Kiểm Tuyến Viêm
睑腺炎 (Mạch Lạp Trũng), Trung Y học xưng “Thổ Cam”, “Thổ Dương”, tục danh “Thâu Trâm Nhãn”.
【Nguyên nhân bệnh】 Đa Do Phong Nhiệt Độc Tà ngoại xâm Bao Kiềm (Mi Mắt), hoặc Quá Thực Tân Lạt Chi Thực Vật, Nhiệt Tích Tỳ Vị, dẫn đến Khí Huyết Ngưng Trệ, Phong Tà Nhiệt Độc Uất Tích Bao Kiềm sở chí.
【Triệu Chứng】 Bờ mi xuất hiện cục cứng khu trú, lúc đầu hình như hạt lúa mạch, hơi ngứa hơi sưng, tiếp đó xuất hiện đỏ, sưng, đau. Trường hợp nhẹ, trong vài ngày có thể tự tiêu tán; trường hợp nặng, sau 3~5 ngày tại chân lông mi ở bờ mi hoặc mặt trong mi xuất hiện điểm mủ màu trắng vàng, tự vỡ mà khỏi. Nếu điểm mủ trong mi lâu không vỡ loét, lưu lại hạch sưng, thì xưng là “Bao Sinh Đàm Hạch”, cần xử lý theo chứng Đàm Hạch.
【Liệu Pháp】
Phối Huyệt Phương 1: Thái Dương (Bên Bệnh), Nhĩ Tiêm. Phương pháp điều trị: Dùng Nhu Áp phối Huyết Chích Pháp. Dùng bụng ngón cái nhu ấn huyệt Thái Dương bên bệnh 3~5 phút, sau đó dùng kim Tam Lăng chích Nhĩ Tiêm cho chảy ít máu. Mỗi ngày 1 lần. Chủ trị: Kiêm Tuyến Viêm. Phụ Ký: Thường 1~2 lần là khỏi.
Phối Huyệt Phương 2: Chỉ Đoan Áp Thống Điểm (Vị Trí Tại Bên Cạnh Góc Rãnh Móng Tay 1 Phân Ở Đầu Ngón Tay, Tức Tỉnh Huyệt). Cần kiểm tra cả hai tay, thường bên ngoài rãnh móng ngón út, ngón áp út phản ứng rõ hơn; có quy luật: Bệnh mắt trái thì tay phải phản ứng rõ, bệnh mắt phải thì tay trái phản ứng rõ. Phương pháp điều trị: Dùng Thác Áp An Ma Pháp. Luân phiên Thác Áp là được, nếu điểm đau ở tay phải thì dùng ngón cái và ngón trỏ tay trái kẹp – ấn. Khi Thác Áp các ngón, lực phải đều, tránh bấm rách da. Lặp lại Thác Áp tại chỗ đau nhất, tức “Thác Áp An Ma Điểm”. Mỗi ngày lặp lại phương pháp trên 2~3 lần, đến khi hết đỏ, sưng là dừng. Chủ trị: Các thể Kiêm Tuyến Viêm giai đoạn sớm, giữa hoặc chưa hóa mủ đều có thể áp dụng; với trường hợp đã hình thành mủ nhưng chưa vỡ hoặc đã vỡ mủ cũng có tác dụng hiệp trợ. Phụ Ký: Trường hợp nhẹ 1 lần đã hết đỏ sưng; nặng thì 2~3 ngày khỏi. Nói chung đều tránh được phải vỡ mủ; nếu phối hợp bôi thuốc mỡ tiêu viêm tại chỗ thì hiệu quả càng nhanh.
Phối Huyệt Phương 3: Hợp Cốc (Hai Bên), Hậu Khê (Hai Bên). Phương pháp điều trị: Dùng Chỉ Áp phối Cứu Pháp. Dùng hai ngón cái mạnh ấn (hoặc Thác Áp) hai bên huyệt Hợp Cốc 3~5 phút, sau đó dùng điếu ngải Điểm Cứu hoặc Huyền Cứu huyệt Hậu Khê (thường lấy bên bệnh, nặng thì lấy hai bên). Mỗi ngày 1 lần. Chủ trị: Kiêm Tuyến Viêm. Phụ Ký: Nhiều lần dùng đều hiệu quả tốt, thường 1~2 lần là khỏi.
Kết Mạc Viêm
Kết mạc viêm, thuộc phạm trù “Thiên Hành Xích Nhãn”, “Bạo Phát Hỏa Nhãn” của Trung Y. Bệnh này hay phát vào mùa hè – thu, trẻ em thường gặp, lại dễ lây lan nhanh, nên thường gây bộc phát lưu hành.
