Nghiên cứu lý luận biện chứng lục kinh (六经辨证理论) của Thương hàn luận thật phong phú, đẹp mắt khó kể xiết. Trong đó, phép lấy lý luận lục kinh–lục khí bản-tiêu-trung kiến (六经六气标本中见理论) để chỉ đạo chẩn-trị lục kinh (六经证治) gọi là học thuyết khí hóa (气化学说).
Học phái (学派) này có các đại biểu là Trương Ẩn Am (张隐庵) và Trần Tu Viên (陈修园), được các nhà Thương hàn học đời Thanh rất tôn trọng.
Đến nay, học thuyết khí hóa sa vào hoàn cảnh bị phủ nhận, thậm chí có nhà Thương hàn học còn gọi nó là hình nhi thượng học (形而上学) (siêu hình) để phê phán
Mọi người đều biết học thuyết khí hóa vốn là tầng lý luận cao nhất (最高理论) của Thương hàn học, sử dụng quan niệm thiên-nhân tương ứng (天人相应) để nối liền kinh-khí cơ thể người (人体经气), bao hàm tư duy biện chứng (辨证法) trong hệ thống lý luận.
Có người nói: Trương Trọng Cảnh (张仲景) chỉ giảng lục kinh âm-dương (六经阴阳) chứ không giảng lục khí âm-dương (六气阴阳); tôi cho rằng lời ấy không đúng. Trọng Cảnh chứng thực đã giảng về lục khí âm-dương, và văn bản còn đó để làm bằng chứng.
Trong Nguyên tự (《原序》) viết: “Phù thiên bố ngũ hành (夫天布五行), dĩ vận vạn loại (以运万类); nhân bẩm ngũ thường (人禀五常), dĩ hữu ngũ tạng (以有五脏); kinh lạc phủ du (经络腑俞); âm-dương hội thông (阴阳会通); huyền minh u vi (玄冥幽微); biến hóa nan cực (变化难极)…”
Ý câu này: Trọng Cảnh cho rằng tự nhiên (自然界) phân bố ngũ hành: Mộc hoả thổ kim thuỷ (木火土金水) để hóa sinh sáu khí : Phong hàn thử thấp táo hoả (风寒暑湿燥火), nhờ vậy muôn vật mới sinh sôi. Con người thụ hưởng ngũ vận lục khí (五运六气) nên có ngũ tạng (五脏), kinh lạc (经络) và phủ du (腑俞); âm-dương giao hội (阴阳会通) kỳ diệu khó cùng, biến hóa khôn lường.
Như thế chính là chứng cớ rành rành Trọng Cảnh đề cao khí hóa học thuyết; không ai có thể phủ nhận điều này.
Học thuyết khí hóa học (气化学说) – xuất xứ từ vận khí học luận (运气学论) trong Nội kinh (《内经》); bảy đại luận coi “Âm dương đại luận (阴阳大论)” làm mũi nhọn, Trương Trọng Cảnh (张仲景) đã trích dụng nội dung này, và vẫn còn vết tích trong phần Thương hàn lệ (伤寒例). Từ đó, các nhà Thương hàn khai quật – chuyển dụng để lý giải lý luận “lục kinh-lục khí bản-tiêu-trung kiến” và phản ánh đặc điểm sinh-lý-bệnh-lý khi lục kinh lục khí phát bệnh, dùng để chỉ đạo lâm sàng.
“Lục vi chỉ đại luận (《素问·六微旨大论》)” nói: “Thiếu dương chi thượng, hỏa khí trị chi, trung kiến Quyết âm; Dương minh chi thượng, táo khí trị chi, trung kiến Thái âm; Thái dương chi thượng, hàn khí trị chi, trung kiến Thiếu âm; Quyết âm chi thượng, phong khí trị chi, trung kiến Thiếu dương; Thiếu âm chi thượng, nhiệt khí trị chi, trung kiến Thái dương; Thái âm chi thượng, thấp khí trị chi, trung kiến Dương minh. Đó gọi là Bản (本); dưới Bản là Trung kiến (中见); dưới Kiến là Tiêu khí (气之标).”
