăng, phân hai lần uống ấm.
Bài viết này thảo luận về điều trị hội chứng Tứ nghịch tán của chứng quyết do dương uất gây ra.
Thiếu âm bệnh tứ nghịch dùng âm dương để phân biệt, không ngoài hàn quyết và nhiệt quyết, hàn quyết thường thuộc hư chứng, nhiệt quyết thường thuộc thực chứng. Phần trước (hàn quyết) do âm thịnh dương hư, như hội chứng Tứ nghịch thang, hội chứng Thông mạch tứ nghịch thang, hội chứng Bạch thông thang; Phần sau (nhiệt quyết) do dương khí quá mạnh, dương khí cản trở lấn át, thường kèm theo hội chứng dương nhiệt, như khát nước, tâm phiền, trướng đầy, đại tiện bất lợi, tiểu tiện vàng đỏ. Chứng hàn quyết thì dùng Tứ nghịch bối, dùng thang Tứ nghịch, Phụ tử tễ. Nhiệt quyết có phép thanh, có phép hạ, phép thanh nên dùng thang Bạch hổ, phép hạ nên dùng thang Thừa khí.
Thiếu âm là căn bản của dương khí, tứ chi là gốc của chư dương, thông với thiên khí, và là một bộ phận phản ảnh dương khí trực tiếp và nhạy cảm nhất. Dương khí của Thiếu âm cần phải ra được tứ chi, đây chính là đặc điểm sinh lý của nó, mà phản ảnh bệnh lý cũng ở tứ chi.
“Thiếu âm bệnh, tứ nghịch” (少阴病,四逆) của điều văn này, cũng chính là tứ chi quyết nghịch. Loại tứ chi quyết nghịch này không có các đặc điểm của hàn chứng như :Hạ lợi thanh cốc, mạch vi dục tuyệt (đi tả ra ngũ cốc chưa tiêu hoá, mạch nhỏ như không còn mạch), cũng không có các đặc điểm của nhiệt chứng như: Phiền khát (rất khát), đại tiện bí kết, đau bụng đầy bụng, đã không thể ôn hàn (cho hàn quyết), lại không thể hạ nhiệt (cho nhiệt quyết). Như vậy đây là loại quyết gì?
Dương khí của Thiếu âm, trong những tình huống dưới đây, sẽ dẫn đến không có khả năng ra đến tứ chi, nó không quá nhiệt, cũng không lạnh do dương hư, mà nó thuộc về những ủng trệ lấn át, ức chế của khí huyết dẫn đến dương khí không thể ra đến tứ chi để xuất hiện tứ chi quyết nghịch. Vì thế, gọi là hàn quyết thì không được, vì dương khí không hư tổn; Cũng không thể gọi là nhiệt quyết, vì không có hiện tượng nhiệt, tức là có một chút nhiệt tượng, chỉ bất quá là do dương khí uất át mà không thể ra đến tứ chi. Đối với loại tứ chi quyết nghịch này, không thể dùng thuốc ấm nóng (ôn dược) của thang Tứ nghịch, cũng không thể sử dụng thuốc mát (lương dược) hoặc thuốc tả hạ của thang Bạch hổ hoặc thang Thừa khí. Vậy phải làm như thế nào? Chỉ có thể sơ đạt dương khí, khiến cho dương khí ra được tứ chi, nên dùng “Tứ nghịch tán chủ chi”(Tứ nghịch tán chủ trị bệnh này).
Thành phần Tứ nghịch tán gồm: Sài hồ, Thược dược, Cam thảo, Chỉ thực, đều không phải là những vị thuốc nhập vào kinh Thiếu âm, nói chúng là thuốc nhập vào kinh can thì rất thích hợp. Tại sao lại có thể dùng một số vị thuốc sơ tiết điều chỉnh Can Vị lại có thể trị chứng tứ chi quyết nghịch do dương khí của Thiếu âm không đến được tứ chi?
Cũng có những tranh luận liên quan đến phương thuốc này, hiện nay một số chương trình giảng dạy xếp Tứ nghịch tán vào thiên Quyết âm, vì trong thiên Quyết âm cũng có tứ chi quyết nghịch, mà Tứ nghịch tán lại có tác dụng sơ (tiết) Can, Quyết âm chủ về Can. Mà việc để Tứ nghịch tán tại Thiếu âm cũng có thể hiểu được, cổ nhân cho rằng can và thận cùng một thể, Ất và Quý cùng một nguồn, Can và Thận một tạng thì tàng tinh (chứa tinh), một tạng thì tàng huyết (chứa huyết), đều thuộc về tướng hoả, vì thế sơ thông can khí của Quyết âm, cũng có nhiều khả năng sơ thông dương khí của Thiếu âm, cả hai có liên hệ bên trong với nhau.