【Nguyên nhân bệnh】 Đa Do cảm thụ Dịch Khí của Thiên Hành Thời Lệnh sở chí, hoặc do nhiễm trùng mà khởi.
【Triệu Chứng】 Lòng trắng mắt (Bạch Tinh) đỏ, hoặc có xuất huyết điểm, xuất huyết mảng, ngứa rát, chảy nước mắt nóng như nước sôi, sợ nóng, sợ sáng, nhiều ghèn dính. Thường một mắt phát bệnh trước, hoặc cả hai mắt cùng phát; thể cấp tính có kèm sốt, chảy nước mũi, đau họng và các triệu chứng toàn thân khác.
【Liệu Pháp】
Phối Huyệt Phương 1: Ngư Yêu hoặc Tứ Bạch, Thái Dương. Phương pháp điều trị: Dùng Thác Áp Pháp. Dùng đầu ngón trỏ Thác Áp huyệt Ngư Yêu bên bệnh, hoặc dùng ngón giữa và ngón trỏ mỗi ngón Thác một huyệt (tức Tứ Bạch, Thái Dương huyệt) cũng được. Mỗi huyệt 1~1,5 phút. Mỗi ngày 2 lần. Chủ trị: Viêm Kết Mạc Mắt. Phụ Ký: Ứng dụng lâm sàng, đa số 1~2 lần là có hiệu quả.
Phối Huyệt Phương 2: Hợp Cốc, Toản Trúc, Tứ Bạch. Phương pháp điều trị: Dùng Thác Áp Pháp. Thường lấy huyệt bên bệnh, trường hợp nặng lấy hai bên, hoặc Hợp Cốc (Hai Bên) phối hợp Toản Trúc, Tứ Bạch bên bệnh. Mỗi huyệt dùng lực mạnh Thác Áp 1,5~3 phút. Cần thiết có thể gia kim Tam Lăng chích Nhĩ Tiêm cho ra ít máu. Mỗi ngày 1 lần. Chủ trị: Kết Mạc Viêm Cấp. Phụ Ký: Thường 1~3 lần là có hiệu quả hoặc khỏi hẳn.
Phối Huyệt Phương 3: Ngư Yêu, Thái Dương, Toản Trúc (Đều Lấy Bên Bệnh). Phương pháp điều trị: Dùng Thác Áp Pháp. Có thể dùng ba đầu ngón cái, trỏ, giữa mỗi ngón Thác một huyệt, lực từ nhẹ đến vừa, lấy xuất hiện cảm giác tê, căng tại chỗ làm độ.
Mỗi ngày 1~2 lần. Chủ trị: Kết Mạc Viêm Cấp. Phụ Ký: Thông thường 1~3 lần là khỏi, hiệu quả tốt.
Phối Huyệt Phương 4: Tứ Bạch, Thái Dương, Túc Khiếu Âm (Hai Bên). Phương pháp điều trị: Dùng Thác Áp Pháp. Trước hết Thác Áp huyệt Tứ Bạch và Thái Dương bên bệnh mỗi huyệt 1,5~3 phút, lấy đắc khí làm độ; sau đó Thác Áp hai bên huyệt Túc Khiếu Âm 1 phút, rồi dùng kim Tam Lăng chích cho ra ít máu. Chưa khỏi thì ngày hôm sau chữa lại 1 lần. Chủ trị: Kết Mạc Viêm Cấp. Phụ Ký: Dùng nhiều năm, chứng nghiệm rất nhiều, hiệu quả hài lòng.
Mi Co Giật (Mi Mắt Giật)
Mi co giật (Co Thắt Mi Mắt), Trung Y học gọi “Nhãn Kiềm Động”, tục xưng “Nhãn Khiêu”.
【Nguyên nhân bệnh】 Đa Do phản xạ thần kinh của mắt gây nên, hoặc do thể chất suy nhược, tình chí uất kết, lại thêm Phong Tà kích thích mà thành.
【Triệu Chứng】 Mi mắt nhảy giật không dứt.