Trương Giới Tân (张介宾) chú giải: “Tam âm tam dương (三阴三阳) do lục khí hóa mà thành chủ. Phong hóa Quyết âm, nhiệt hóa Thiếu âm, thấp hóa Thái âm, hỏa hóa Thiếu dương, táo hóa Dương minh, hàn hóa Thái dương; vậy lục khí là Bản, tam âm tam dương là Tiêu. Khí hiển hiện giữa Bản-Tiêu tức là âm-dương biểu-lý tương hợp, hai bên thành Trung khí lẫn nhau.”
Biểu-lý tương lạc (表里相络) ở người cũng như thế:
Túc Thái dương (足太阳) & Thiếu âm (少阴) – nhất hợp; mạch bàng quang thông thận.
Túc Thiếu dương (足少阳) & Quyết âm (厥阴) – nhị hợp; mạch đởm thông can.
Túc Dương minh (足阳明) & Thái âm (太阴) – tam hợp; mạch vị thông tỳ.
Thủ Thái dương (手太阳) & Thiếu âm (少阴) – tứ hợp; mạch tiểu trường thông tâm.
Thủ Thiếu dương (手少阳) & Quyết âm (厥阴) – ngũ hợp; mạch tam tiêu thông tâm bào.
Thủ Dương minh (手阳明) & Thái âm (太阴) – lục hợp; mạch đại trường thông phế. → Nhất biểu nhất lý, dương trung hữu âm, âm trung hữu dương (trong dương có âm và trong âm có dương).
Nhờ kiến lập lý luận bản-tiêu “âm-dương lục khí” trong {Nội kinh}và nguyên tắc “vật sinh kỳ ứng, khí-mạch kỳ ứng” (thiên-nhân hợp nhất), mà học thuyết khí hóa của lục kinh trong Thương hàn học có được căn nguyên lý luận và phương pháp.
Từ đó mà luận, dùng khí hóa học thuyết (气化学说) nghiên cứu Thương hàn luận (《伤寒论》) là tầng thứ cao nhất, cần được nhìn nhận một cách khác biệt, không nên phê phán。
Tiếp theo, xin lần lượt trình bày dạng thức bản-tiêu-trung kiến của lục kinh lục khí (六经六气标本中见格式) như sau:
1/ Trung khí bản-tiêu lục kinh (六经标本中气)︰ khí lục kinh (六经之气) lấy phong, hàn, nhiệt, thấp, hỏa, táo (风寒热湿火燥) làm bản (本), lấy tam âm tam dương (三阴三阳) làm tiêu (标);thứ được thấy giữa bản-tiêu gọi là trung khí (中气);trung khí như thiếu dương (少阳) – quyết âm (厥阴) là biểu-lý (表里);dương minh (阳明) – thái âm (太阴) là biểu-lý;thái dương (太阳) – thiếu âm (少阴) là biểu-lý;biểu-lý thông suốt, thì đôi bên cùng làm trung khí。
2/Tiêu-bản tạng-phủ kinh lạc: Tạng-phủ (脏腑) là bản cư ở lý, thập nhị kinh (十二经) là tiêu cư ở biểu; trung khí (中气) nằm giữa khi các cặp biểu-lý tương lạc (lạc 络 = hai kinh biểu-lý đan chéo giữ nhau) – ví dụ: túc Thái dương bàng quang kinh (足太阳膀胱经) kinh lạc thận; túc Thiếu âm thận kinh (足少阴肾经) kinh lạc bàng quang.
3/{Nội kinh – Chí chân yếu đại luận} viết:“Thiếu dương (少阳)、Thái âm (太阴) tòng bản; Thiếu âm (少阴)、Thái dương (太阳) vừa tòng bản vừa tòng tiêu; Dương minh (阳明)、Quyết âm (厥阴) không tòng bản-tiêu mà tòng trung.”
Giải nghĩa:Thiếu dương – Thái âm tòng bản: Thiếu dương bản (gốc) hỏa, tiêu (ngọn) dương; Thái âm bản (gốc) thấp, tiêu (ngọn) âm – bản-tiêu đồng khí nên theo bản. Tuy Thiếu dương, cũng có trung khí mà không tòng trung vì:
Thiếu dương có trung khí Quyết âm mộc; mộc đồng khí với hỏa nên mộc tòng hỏa hoá, không xét trung.