Làm thế nào để cấu thành hội chứng Tứ nghịch tán? Căn cứ theo quan sát lâm sàng, có những phương diện sau. Nhân tố thứ nhất là uống thuốc mát lạnh (hàn lương dược), như bỗng chốc đem hàn lãnh cấp cho dương khí, dương khí của Thiếu âm chịu sự chèn ép, nó và hàn dược gây tổn thương dương khí là khác biệt. Trong bệnh ngoại cảm nhiệt rất dễ xuất hiện vấn đề như vậy. Khi phát sốt, uống thuốc thanh giải, dùng một số thuốc hàn lương, sau khi uống bỗng chốc tay chân quyết nghịch. Nhân tố thứ hai thường gặp ở tạp bệnh, thường do tức giận gây ra. Điều này cũng có quan hệ với Can. Hiện tại có phương tễ gọi là Sài hồ sơ can ẩm, với Tứ nghịch tán được dùng làm cơ sở. Sau khi tinh thần chịu sự kích thích, tay chân phát bối, người Bắc kinh gọi là Thủ cước bối, cái gì gọi là bối, bối là nghịch, là thủ cước quyết lãnh. Làm thế nào để trị? Lúc này bệnh có đặc điểm là khí không đến được tứ chi, tâm và lồng ngực co thắt nghẹt tắc. Khí nghẹt tắc ở ngực, tâm và ngực khó chịu, người bệnh có một chút khó khăn khi phát âm, môi run rẩy. Có một lần , người viết thấy một bệnh nhân như vậy, một lão thái thái, người làm con gái bà ấy giận dữ bỗng nhiên quay về, bà ta không nói nên lời, tay chân lạnh ngắt, mắt trợn tròn và môi run run. Tứ nghịch tán chữa trị những bệnh này rất hữu hiệu. Trên lâm sàng căn cứ theo cơ chế này, phàm là khi dương khí bị cản trở uất lại mà dẫn đến tứ chi quyết nghịch thì đều có thể dùng Tứ nghịch tán.
Người viết kể về một trường hợp bệnh có ấn tượng khá sâu sắc. Ở quận Tiềm Giang Hồ Bắc, có một bệnh nhân nữ họ Toàn , bị chứng thủ túc quyết nghịch. Lúc mới bệnh uống rất nhiều các loại thuốc có vị thuốc Phụ tử, đều không hiệu quả. Sau đó khi người viết khám cho bệnh nhân thấy thân thể, tuổi tác, ánh mắt, đều không có dấu hiệu của hư chứng, liền cho bệnh nhân uống nguyên phương Tứ nghịch tán. Người bệnh sau khi uống tay chân trở lại ấm áp bình thường. Sau đó không củng cố lại tái phát bệnh. Cảm giác lạnh lẽo của thủ túc quyết nghịch này, các bạn có được trải nghiệm như vậy, chân tay thực sự mát, tựa như đặt tay vào khối băng. Ngoài ra, khi thủ túc quyết nghịch, tay liền xuất hãn, tay xuất hãn càng nhiều thì thủ túc quyết lãnh càng nặng. Điểm này không có trong bài văn của Trương Trọng Cảnh. Lần khám thứ hai người viết dùng Tứ nghịch tán gia thêm hai vị Quế chi và Mẫu lệ, vị Quế chi phối với Thược dược để điều hoà doanh vệ, Mẫu lệ tiềm dương liễm mồ hôi, sau khi uống thu được hiệu quả tốt.
Không củng cố, lại tái phát. Vương Băng nói “Ích hoả chi nguyên dĩ tiêu âm ế, tráng thuỷ chi chủ dĩ trị dương quang” (益火之源以消阴翳,壮水之主以治阳光). Tay chân xuất mồ hôi là biểu hiện của âm bị tổn thương, tiết âm (âm tiết ra), vì thế nếu chỉ lý khí thông dương, không gia thêm một số thuốc bổ thuỷ (âm) để chế ngự dương quang (dương) thì chưa hoàn thiện. Sau đó, người viết bắt đầu cho bệnh nhân uống Lục vị địa hoàng thang và Tứ nghịch tán luân phiên thay đổi, và bệnh nhân này được khỏi bệnh. Điều này cho thấy Tứ nghịch tán chứng tuy không phải là nhiệt quyết, cũng không phải là hàn quyết, nhưng bệnh có khuynh hướng về phương diện nhiệt quyết. Vì không phải là dương khí hư mà là dương khí bế tắc, có câu “khí hữu dư tiện thị hoả” (气有余便是火) khí dư thừa chính là hoả, còn hoá nhiệt gây tổn thương âm, vì thế khi điều trị chứng tứ chi quyết nghịch, tại thời điểm cần thiết nên gia thêm vị thuốc dưỡng âm. Đây là điểm đầu tiên phải chú ý khi sử dụng Tứ nghịch tán.
Điểm thứ hai, là vấn đề của phản ứng sau khi uống Tứ nghịch tán. Có người uống thang thuốc thứ nhất có cảm giác rất khó chịu, đến thang thứ hai thì dần dần dễ chịu hơn, đó chính là phản ứng của Tứ nghịch tán. Người viết trên lâm sàng quan sát bệnh nhân họ Toàn sau khi uống Tứ nghịch tán, cảm thấy ở dưới rốn, đan điền và huyệt Khí hải chấn động nhẹ, anh ta nói chấn động này làm cho toàn thân có cảm giác rất thoải mái, cũng trong thời gian này, tay chân từ lạnh chuyển sang ấm áp. Người viết có cảm nhận nơi chấn động không chỉ là huyệt Khí hải mà còn cả huyệt Quan nguyên. Đan điền, Khí hải , Quan nguyên đều thuộc Thiếu âm. Dựa theo phản ứng này khi thẩm tra lại, chúng ta thấy rõ ý nghĩa nổi bật của lý do đặt Tứ nghịch tán ở thiên Thiếu âm bệnh của Trương Trọng Cảnh.
Căn cứ theo cơ chế này, với chứng liệt dương ở nam giới, chứng lãnh cảm của nữ do khí uất gây ra thì đều có thể dùng Tứ nghịch tán điều trị và thu được hiệu quả rất tốt.