【Liệu Pháp】
Phối Huyệt Phương 1: Nhãn Điểm Huyệt (Vị Trí Tại Chỗ Lõm Ngoài Của Cơ Nhị Đầu Cánh Tay Ở Đường Nếp Nách Ngang, Tức Vị Trí Lõm Phía Trên Huyệt Tý Não), Hợp Cốc. Phương pháp điều trị: Dùng Nhu Áp, Điểm Huyệt Pháp. Lấy ví dụ mắt phải giật; bệnh nhân ngồi, thầy thuốc đứng trước mặt hoặc đứng bên trái bệnh nhân, tay trái nắm cổ tay trái bệnh nhân, tay phải dùng ngón cái đặt lên Nhãn Điểm Huyệt, bốn ngón còn lại kẹp lấy mặt sau cánh tay tương ứng. Trước tiên dùng bụng ngón cái xoa nhẹ 2 phút, tiếp theo dùng ngón cái theo phương vuông góc với cánh tay bạt – gảy 3 phút, rồi dùng bụng ngón cái Điểm Áp 3 phút, cuối cùng nhẹ nhàng Nã Hợp Cốc mỗi bên 3~5 phút. Chủ trị: Chứng Mi Mắt Nhảy. Phụ Ký: Thường 1 lần là dừng; để củng cố hiệu quả, hôm sau có thể lặp lại 1 lần.
Phối Huyệt Phương 2: Thái Dương, Ngư Yêu, Tứ Bạch, Cự Liêu (Đều Lấy Bên Bệnh). Phương pháp điều trị: Dùng Khấu Kích Pháp. Dùng ngón tay (một hoặc hai ngón) gõ, mỗi huyệt 20~30 cái, đa số 1 lần là dừng. Chủ trị: Mi Mắt Nhảy Không Dứt. Phụ Ký: Dùng nhiều lần đều nghiệm, hiệu quả tốt.
Liệt Cơ Vận Nhãn Do Ngoại Thương
【Liệu Pháp】
Phối Huyệt Phương: Tinh Minh, Thừa Khấp, Tứ Bạch, Thái Dương, Bách Hội, Ngư Yêu, Toản Trúc, Đồng Tử Liêu, Ty Trúc Không, Phong Trì, Can Du, Đởm Du, Hợp Cốc, Quang Minh cùng các vùng quanh mắt. Phương pháp điều trị: Dùng Nhất Chỉ Thiền Thôi, Nhu Áp Pháp. Bệnh nhân nằm ngửa, thầy thuốc trước tiên dùng Nhất Chỉ Thiền Thôi Pháp đẩy các huyệt Tinh Minh, Thừa Khấp, Tứ Bạch, Thái Dương; sau đó dùng hai ngón cái lần lượt ấn – xoa các huyệt Bách Hội, Ngư Yêu, Toản Trúc, Tinh Minh, Đồng Tử Liêu, Ty Trúc Không, Phong Trì, Thái Dương; rồi dùng bụng hai ngón cái xoa bóp quanh bờ hốc mắt. Các thủ pháp trên xen kẽ lặp lại, điều trị khoảng 20 phút. Bệnh nhân ngồi thẳng, thầy thuốc ở phía sau dùng điểm – nhu Can Du, Đởm Du và Nã Hợp Cốc phía đối bên cùng huyệt Quang Minh ở chi dưới 5~10 phút. Mỗi lần thao tác khoảng 30 phút. Mỗi ngày 1 lần, 10 lần là 1 liệu trình. Chủ trị: Liệt Cơ Vận Nhãn Do Ngoại Thương. Phụ Ký: Bệnh này là một loại bệnh mắt tương đối thường gặp trên lâm sàng, thường bị tổn thương nhất là cơ trực ngoài và cơ chéo trên, gây đầu nghiêng, mắt lệch, tư thế bất thường và song thị. Hiện tại Trung – Tây y đều chưa có phương pháp đặc hiệu; dùng phép này điều trị 10 ca, đều khỏi hoàn toàn.
Lệ Nang Viêm
Lệ nang viêm, thuộc phạm trù “Tý Lậu” hoặc “Lậu Tinh” của Trung Y, là một loại bệnh mắt tương đối thường gặp ở nông thôn.
【Nguyên nhân bệnh】 Đa Do Can Kinh Phong Nhiệt, hoặc Tâm Hỏa vượng thịnh, bốc lên trên mắt; hoặc Can Thận bất túc, ống lệ bế tắc, lệ dịch mất sự điều tiết mà thành.
【Triệu Chứng】 Sợ sáng, thường xuyên chảy nước mắt. Bệnh này chia cấp tính và mạn tính. Lệ nang viêm cấp tính: Thường thấy phía dưới khóe trong mắt (dưới huyệt Tinh Minh) đỏ, sưng, cứng, đau, thường kèm đau đầu, miệng khô, đại tiện táo, phát sốt, sợ lạnh vân vân các chứng toàn thân; lệ nang viêm mạn tính: Chủ yếu là mủ trộn với nước mắt đục chảy ra nơi khóe trong (thường một mắt), mắt không đỏ không sưng, nhưng thường xuyên chảy nước mắt.