Thái âm có trung khí Dương minh kim; kim sinh từ thổ, táo tòng thấp hoá, cũng không xét trung.
Thiếu âm – Thái dương tòng bản & tòng tiêu: Thiếu âm gốc nhiệt tiêu âm; Thái dương gốc hàn tiêu dương – bản-tiêu dị khí, lúc trị theo bản, lúc trị theo tiêu;
Thiếu âm chứa trung khí Thái dương thủy; Thái dương chứa trung khí Thiếu âm hỏa – đồng bản thì khác tiêu, đồng tiêu thì khác bản, nên không lấy trung.
Dương minh – Quyết âm tòng trung:
Trung khí của Dương minh là Thái âm thấp thổ, nên táo tòng thấp hoá;
Trung khí của Quyết âm là Thiếu dương hỏa, nên mộc tòng hỏa hoá; bởi thế hai kinh này bỏ bản-tiêu mà theo trung khí.
Tổng kết, ngũ hành chi khí: mộc gặp hỏa tòng hỏa hoá, kim gặp thổ đồng tòng thấp hoá; thủy luôn lưu thấp, hỏa ắt hướng táo – đồng khí tự tìm nhau. Sáu khí tòng hóa chưa hẳn đều “hữu dư”; đã hiểu “hữu dư” gây bệnh thì càng phải biết “bất cập” khó hoá. Khí lục kinh thịnh suy vô thường – khí dư thì hoá sinh thái quá, khí bất cập thì hoá sinh đình trệ; thuận theo thì thành “thường”, đắc kỳ thường thì hoá sinh không ngừng, nghịch lại thì thành “biến”. Gặp biến thì mạnh yếu (thái quá, bất cập) đều trở thành tai hại Vì thế:
Mộc tòng hỏa: hỏa thịnh → tòng hoá quá mức; dương suy → hoá không tiền.
Táo tòng thấp: thấp thịnh → hoá quá mức; thổ suy → kim mất hoá, cũng là hoá đình trệ.
Ngũ hành chi khí (五行之气) chính-đối đều-như-thế, đây là lẽ tất nhiên của đạo sinh-hóa bản-tiêu (此标本生化之理所必然者), hóa mà thái quá (化而过者) thì nên ức-chế (宜抑), hóa mà bất cập (化而不及者) há chẳng nên bồi-bổ ư (不宜培耶)。
Những luận điểm trên (以上之论) thu thập quan điểm của Trương Cảnh Nhạc (张景岳) và Trần Tu Viên (陈修园) về lý “tòng hóa” của lục kinh lục khí bản-tiêu-trung kiến (六经六气标本中见从化之理), huyền vi sâu xa, thật không thể một mắt mà thấu triệt。
Hơn nữa, cổ nhân (古人) khi bàn tòng tiêu, tòng bản, tòng trung kiến nhưng không liên hệ hữu cơ với sinh-lý-bệnh-lý của lục kinh (六经的生理病理) mà chỉ dùng mô hình tòng hóa của lục khí (六气标本中见的从化模式) để giải thích chứng bệnh, khiến độc giả như hoà thượng ôm cột (丈二和尚摸不着头脑) khó tiếp nhận tinh tuý khí hóa học thuyết (气化学说)。
Độ Châu bất tài (渡舟不才) xin lấy thiển kiến cá nhân (个人之见), đưa ra quan niệm mới để giải thích “lục kinh chi vi bệnh” (六经之为病), luôn lấy thực tiễn lâm sàng (临床实践) làm điểm tựa:
I/ Thái dương kinh bệnh (太阳经病)。
Thái dương (太阳) là kinh hàn thủy (寒水之经) – bản hàn (本寒) mà tiêu nhiệt (标热) – trung kiến thiếu âm nhiệt hóa (中见少阴之热化). Cổ nhân (古人) cho rằng khí bản-tiêu Thái dương dị loại (太阳标本气异) nên mới có thuyết “tòng bản, tòng tiêu” (从本、从标). Tuy hàn thủy (寒水) là bản khí Thái dương(本气) nhưng vẫn phát sinh tiêu dương chi nhiệt (标阳之热) vì trung khí Thái dương tức thiếu âm (太阳中气即少阴) – cổ nhân chỉ giảng hình thức và vị trí của“Biểu-lý tương lạc là trung khí cư trung” mà chưa luận mối liên hệ sinh-lý-bệnh-lý giữa trung khí và bản kinh, khí thiếu âm (少阴之气) vốn nhiệt (热) lại thông với Thái dương bàng quang (太阳膀胱) nên có thể ôn hóa hàn thủy biến thành khí (温化寒水变气) – khí này xuất ra kinh Thái dương, lan khắp thể biểu, phân bố toàn thân, phát khởi tác dụng kháng tà cố biểu, có thể nói “Khí” tòng thuỷ sinh, “Thuỷ” do khí hoá, cả hai hỗ tương sử dụng,
thành quan hệ âm-dương biểu-lý. Cũng thấy Thái dương dựa vào khí hóa của trung khí để hoàn thành chức năng sinh lý.