319 少阴病,下利六七日,咳而呕渴,心烦,不得眠者,猪苓汤主之。 C333
319 Thiếu âm bệnh, hạ lợi lục thất nhật, khái nhi ẩu khát, tâm phiền. bất đắc miên giả, Trư linh thang chủ chi. C333
Điều văn này thảo luận về hội chứng và phương pháp điều trị chứng âm hư có nhiệt, thuỷ và nhiệt hỗ tương kết hợp của Thiếu âm
Khi học bài này nên so sánh với thang Chân võ. Tại sao? Vì Thiếu âm là nói về âm dương, dương hư sẽ có hàn, có thuỷ đình trệ chính là chứng chủ trị của thang Chân võ. Nếu như Thiếu âm bệnh âm hư có nhiệt xuất hiện tiểu tiện bất lợi, xuất hiện thuỷ chứng, đây chính là chứng chủ trị của thang Trư linh. Một là dương hư, một là âm hư, một là hàn, một là nhiệt, nhưng đều có vấn đề đình thuỷ. “Thiếu âm bệnh, hạ lợi lục thất nhật, khái nhi ẩu khát, tâm phiền bất đắc miên giả” (少阴病,下利六七日,咳而呕渴,心烦不得眠者) Vì Thiếu âm âm hư hữu nhiệt, đồng thời còn có thuỷ ẩm, chứng thuỷ ẩm này sẽ tuỳ theo phát bệnh ở thượng, trung, hạ của tam tiêu. Nhiệt ở thượng tiêu thì tâm phiền muộn mà ho, ở trung tiêu thì ẩu thổ, ở hạ tiêu thì hạ lợi.
Vì thế, bệnh tà thuỷ nhiệt này sẽ tuỳ theo biến động thượng, trung, hạ của tam tiêu mà không hạn chế. Chứng trạng chủ trị của thang Trư linh phải có là chứng tiểu tiện bất lợi, tại sao Trương Trọng Cảnh không nói đến tiểu tiện bất lợi? Vì trong bài C236: “Nhược mạch phù phát nhiệt, khát dục ẩm thuỷ, tiểu tiện bất lợi giả, Trư linh thang chủ chi.” Là đã nói về điều đó.
Ngoài ra, mạch của nó là huyền tế, chất lưỡi hồng và rêu lưỡi luôn ướt và trơn. Thang Trư linh “Trạch Giao Trư Phục Hoạt tương liên. Khái ẩu tâm phiền khát bất miên, chử hảo khứ tra Giao hậu nhập, dục âm lợi thuỷ pháp kiêm toàn.” (泽胶猪茯滑相连。咳呕心烦渴不眠,煮好去渣胶后入,育阴利水法兼全。) Thành phần thang Trư linh gồm 5 vị Trạch tả, A giao, Trư linh, Phục linh, Hoạt thạch, sắc 4 vị trước, sắc xong bỏ bã rồi cho vị A giao vào sau) Đây gọi là phép dục âm lợi thuỷ. Thang Chân võ là phép khứ hàn trấn thuỷ. Hai phương thang này đối lập nhau. Thiếu âm bệnh giảng về âm dương thuỷ hoả, nguyên lý của biện chứng ở âm dương thuỷ hoả. Nó có tâm thận bất giao, âm hư hoả vượng là những chứng chủ trị của thang Hoàng liên A giao, cũng có dương hư thuỷ đình, hàn tà nội thịnh là những chứng chủ trị của thang Trấn võ, cũng có âm hư hữu nhiệt, thuỷ khí đình lưu là những chứng chủ trị của thang Trư linh.
320 少阴病,得之二三日,口燥咽干者,急下之,宜大承气汤。C334
321 少阴病,自利清水,色纯青,心下必痛,口干燥者,急下之,宜大承气汤。 C335
322少阴病,六七日,腹胀不大便者,急下之,宜大承气汤。 C336
320 Thiếu âm bệnh, đắc chi nhị tam nhật, khẩu táo yết can giả, cấp hạ chi, nghi Đại thừa khí thang. C334
321 Thiếu âm bệnh, tự lợi thanh thuỷ, sắc thuần thanh, tâm hạ tất thống, khẩu can táo giả, cấp hạ chi, nghi Đại thừa khí thang. C335
322 Thiếu âm bệnh, lục thất nhật, phúc trướng bất đại tiện giả, cấp hạ chi, nghi Đại thừa khí thang. C336
Ba bài này giới thiệu ba hội chứng hạ khẩn cấp của Thiếu âm bệnh.
Ba hội chứng hạ khẩn cấp của Thiếu âm bệnh trên thực tế đều là Dương minh bệnh. Dương minh bệnh chỉ dùng phép tả hạ khẩn cấp của thang Đại thừa khí, vì sao lại đề cập đến Thiếu âm bệnh? Đây là một vấn đề gây tranh cãi.
Có nhà y học cho rằng ba hội chứng hạ khẩn cấp của Thiếu âm chính là bệnh của tạng lưu lại ở phủ, nghĩa là tà nhiệt ở Thiếu âm bệnh ảnh hưởng đến Dương minh, vì thế bệnh này gọi là Thiếu âm bệnh, nhưng vì nhiệt tà bế uất ở Dương minh, điều trị phải dùng thang Đại thừa khí, đây là một loại quan điểm.