【Liệu Pháp】
Phối Huyệt Phương 1: Toản Trúc, Thừa Khấp, Tinh Minh. Phương pháp điều trị: Dùng Điểm Huyệt Pháp. Mỗi huyệt điểm – ấn 10~20 cái. Mỗi ngày 1 lần. Chủ trị: Lệ Nang Viêm. Phụ Ký: Dùng nhiều lần đều hiệu quả.
Phối Huyệt Phương 2 :Đầu Lâm Khấp, Toản Trúc, Đồng Tử Liêu, Thừa Khấp, Tinh Minh. Phương pháp điều trị: Dùng Điểm Huyệt Pháp. Mỗi huyệt điểm – ấn 10~20 cái. Mỗi ngày 1 lần. Chủ trị: Lệ Nang Viêm; kiêm trị chứng đau mắt.
Phối Huyệt Phương 3: Dương Bạch, Đồng Tử Liêu, Thừa Khấp; thể cấp tính phối thêm Đầu Duy, Đại Chuy. Phương pháp điều trị: Dùng Chỉ Áp, Điểm Huyệt Pháp. Mỗi huyệt điểm – ấn 10~20 cái, hoặc ấn giữ 1,5~3 phút. Mỗi ngày 1 lần. Chủ trị: Lệ Nang Viêm Cấp Và Mạn. Phụ Ký: Bệnh này nói chung trường hợp nhẹ chỉ dùng Điểm Huyệt là đã có hiệu quả, nhưng trường hợp nặng cần dĩ nội trị vi chủ, phối hợp Điểm Huyệt để nâng cao hiệu quả. Phụ Ký: Dùng đều hiệu quả.
Bạo Manh
Bạo manh là chỉ người vốn không có bệnh về mắt, bên ngoài không tổn thương bờ mi, bên trong không tổn thương đồng tử – thần (đồng tử – thần minh), mà đột ngột mắt mù không nhìn thấy, gọi là Bạo Manh.
【Nguyên nhân bệnh】 Đa Do tình chí khẩn trương, uất nộ thương Can mà thành.
【Triệu Chứng】 Song mục đột nhiên mất thị lực.
【Liệu Pháp】
Phối Huyệt Phương 1: Vùng Quanh Mắt, Hợp Cốc (Hai Bên) và Nhĩ Huyệt (Can, Nhãn). Phương pháp điều trị: Dùng Khấu Kích, Thác Áp Pháp. Bệnh nhân nằm ngửa, trước tiên dùng ngón tay đơn (hoặc hai ngón) khấu kích vùng quanh mắt 2~3 hàng mỗi hàng vài lượt; sau đó Thác Áp hai bên Hợp Cốc (dùng lực mạnh), rồi dùng hai ngón kẹp tai, Thác Áp Nhĩ Huyệt (cũng có thể điểm – ấn). Mỗi lần thao tác 10~15 phút, mỗi ngày 2 lần, tới khi bệnh giảm thì dừng. Chủ trị: Bạo Manh. Phụ Ký: Dùng nhiều lần đều hiệu quả.
Phối Huyệt Phương 2: Mục Song, Toản Trúc, Ngư Yêu, Đồng Tử Liêu, Phong Trì, Hợp Cốc. Phương pháp điều trị: Dùng Chỉ Áp, Thác Áp Pháp. Dùng bụng hai ngón cái mạnh ấn các huyệt vùng quanh mắt kể trên và huyệt Phong Trì hai bên, mỗi huyệt 3~5 phút, sau đó Thác Áp hai bên Hợp Cốc 5 phút. Mỗi ngày 1 lần, tới khi bệnh giảm thì dừng. Chủ trị: Bạo Manh. Phụ Ký: Dùng nhiều lần đều hiệu quả.
Cận thị
Cận thị là chỉ thị lực khi nhìn xa kém; là một bệnh mắt mạn tính thường gặp, nhất là ở lứa tuổi thanh thiếu niên.
【Nguyên nhân bệnh】 Phần nhiều do tiên thiên bẩm phú bất túc, can thận hư tổn, không thể nhu dưỡng, quán chú lên mắt, làm cho “quang hoa” (sự sáng suốt của mắt) không thể phát huy mà thành. Ở thanh thiếu niên thường do thói quen đọc sách không tốt, chiếu sáng kém hoặc ánh sáng không đủ, hoặc sau khi mắc bệnh vẫn đọc sách, dùng mắt quá độ, hoặc có liên quan đến di truyền.
【Triệu chứng】 Khi nhìn xa thấy vật mờ, nếu nhìn gần lâu cũng có thể xuất hiện cảm giác căng tức mắt, đau đầu, mỏi thị lực v.v.