Cá nhân người viết cho rằng, {Thương hàn luận} là một bộ sách, tuy được phân thành lục kinh, nhưng trước sau chúng đều nối liền quán thông với nhau, không nên cô lập để quan sát, cũng không nên cho rằng bệnh của kinh này chỉ là bệnh của kinh này thôi. Tại sao bệnh của kinh Thiếu dương lại có vấn đề của kinh Thái dương? Hội chứng Tứ nghịch tán còn có một số vấn đề của kinh Quyết âm? Vì chúng đều có liên hệ hỗ tương, có liên hệ nội tại, vì tạng phủ kinh lạc, biểu lý trong ngoài, âm dương của cơ thể đều có ảnh hưởng hỗ tương và hỗ tương liên hệ.
Ba chứng tả hạ khẩn cấp của thiên Dương minh, chúng ta gọi đó là phương pháp cấp hạ tồn âm, tồn âm là bảo tồn âm dịch của Thiếu âm, đó là nói theo góc độ bệnh tà táo nhiệt của kinh Dương minh.
Ba chứng tả hạ khẩn cấp của Thiếu âm bệnh, trên thực tế cũng có liên quan với kinh Dương minh, tại sao lại gọi là Thiếu âm? Đó chính là nói từ góc độ của chính khí. Thiếu âm bệnh thuộc về tạng, không thuộc về phủ, loại táo nhiệt này đã gây tổn thương cho âm của Thiếu âm, Trương Trọng Cảnh gọi đây là bệnh của Thiếu âm. Cấp hạ tồn âm của Dương minh bệnh, gìn giữ âm tinh của Thiếu âm, là nói từ góc độ của Dương minh; Hội chứng Thiếu âm tam cấp hạ chính là bảo tồn âm tân của thiếu âm, bảo tồn chính khí, tạng âm, chính là nói theo góc độ của Thiếu âm.
Vì thế, hội chứng tam cấp hạ của Dương minh và hội chứng tam cấp hạ của Thiếu âm nên kết hợp thông suốt với nhau, kết hợp hàm tiếp với nhau ( Hàm tiếp là liên kết đầu cuối hoặc kết hợp hai vật thể biệt lập).
Bài C334 “Thiếu âm bệnh, đắc chi nhị tam nhật” (少阴病,得之二三日), người này đã bị táo nhiệt, vì chứng táo nhiệt (khô nóng) nên xuất hiện “khẩu táo yết can” (口燥咽干者), ý tại ngôn ngoại (hàm ý), người này bụng trướng, bị táo bón. Bụng trướng, táo bón là Dương minh bệnh, lại xuất hiện khẩu táo yết can (miệng họng khô), đó là chứng thuộc về âm của Thiếu âm bị tổn thương. Mạch của kinh Thiếu âm đi vào họng, “Yết hầu can táo bất khả phát hãn”, mà nên nhanh chóng tả hạ, cần nhanh chóng hạ táo nhiệt của Dương minh, để bảo tồn âm dịch của Thiếu âm. “Cấp hạ chi, dữ Đại thừa khí thang”.
Bài C335 “Thiếu âm bệnh, tự lợi thanh thuỷ, sắc thuần thanh, tâm hạ tất thống, khẩu can táo giả, cấp hạ chi, nghi Đại thừa khí thang.” (少阴病,自利清水,色纯青,心下必痛,口干燥者,急下之,宜大承气汤。)Dương minh bệnh táo nhiệt bức bách tân dịch xuất ra bên ngoài có 3 hình thức. Một loại hình thức là xuất hãn (đổ mồ hôi), Dương minh bệnh liên quan đến phép tăng mồ hôi, dương minh bệnh chẳng phải là đều xuất hãn? Một là tay chân mồ hôi như chảy ra, mồ hôi xuất ra sẽ tổn thương tân dịch. Hai là xuất hãn ở nách, có Dương minh bệnh xuất hãn ở nách. Ba là xuất mồ hôi toàn thân. Xuất mồ hôi ở tay chân cũng được, ở nách cũng được, toàn thân cũng được, đây đều được gọi là do dương minh táo nhiệt bức bách tân dịch thấm ra ngoài. Loại hình thức thứ hai là Dương minh táo nhiệt (khô nóng), tiểu tiện nhiều lần.
Đại tiện phân càng khô, tiểu tiện càng nhiều, đây gọi là tân dịch thiên về thấm, còn gọi là thấm sang bên (bàng thấm). Loại hình thức thứ ba là Dương minh táo nhiệt, có phân khô, nhưng đại tiện lỏng, cuối cùng đi đại tiện ra nước. “Tự lợi thanh thuỷ, sắc thuần thanh” (自利清水,色纯青), đại tiện ra nước có màu xanh, đây gọi là tân dịch thấm xuống dưới, lại gọi là nhiệt kết ở bên cạnh. Tân dịch thấm ra ngoài, tân dịch thiên thấm, tân dịch thấm xuống dưới, đều tổn thương tân dịch, tổn thương âm của Thiếu âm. “Tâm hạ tất thống” (心下必痛), là đau dạ dày, đồng thời “Khẩu can táo giả” là trong miệng bị khô.
Điều văn C336 “Thiếu âm bệnh, lục thất nhật, phúc trướng bất đại tiện giả, cấp hạ chi, nghi Đại thừa khí thang.” (少阴病,六七日,腹胀不大便者,急下之,宜大承气汤。) Thiếu âm bệnh 6,7 ngày xuất hiện chứng trạng bụng trướng đầy của Dương minh, không đại tiện. Đây gọi là thổ táo, thổ táo sẽ chiếm đoạt âm thuỷ của hạ tiêu. Bụng trướng, không đại tiện là chứng dương minh vị thực, vì thế không nhanh chóng tả hạ thì không thể.
Ba hội chứng cần tả hạ khẩn cấp của Thiếu âm, kỳ thực hạ đều là Dương minh, hạ Dương minh để bảo tồn Thiếu âm, chỉ là góc độ đề cập khác nhau. Dương minh bệnh là đề cập theo hội chứng của phủ, hội chứng của phủ tới tạng, từ Dương minh đến Thiếu âm; Ba bài này là theo Thiếu âm đến Dương minh. Chúng đều liên quan đến nhau.
323少阴病,脉沉者,急温之,宜四逆汤。 C337
323 Thiếu âm bệnh, mạch trầm giả, cấp ôn chi, nghi Tứ nghịch thang, C337
Điều văn này thảo luận về nguyên tắc nhanh chóng sử dụng ôn pháp để điều trị Thiếu âm bệnh.
Thiếu âm bệnh vốn đã là hàn chứng, mạch trầm lại chính là mạch của chứng dương hư. Thời điểm này không nên chờ đợi và xem xét, chẳng phải là còn hạ lợi thanh cốc (hạ lợi ra ngũ cốc chưa tiêu hoá), chẳng phải là tứ chi quyết lãnh, không cần suy nghĩ gì nhiều, Thiếu âm xuất hiện chứng vong dương rất nguy hiểm, phải khẩn cấp dùng ôn pháp, nhanh chóng sử dụng thang Tứ nghịch. Tại sao vậy? Đây chính là trị trung hữu phòng (trong trị bệnh có phòng bệnh). Đề phòng vong dương, đề phòng trước khi xảy ra, cần có thái độ tích cực, dùng thang Tứ nghịch để nhanh chóng ôn dưỡng bệnh nhân. Bài viết này cũng chính là tổng kết của nội dung phía trước, phàm khi điều trị hàn chứng của Thiếu âm bệnh cần phải nhanh chóng dùng ôn dược.
324 少阴病,饮食入口则吐,心中温温欲吐,复不能吐,始得之,手足寒,脉弦迟者,此胸中实,不可下也,当吐之。若膈上有寒饮,干呕者,不可吐也,急温之,宜四逆汤。 C338
324 Thiếu âm bệnh, ẩm thực nhập khẩu tắc thổ, tâm trung ôn ôn dục thổ, phục bất năng thổ, thuỷ đắc chi, thủ túc hàn, mạch huyền trì giả, thử hung trung thực, bất khả hạ dã, đương thổ chi. Nhược cách thượng hữu hàn ẩm, can ẩu giả, bất khả thổ dã, cấp ôn chi, nghi tứ nghịch thang. C338
Điều văn này thảo luận về chứng trạng và trị liệu của chứng dương uất đàm thực và chứng dương hư hàn ẩm.
Điều văn này là biện chứng so sánh, một là hư chứng một là thực chứng. “Thiếu âm bệnh, ẩm thực nhập khẩu tắc thổ, tâm trung ôn ôn dục thổ, phục bất năng thổ, thuỷ đắc chi, thủ túc hàn, mạch huyền trì giả, thử hung trung thực, bất khả hạ dã” (少阴病,饮食入口则吐,心中温温欲吐,复不能吐,始得之,手足寒,脉弦迟者,此胸中实,不可下也) Bệnh ở kinh Thiếu âm, ẩm thực vào miệng là thổ, trong lòng nôn nao muốn thổ ra, lại không thổ được, khi mới bệnh, tay chân lạnh, mạch huyền trì, là thực chứng trong ngực, không thể công hạ, đây là thực chứng, là trong ngực có thực hàn, “Đương thổ chi” (当吐之)nên dùng phép thổ. “Nhược cách thượng hữu hàn ẩm, can ẩu giả, bất khả thổ dã, cấp ôn chi, nghi Tứ nghịch thang.” (若膈上有寒饮,干呕者,不可吐也,急温之,宜四逆汤) Nếu trên hoành cách có hàn ẩm, nôn khan, không thể thổ, nhanh chóng dùng thuốc ấm, nên uống thang Tứ nghịch. Đây là hư chứng, là dương hư hữu hàn ẩm, cần nhanh chóng sử dụng ôn pháp.
Ẩm thực vào miệng liền thổ ra, dạ dày không dung nạp. Sau khi thổ ra hết, “tâm trung ôn ôn” (心中温温), vừa ấm vừa nôn nao tức là cảm thấy khó chịu trong lòng, muốn nôn “phục bất năng thổ”, lại không thể nôn thì trong lòng nôn nao, khó chịu, bứt rứt. Đây là một hội chứng. Hội chứng thứ hai, bệnh vừa bắt đầu, “thuỷ đắc chi, thủ túc hàn”, tay chân mát lạnh, mạch huyền trì có lực. Đây chính là dương hư còn là hàn thịnh?
Trương Trọng Cảnh viết: “Thử hung trung thực, bất khả hạ dã” Đây là thực chứng trong lồng ngực, thực là tà khí thực, cũng có thể có đàm ẩm. Vì là mạch huyền mà mạch huyền chủ về chứng ẩm, có tính chất đề kháng kịch liệt đàm ẩm, vì thế ẩu thổ, đàm ẩm gây bế tắc dương khí ở đản trung (phần ngực giữa hai vú), vì thế chân tay quyết lãnh.