【Liệu pháp】
Phối huyệt phương 1: Chia làm 3 nhóm huyệt.
Nhóm 1 – Huyệt quanh mắt: đường trên gồm Thượng Tinh minh → Tân Toản trúc → Ngư yêu → Ty trúc không → Đồng tử liêu → Tiểu Tinh minh → Thái dương; đường dưới gồm Hạ Tinh minh → Kiện minh → Thừa khấp → Cầu hậu → Tiểu Tinh minh → Thái dương.
Nhóm 2 – Nhĩ huyệt: Nhãn, Mục 1, Mục 2.
Nhóm 3 – Thể huyệt: Phong trì, Hợp cốc, Quang minh.
Phương pháp điều trị: Dùng điểm huyệt pháp.
– Huyệt quanh mắt: từ khóe mắt trong làm điểm khởi đầu, dọc theo đường từ khóe mắt đến huyệt Thái dương có ba vị trí, mỗi chỗ ấn – xoa 6 lần. Đối với các huyệt còn lại, theo chiều vận hành (tuân theo thứ tự huyệt theo mũi tên chỉ), phía trên và phía dưới mỗi huyệt đều điểm (hoặc xoa) 10 lượt.
– Nhĩ huyệt: tại các huyệt Nhãn, Mục 1, Mục 2, dùng ngón cái và ngón trỏ mỗi huyệt ấn 10 lần.
– Thể huyệt: huyệt Phong trì dùng ngón giữa (có ngón trỏ phụ lực) ấn – xoa 50 lần; huyệt Hợp cốc dùng ngón cái hai bên chéo nhau, mỗi bên ấn 20 lần; huyệt Quang minh thì đứng nghiêm cúi người, hai tay nắm thành quyền, mỗi bên đấm vào huyệt 20 cái.
Các huyệt nói trên, mỗi sáng và tối điểm ấn 1 lần. Nửa tháng tính là 1 liệu trình.
Chủ trị: Cận thị.
Phụ ký: Chúng tôi tiến hành điều trị bằng phương pháp điểm ấn huyệt cho 496 mắt của học sinh ở hai trường trung học, tỷ lệ có hiệu quả đạt 64,5%. Đặc biệt đối với người có thị lực đang trên đà giảm sút thì hiệu quả càng rõ.
Điều quý là điều trị từ sớm, đồng thời yêu cầu điểm ấn huyệt phải chính xác, kiên trì điều trị, chú ý vệ sinh dùng mắt, đồng thời chú ý tư thế và ánh sáng khi đọc sách, không được dùng mắt quá độ.
Phối huyệt phương 2: Tinh minh, Toản trúc, Thừa khấp, Quang minh, Phong trì, Thận du, Tam âm giao, Túc tam lý.
Phương pháp điều trị: Dùng pháp đẩy, xoa, điểm. Bệnh nhân ngồi, lần lượt đẩy, xoa, điểm các huyệt trên. Mỗi ngày 1 lần.
Chủ trị: Cận thị.
Phụ ký: Pháp này có công năng bổ tâm khí, dưỡng can thận, nên dùng thường có hiệu quả.
Phối huyệt phương 3: Xương ổ mắt trên – dưới, hai khóe mắt, cùng huyệt Thái dương, Quang minh.
Phương pháp điều trị: Dùng Nhu Áp pháp. Dùng bụng hai ngón cái xoa ấn các vùng và huyệt nói trên, lặp đi lặp lại, mỗi lần 15 phút, mỗi sáng và tối 1 lần.
Chủ trị: Cận thị.
Phụ ký: Kiên trì điều trị, ngày một thấy hiệu quả.
Phối huyệt phương 4: Tinh minh, Toản trúc, Ty trúc không, Tứ bạch, Dương bạch, Ế minh, Phong trì.
Phương pháp điều trị: Dùng Nhu, Áp pháp. Trước tiên dùng bụng ngón trỏ nhẹ xoa huyệt Tinh minh, Toản trúc, Ty trúc không mỗi huyệt 1~2 phút, đến khi tại chỗ có cảm giác hơi tức là được. Sau đó dùng bụng ngón trỏ ấn huyệt Tứ bạch, Dương bạch, Ế minh, cứ 10 giây lại buông lỏng vài giây, lực ở mức vừa, lặp lại ấn mỗi huyệt 1~2 phút, lấy cảm giác tê tức rõ tại chỗ làm độ. Rồi dùng bụng ngón cái và ngón trỏ đồng thời với lực vừa ấn huyệt Phong trì, cứ 20 giây lại buông lỏng vài giây, lặp lại 2~3 phút, đến khi tại chỗ có cảm giác tê tức rõ và truyền lan về vùng mắt thì dừng. Mỗi ngày điều trị 1 lần, 10 lần là 1 liệu trình.