“Bất khả hạ dã” , bệnh ở thượng tiêu, nên dùng thổ pháp, không nên tả hạ, “đương thổ chi”, dùng Qua đế tán cho bệnh nhân thổ, để đàm ẩm ở trên hoành cách mô thổ ra ngoài là tốt nhất. Đây là thực chứng, loại tay chân lạnh này không thuộc dương hư, mà là dương khí bị bế tắc do đàm ẩm, không thể thông đạt đến tứ chi, vì thế nên thấy mạch huyền trì mà có lực.
“Nhược cách thượng hữu hàn ẩm”, “cách thượng”, một số nhà chú thích cho rằng chính là “cách hạ”.
Nếu quả là do dương khí hư ở ngực, không thể chưng hoá (hấp) mà hình thành hư tính đàm ẩm, “can ẩu dã”, xuất hiện nôn khan, cũng có khả năng tứ chi quyết lãnh, nhưng mạch thì đều là mạch trầm vi, “bất khả thổ dã” và phần trên đã viết về về điều này “tâm trung ôn ôn dục thổ, phục bất năng thổ, thuỷ đắc chi, thủ túc hàn” có phân biệt hư thực. Cái đó thuộc thực chứng, cái này thuộc hư chứng. Vì thế “bất khả thổ dã, cấp ôn chi”, nên dùng thang Tứ nghịch.
Điều văn này cho thấy, chứng dương hư trong ngực có các chứng như: Tay chân quyết lãnh, nôn khan, dương khí không thể chưng hoá mà xuất hiện hàn ẩm của dương hư, đây chính là hư chứng, khác với thực chứng trong lồng ngực. Thực chứng trong ngực là dương khí không bị hư tổn mà là bị bế uất, vì thế nên một bên thì dùng thổ pháp và một bên dùng ôn pháp.
325 少阴病,下利,脉微涩,呕而汗出,必数更衣;反少者,当温其上灸之。 C339
325 Thiếu âm bệnh, hạ lợi, mạch vi sáp, ẩu nhi hãn xuất, tất số canh y; Phản thiểu giả, đương ôn kỳ thượng cứu chi. C339
Bài này trình bày chứng tạng và trị liệu chứng Thiếu âm hư hàn hạ lợi và chứng dương hư khí hãm.
“Thiếu âm bệnh, hạ lợi, mạch kiến vi sáp” (少阴病,下利,脉微涩), mạch vi là biểu hiện của dương khí hư, mạch sáp là biểu hiện của tân dịch bị hư tổn. “Ẩu nhi hãn xuất”, thuộc về âm tà nghịch lên. Xuất mồ hôi là ý chỉ về dương hư.
“Tất số canh y” (必数更衣)thay quần áo là nói về đại tiện, chính là hạ lợi liên tục, số lần đại tiện rất nhiều, nhưng “phản thiểu giả” (ít lần đại tiện), đây là chứng hạ lợi do dương hư, dương khí không thể thăng lên, hàn tà thiên thịnh mà hạ lợi, thời gian tả hạ dài, nhưng không có vật để tả hạ, vì thế mà đại tiện lại ít. “Đương ôn kỳ thượng, cứu chi” (当温其上,灸之),”ôn kỳ thượng” là ôn thận và vị.
Căn cứ theo ý kiến của các nhà chú giải, nên dùng thang Phụ tử, thang Phụ tử có vị Phụ tử để bổ thận dương, lại có Nhân sâm để bổ khí của tỳ vị, bổ tỳ và thận song song. Ngoài ra, nên “Cứu chi” Vì dương khí bị hãm xuống, nên cứu huyệt Bách hội, khiến cho dương khí thăng lên, không để nó hạ xuống.
Như vậy hạ lợi có thể dừng lại. Vì thế đối với việc trị liệu của chứng này nên uống thang Phụ tử để song bổ tỳ thận, trên một phương diện khác cần phải cứu huyệt Bách hội hoặc cứu huyệt Quan nguyên để trừ khứ hàn tà.
Tiểu kết
Thiên Thiếu âm bệnh gồm 45 bài, phân thành hai bộ phận. 20 bài đầu tiên thuộc về bộ phận tổng luận của Thiếu âm bệnh, luận về hội chứng đề cương, về hàn thịnh vong dương của Thiếu âm bệnh, trị liệu và cấm kỵ của Thiếu âm bệnh, từ sinh chứng (chứng sống) của Thiếu âm bệnh dương phục đến tử chứng (chứng chết) của Thiếu âm bệnh vong dương.
25 bài sau thuộc về phần chuyên khảo về Thiếu âm bệnh, dưới mỗi bài đều có một số trị pháp, dùng thuốc hoặc châm cứu. Tóm lại, có thể phân thành hai loại, một loại là dương hư hàn chứng và một loại là âm hư nhiệt chứng.
{Thương hàn luận} bao gồm vấn đề ngoại cảm phong hàn, hàn tà gây tổn thương dương khí, vì thế tuy cũng có nhiệt chứng, nhưng trọng điểm ở hàn hoá chứng. Có khá nhiều phương pháp trị liệu dương hư hàn chứng, như thang Phụ tử, thang Bạch thông, thang Bạch thông gia Trư Đảm trấp, thang Chân võ, thang Tứ nghịch, thang Thông mạch Tứ nghịch, dùng một số phương thang như vậy để hiện rõ trọng điểm của Thiếu âm bệnh là dương hư, chúng ta cần nắm vững những trọng điểm này. Tóm lại, đây đều là những phương thang có vị Phụ tử, là tính chất chung của các thang tễ, cũng có cá tính. Không nên coi thường các thang tễ này, các thế hệ sau này có các phái như phái bổ hoả, phái ôn bổ, đều đã phát triển trên cơ sở này.
Hội chứng nhiệt hoá của Thiếu âm bệnh, đều chính là xuất hiện dưới tiền đề âm hư hữu nhiệt.
Có hai phương đại biểu, một là Hội chứng Hoàng liên A giao thang của âm hư hữu hoả; Hai là Hội chứngTrư linh thang của âm hư hữu thuỷ. Điều này hơi khác biệt so với những gì Vương Băng đã nói “Tráng thuỷ chi chủ dĩ chế dương quang”, nó là thực hoả, quân hoả. Quân hoả có thể phát tiết, tướng hoả thì không thể phát tiết, vì thế dùng Hoàng liên, Hoàng cầm để thanh nhiệt. Thuỷ của âm hư hữu thuỷ chính là thực tà, vì thế dùng Trư linh, Phục linh, Trạch tả để lợi tiểu tiện. Có hoả cũng được, có thuỷ cũng được, đều có một vấn đề là âm phận của Thiếu âm không đầy đủ, vì thế hai phương thang này đều có vị A giao. A giao là một vị thuốc nồng hậu, có vị ngọt, bổ tinh tư âm. “Âm bất túc giả bổ chi dĩ vị”, (阴不足者补之以味) âm không đủ thì bổ bằng vị, đây chính là {Thương hàn luận} trị liệu âm hư hữu hoả, âm hư hữu thuỷ, để hiển thị hai đại phương diện thuỷ hoả của Thiếu âm.
Ngoại trừ hàn hoá chứng và nhiệt hoá chứng, còn có 4 phương thang điều trị chứng đau cổ họng, bao gồm thang Cam thảo, thang Cát cánh, thang Trư phu và thang Khổ tửu. Bốn phương thang này trên thực tế là điểm kinh chứng của Thiếu âm bệnh và việc có bệnh tà trong kinh là không thể tách rời, có thể coi đây là hội chứng chỉ có ở Thiếu âm bệnh, chỉ có Thiếu âm bệnh mới có vấn đề của cổ họng.
Sau cùng là Thiếu âm bệnh có ba chứng tả hạ khẩn cấp. Ba hội chứng tả hạ khẩn cấp này nên kết hợp xuyên suốt với ba hội chứng tả hạ khẩn cấp của Dương minh bệnh, kết hợp để trải nghiệm. Ba hội chứng tả hạ khẩn cấp của Dương minh là xuất phát từ tà khí, xuất phát từ thực chứng thương âm; Ba hội chứng tả hạ khẩn cấp của của Thiếu âm bệnh là xuất phát từ chính khí, xuất phát từ tổn thương của âm. Vì thế, một trường hợp là từ phủ đến tạng, và một trường hợp là từ tạng đến phủ, chúng có liên hệ trước sau với nhau.
Các phương chứng liên quan của Thiếu âm bệnh không ngoài 4 phương diện này. Để tóm tắt 45 bài này, bệnh đến kinh Thiếu âm là đã nguy hiểm. Thiếu âm là căn bản của tiên thiên, là gốc của âm dương, vì thế, bệnh này có sống có chết, được dương khí thì sống, mất dương khí thì chết. Nó có vấn đề tiên lượng, không như bệnh ở kinh Thái âm.
Biện mạch chứng và trị liệu bệnh ở kinh Quyết âm
[Khái thuyết]
Bệnh ở kinh quyết âm thường là bệnh kế phát, ít khi trực trúng, đại đa số là do bệnh ở kinh Thiếu âm truyền vào, hoặc do dùng nhầm lương dược (thuốc mát) ngộ trị truyền vào. Người xưa nói “Lưỡng âm giao tận, danh viết Quyết âm” (两阴交尽,名曰厥阴). Lưỡng âm (Thái âm và Thiếu âm) giao nhau đến cực điểm, cuối cùng gọi là Quyết âm. “Quyết” là cực độ của âm. Xét theo sự phát triển của bệnh, âm thịnh của nó mạnh hơn Thiếu âm, vì thế gọi là Quyết âm.
Quyết âm không chỉ là một giai đoạn phát triển của bệnh, mà còn là sự khởi đầu của một sự thay đổi. Người xưa nói: “Âm chi cực dã, dương chi thuỷ dã.” (阴之极也,阳之始也。) Khi bệnh đã đến đỉnh điểm, sức mạnh tổng thể tà khí của âm hàn đã đến một cực hạn nhất định, và đến đây nó bắt đầu suy giảm.
Thịnh cực độ tất suy, đây chính là một quy luật biện chứng khách quan. Lúc này dương khí suy phát triển theo hướng khôi phục, chính là dương từ suy mà phục, dương khí bắt đầu phục, phục là khôi phục. Âm hàn thịnh đến cực độ thì bắt đầu biến suy, dương khí suy đến một mực độ thì bắt đầu khôi phục.