Chủ trị: Cận thị giả (giả tính cận thị).
Phụ ký: Kiên trì điều trị, quả có hiệu quả khá tốt.
Phối huyệt phương 5:
Chủ huyệt: Thần đình, Bách hội, Toản trúc, Ty trúc không, Đồng tử liêu, Tinh minh, Tứ bạch, Ấn đường, Thái dương, Suất cốc, Phong trì.
Phối huyệt: Can du, Thận du, Quang minh, Khúc trì, Hợp cốc.
Phương pháp điều trị: Dùng các pháp đẩy, ấn, xoa, gõ, quét, véo, rung, bẻ, nắm.
Trước tiên dùng bờ quay hai ngón cái thay nhau đẩy từ Ấn đường đến Thần đình 50 lượt; lại dùng mặt xoắn ốc của ngón cái đẩy tách hai bên từ Toản trúc qua Ty trúc không đến Thái dương hai bên 30~50 lượt. Dùng mô ngón cái út (đại ngư tế) ấn – xoa huyệt Thái dương 30 lần, hướng xoay về phía sau. Ấn – xoa các huyệt Tinh minh, Toản trúc, Thần đình, Tứ bạch, Ty trúc không, Đồng tử liêu, Can du, Thận du, Quang minh mỗi huyệt 50 lần.
Sau đó dùng hai ngón trỏ hơi cong, lấy bờ quay ngón trỏ đẩy – miết từ trong ra ngoài dọc theo bờ ổ mắt trên và dưới, trên dưới mỗi bên 50 lượt. Dùng đầu ngón giữa gõ sau gáy (vùng chẩm) 2~3 phút. Lại dùng bờ quay ngón cái, lấy huyệt Suất cốc làm trung tâm, quét tản dọc hai bên Đởm kinh vùng đầu, mỗi bên 30~50 lượt. Dùng lực mạnh nắm – véo huyệt Phong trì 10~20 lần, lấy cảm giác tê tức mạnh tại chỗ làm độ. Lắc động cột sống cổ sang trái và phải, mỗi bên 10 vòng. Nhẹ nhàng bẻ cột sống cổ trái – phải mỗi bên 1 lần. Sau đó từ trước ra sau dùng năm ngón tay nắm tóc đỉnh đầu, đến vùng sau đầu đổi dùng ba ngón nắm, thuận thế từ trên xuống dưới nắm – véo cơ gáy 3~5 lượt. Lại dùng hai mô ngón cái út từ đường giữa trán miết sang hai bên, tại huyệt Thái dương ấn mạnh 3~5 cái, rồi đẩy về phía sau tai, thuận thế đẩy xuống đến vùng cổ. Làm 3~5 lượt. Nắm huyệt Kiên tỉnh 10~20 lần.
Mỗi ngày điều trị 1 lần, 10 lần là 1 liệu trình, ít nhất cần duy trì 3~4 liệu trình.
Chủ trị: Cận thị giả. Kiêm trị tật lác mắt.
Phụ ký: Kiên trì điều trị, hiệu quả khá tốt. Đồng thời phối hợp mỗi ngày làm 2~3 lần bài “xoa bóp bảo vệ mắt” (nhãn bảo kiện thao).
Viễn thị
Viễn thị là chỉ thị lực nhìn gần kém, là một loại bệnh mắt mạn tính, thường gặp ở trung niên và người cao tuổi.
【Nguyên nhân bệnh】 Phần nhiều do can thận bất túc, tinh huyết hao tổn, âm không thu liễm được dương, dương khí phù tán ra ngoài, hoặc do bệnh lâu ngày làm tổn thương thận mà thành.
【Triệu chứng】 Nhìn xa rõ, nhìn gần mờ; nặng thì nhìn gần hoặc nhìn xa đều mờ không rõ. Viễn thị lâu ngày cũng có thể xuất hiện căng tức mắt, hoa mắt, choáng đầu; nghỉ ngơi một lúc thì thường có thể giảm nhẹ.
【Liệu pháp】
Phối huyệt phương 1 Tinh minh, Đồng tử liêu, Toản trúc, Thừa quang, Bách hội, Thừa khấp, Tứ bạch, Đầu duy, Thái xung, Quang minh, Can du, Thận du, Túc tam lý, Tam âm giao, Chiếu hải.