Quyết âm thuộc về tạng can, âm khí của Quyết âm đã cực thịnh, nhất định là có một khí dương nhỏ bé thai nghén trong đó. Quyết âm và Thiếu dương có quan hệ biểu lý, chính là tại cực điểm nhất của âm hàn đã phục tàng Thiếu dương. Thiếu dương chính là tiểu dương, là dương nhỏ bé non nớt. Dương khí trở lại, cũng chính là khí Thiếu dương trở lại. Xét theo bốn mùa trong năm, mùa đông hàn lãnh, đợi đến sau ngày đông chí, thấy đến Giáp Tý, nửa đêm Giáp Tý là khí Thiếu dương bắt đầu, dương bắt đầu sinh gọi là Thiếu dương, cũng chính là trước tiên theo khí Thiếu dương để khởi đầu. Đây chính là dựa trên lý luận để giải thích quan hệ âm dương biểu lý.
Đồng thời, bản thân Quyết âm có hoả. Cổ nhân gọi hoả của thận và can là hoả long lôi, can hoả gọi là lôi hoả, thận hoả gọi là long hoả. Chu Đan Khê gọi chúng là tướng hoả.
Vì tâm hoả gọi là quân hoả, vì thế hoả của tam tiêu, can, thận gọi là tướng hoả. Tướng hoả thuộc âm, quân hoả thuộc dương. Khi Quyết âm có hàn, tướng hoả bị uất lại bất thân (duỗi ra), đợi đến khí khí âm hàn của Thiếu âm suy thoái, tương hoả của nó uất lại cực độ phải phác tác mà xuất hiện nhiệt chứng.
Quyết âm bệnh là bệnh hàn lãnh đến cực điểm, lại chính là một điều kiện để biến hoá. Âm đến cực điểm thì sẽ sinh dương, và nó có liên hệ biểu lý với Thiếu dương. Tướng hoả của nó cũng cần phát tác, Quyết âm bệnh có một loạt tình huống phát bệnh như chuyển hoá âm dương, hàn nhiệt thác tạp (hỗn tạp), hoặc hàn hoặc nhiệt, tạo nên các đặc điểm phát bệnh của Quyết âm.
Khác với Thiếu âm bệnh, bản thân Thiếu âm bệnh có thuỷ hoả, có hoả của âm hư, có hàn của dương hư. Đến Quyết âm liền có chuyển hoá lưỡng cực, từ hàn có thể biến thành nhiệt, từ nhiệt còn có thể biến thành hàn. Dương khí khôi phục cũng không giống nhau, có mạnh có yếu, đây là tạo thành trạng thái bệnh của Quyết âm. Khi dương khí khôi phục thái quá sẽ biến thành nhiệt chứng, gọi là phục nhi thái quá. Cũng có khi âm hàn còn rất mạnh, dương khí quá suy yếu. Đương nhiên cũng có trường hợp âm dương bình hoà, bệnh không điều trị cũng tự khỏi. Âm hàn và dương khí chính là ảnh hưởng hỗ tương, đây tiêu đó trưởng, đây trướng đó tiêu, như bóng theo hình. Chính do đặc điểm như vậy, Quyết âm bệnh liền xuất hiện hội chứng hàn nhiệt hỗn tạp, có hàn có nhiệt, hàn chính là hàn thực sự (chân hàn), nhiệt chính là chân nhiệt.
Trong Quyết âm bệnh cũng có tử chứng, đó là âm thịnh dương vong. Quyết âm bệnh có thể đồng thời xuất hiện hàn và nhiệt, âm và dương, điều này được quyết định do bệnh cơ của nó.
. Vì nó đã có âm thịnh mà suy, cũng có dương hư mà trở lại, tập trung trên thân thể bệnh nhân mà xuất hiện chuyển hoá lưỡng cực, đã có hàn chứng, cũng có nhiệt chứng. Hàn nhiệt ở đây không giống như hàn nhiệt ở Thiếu âm bệnh âm thịnh cách dương, nó không có vấn đề cách dương hay đái (đội) dương. Dương cũng chính là dương, nhiệt chính là nhiệt, chân nhiệt, không sử dụng lương dược (thuốc mát) là không thể. Hàn chính là hàn, không dùng Phụ tử thì không hiệu quả.
Nói từ góc độ bản thân bệnh ở kinh Quyết âm, nó chính là hàn chứng, có một vài hội chứng âm hàn, như hạ lợi, tay chân quyết nghịch, cũng có một vài nhiệt chứng xuất hiện do dương khí khôi phục thái quá gây ra, còn có chứng hàn nhiệt hỗn tạp. Tiên lượng của Quyết âm bệnh và Thiếu âm bệnh giống nhau, cũng sợ âm thịnh vong dương, đồng dạng là tử chứng (chứng chết). Sinh lý của Quyết âm Can là sơ tiết, Can có bệnh, sơ tiết bất lợi, đối với lục phủ sẽ bất lợi, vì thế trong thiên Quyết âm, có rất nhiều bệnh của tràng vị (ruột, dạ dày) như ẩu, thổ, oẹ, hạ lợi.v…
Trị pháp của Quyết âm bệnh rất đơn giản, đơn thuần hàn chứng thì dùng loại thang Tứ nghịch; Đơn thuần nhiệt chứng thì dùng lương dược (thuốc mát); Hàn nhiệt hỗn hợp chứng thì dùng hàn nhiệt tương kiêm (kèm theo nhau) mà điều trị. Các nhà chú giải cổ đại có rất nhiều tranh luận đối với Quyết âm bệnh.
Trường Xuân