Phương pháp điều trị: Dùng điểm ấn phối hợp cạo gió (quát sa) pháp. Trước tiên điểm ấn các huyệt vùng đầu – mặt: Tinh minh, Đồng tử liêu, Toản trúc, Thừa khấp, Tứ bạch, Bách hội, Thừa quang, Đầu duy; sau tiếp tục điểm ấn các huyệt chi dưới Thái xung, Quang minh, mỗi huyệt điểm ấn 2~3 phút. Tiếp đó dùng bổ pháp, kết hợp cạo gió dọc vùng lưng tại các huyệt Can du, Thận du và chi dưới tại các huyệt Túc tam lý, Tam âm giao, Chiếu hải, đến khi xuất hiện vệt “sa” (vệt đỏ) là được. Mỗi ngày hoặc cách ngày điều trị 1 lần, 10 lần là 1 liệu trình.
Chủ trị: Viễn thị.
Phụ ký: Đối với viễn thị đơn thuần, hiệu quả điều trị tương đối tốt. Nếu là viễn thị do các bệnh khác gây nên, cần phải phối hợp điều trị bệnh gốc thì mới đạt mục đích trừ bệnh.
Phối huyệt phương 2: Tinh minh, Thừa quang, Thiên trụ, Lạc khước, Dũng tuyền, Thủy tuyền, Chiếu hải, Phong trì, Quang minh, Thái xung, Hành gian.
Phương pháp điều trị: Dùng điểm – ấn – xoa pháp. Lần lượt điểm, ấn, xoa các huyệt trên, mỗi huyệt mỗi lần 2~3 phút. Mỗi ngày hoặc cách ngày 1 lần. Khi cần thiết, có thể gia thêm các huyệt Tam âm giao, Túc tam lý, Hợp cốc để tăng hiệu quả.
Chủ trị: Viễn thị.
Phụ ký: Kiên trì điều trị, phần nhiều đạt được hiệu quả tốt.
Phối huyệt phương 3: Tinh minh, Can du, Thận du, Tứ bạch, Túc tam lý, Quang minh, Phong trì, Thái xung, Thái khê, Bách hợp, Tâm du, Tỳ du, Khí hải, Huyết hải.
Phương pháp điều trị: Dùng điểm – ấn – xoa pháp. Đối với các huyệt nói trên, lần lượt dùng ấn, xoa, điểm mỗi huyệt 2~3 phút, mỗi ngày vài lần hoặc cách ngày 1 lần, 10 ngày là 1 liệu trình. Nghỉ ngơi vài ngày rồi tiến hành liệu trình tiếp theo.
Chủ trị: Lão thị (lão hoa mắt).
Phụ ký: Cứ như vậy lặp lại 4~5 liệu trình, có thể nghỉ vài tháng, sau đó lại điều trị 4~5 liệu trình, cho đến khi đạt hiệu quả như ý.
Thanh quang nhãn (Glaucoma)
Thanh quang nhãn, Trung Y gọi là “Duyên phong nội chướng”, là một loại bệnh mắt ngoan cố.
【Nguyên nhân bệnh】 Phần nhiều do tinh thần căng thẳng, chịu kích thích quá độ, hoặc tư lự quá nhiều, can đởm hỏa vượng bốc thượng, hoặc do ngoại cảm phong nhiệt, kích phát nội nhân v.v. dẫn tới khí huyết bất hòa, mạch lạc bị trở ngại, cuối cùng làm thủy dịch tiền phòng ứ trệ, nhãn áp tăng cao, đồng tử giãn, hoặc do lao thần quá độ, chân dương hao tổn, dẫn đến can thận âm hư, mắt mất sự nuôi dưỡng mà thành.
【Triệu chứng】 Lúc mới phát, mắt bệnh đau dữ dội, hoặc thị lực giảm đột ngột, đồng tử giãn, mi mắt phù nề, thị trường dần dần thu hẹp, thị lực障碍 ngày càng tăng, chỉ còn cảm nhận ánh sáng, đến giai đoạn muộn thì mù lòa.
【Liệu pháp】
Phối huyệt phương 1:
Chủ huyệt: Túc tam lý (bên phải), Phong trì (hai bên).
Phối huyệt: Ấn đường.
Phương pháp điều trị: Dùng Thác Áp pháp. Trước tiên dùng ngón cái Thác Áp huyệt Túc tam lý bên phải và hai bên huyệt Phong trì, đến khi triệu chứng giảm thì dừng. Đối với việc hạ nhãn áp có hiệu quả.
Chủ trị: Thanh quang nhãn cấp tính phát tác, nôn mửa không dứt, đau đầu và đau nhãn cầu dữ dội.
Phụ ký: Trương thị nói: “Có một bệnh nhân nữ 17 tuổi, từ ngoài tỉnh đến Bắc Kinh trị thanh quang nhãn. Nhà ở của cô ấy cách chỗ chúng tôi rất gần. Một đêm khuya nọ, cha cô đến tìm chúng tôi nói rằng con gái ông nôn mửa không ngừng, đau đầu và đau mắt dữ dội, ban đêm đi bệnh viện rất khó khăn. Nghe vậy, chúng tôi biết đó là triệu chứng phát tác cấp tính của thanh quang nhãn, nhãn áp nhất định rất cao, nếu kéo dài thì rất nguy hiểm. Tôi lập tức mang theo dụng cụ châm cứu tới, trước hết dùng ‘chỉ châm’ (dùng ngón tay thay kim) Thác Áp huyệt Túc tam lý bên phải và hai bên Phong trì, triệu chứng lập tức giảm, chứng tỏ nhãn áp đã hạ. Vì ngón tay không thể điểm ấn lâu, nên đợi cô ấy ngừng nôn mửa, không đau nhãn cầu nữa, tôi lại dùng hào châm châm vào Túc tam lý và Phong trì; qua hai tiếng đồng hồ, mọi triệu chứng đều yên. Rút kim xong, tại huyệt Ấn đường lưu kim an toàn. Đợi cô ngủ yên rồi tôi mới rời đi. Ngày hôm sau, bệnh nhân thanh quang nhãn này đã bình an vô sự.”
Phối huyệt phương 2: Đồng tử liêu, Toản trúc, Tinh minh, Cầu hậu, Phong trì, Hợp cốc, Quang minh.
Phương pháp điều trị: Thể mạn tính dùng Nhu Áp, Điểm Áp pháp; thể cấp tính dùng Thác Áp pháp. Dùng xoa, điểm, Thác Áp các huyệt nói trên, mỗi huyệt 3~5 phút, lặp lại nhiều lần. Mỗi sáng và tối 1 lần.
Chủ trị: Thanh quang nhãn.
Phụ ký: Kiên trì điều trị, đều có hiệu quả nhất định. Tuy nhiên, điều trị bệnh này nên lấy nội trị làm chính, phối hợp điểm huyệt có thể nâng cao hiệu quả.
Phối huyệt phương 3:
Chủ huyệt: Tinh minh, Tứ bạch, Phong trì, Hợp cốc.
Phối huyệt: Thừa khấp, Cầu hậu, Thái dương, Can du, Quang minh, Kiên tỉnh.
Phương pháp điều trị: Dùng các pháp đẩy, điểm, ấn, xoa, véo, quét, miết.
Trước tiên dùng mặt xoắn ốc của hai ngón cái, từ trán đẩy tách ra đến hai bên Thái dương 30~50 lượt. Lại dùng đầu ngón cái điểm ấn huyệt Tinh minh 30~50 lần. Dùng mô ngón cái út ấn – xoa huyệt Thái dương 30 lần. Tiếp theo dùng hai ngón trỏ hơi cong, lấy bờ quay ngón trỏ đẩy – miết bờ ổ mắt trên và dưới từ trong ra ngoài, trên dưới mỗi bên 50 lượt. Dùng lực nắm – véo huyệt Hợp cốc hoặc Kiên tỉnh mỗi huyệt 30~50 lần. Ấn – xoa các huyệt Can du, Quang minh mỗi huyệt 30~50 lần. Lại dùng bờ quay ngón cái quét tản dọc hai bên Đởm kinh vùng đầu mỗi bên 30~50 lượt. Dùng lực nắm – véo huyệt Phong trì 10~20 lần, lấy cảm giác tê tức mạnh tại chỗ làm độ.
Sau đó từ trước ra sau dùng năm ngón tay nắm tóc đỉnh đầu, đến vùng sau đầu đổi dùng ba ngón nắm, thuận thế từ trên xuống dưới nắm – véo cơ gáy 3~5 lượt. Lại dùng hai mô ngón cái út từ đường giữa trán miết sang hai bên, tại huyệt Thái dương ấn mạnh 3~5 cái, rồi đẩy đến sau tai, thuận thế đẩy xuống đến vùng cổ, làm 3~5 lượt. Mỗi ngày điều trị 1 lần, 10 lần là 1 liệu trình.
Chủ trị: Thanh quang nhãn mạn tính đơn thuần.
Phụ ký: Kiên trì điều trị, sẽ có hiệu quả nhất định. Pháp này dùng làm liệu pháp hỗ trợ trong điều trị thanh quang nhãn là có lợi.
Trường Xuân Nguyễn Nghị dịch