Vì thế, trong Thái dương bệnh (太阳病) thường gặp khá nhiều thiếu âm hàn chứng (少阴寒证) như Tứ nghịch thang chứng (四逆汤证, điều 29), Can khương phụ tử thang chứng (干姜附子汤证, điều 61)
và Chân Vũ thang chứng(真武汤证, điều 82). Những chứng ấy liên hệ mật thiết và phức tạp với hiện tượng trung khí Thái dương – thiếu âm dương hư, khí hóa bất cập
Khi ngoại tà mới xâm phạm vào biểu (外邪初客于表) xuất hiện chứng ghét lạnh “ố hàn chi chứng” (恶寒之证) – Trần Tu Viên (陈修园) chú: “Thái dương (太阳) chủ tầng ngoài cùng của thân, có “kinh chi vi bệnh, khí chi vi bệnh”; vì sao nói “vi khí”? Nội Kinh (《内经》) chép: ‘Thái dương chi thượng, hàn khí chủ chi’ (太阳之上,寒气主之) – bệnh do phong mà khởi ố hàn, cũng có không do phong mà tự ố hàn, nặng nhẹ khác nhau song chẳng lìa ố hàn. Bởi khắp thân thể có tám vạn bốn nghìn mao-khiếu là vệ ngoại khí Thái dương (太阳卫外之气), nếu bệnh ở khí Thái dương thì toàn thân ố hàn (通体恶寒), nếu bệnh ở kinh Thái dương thì lưng ố hàn (背恶寒)” ghét lạnh .
Như Thái dương bệnh (太阳病) xuất hiện chứng trạng “phát nhiệt” (发热) chúng ta hiểu là nhiệt của tiêu khí Thái dương hoá sinh, trước đã nói khí Thái dương trải khắp vệ ngoại để cố biểu, hễ bị tà thương thì dương khí uất không thoát, chính–tà giao tranh nên phát nhiệt. Trần Tu Viên bình: “Phong thuộc dương tà, tiêu Thái dương cũng dương – lưỡng dương giao hợp, trọng ở hai chữ ‘phát nhiệt’”, nêu rõ cơ chế dương phát nhiệt.
Bản Thái dương là hàn thủy, tiêu Thái dương là dương nhiệt, đây là trung khí thiếu âm nhiệt (中气·少阴之热) ôn hoá Thái dương hàn thủy mà thành khí, cho nên cải biến được kết cấu Thái dương thuỷ hàn đơn độc. Nếu tà dương ở kinh-tiêu lan vào bản phủ: kinh-tiêu có bệnh tà nên mạch phù, phát nhiệt; phủ khí không hóa tân dịch nên khát mà tiểu tiện bất lợi. Trương Trọng Cảnh (仲景) dùng Ngũ linh tán (五苓散) phát hãn để lợi tiểu. Nếu tà bản phủ Thái dương lấn sang kinh-tiêu, bản phủ thụ bệnh nên tiểu tiện bất lợi, tâm hạ mãn vi thống; Kinh-tiêu thụ bệnh nên đầu cổ cứng đau, vô hãn, hấp hấp phát nhiệt; Trọng Cảnh dùng Quế chi khứ Quế gia Phục linh Bạch truật thang (桂枝去桂加茯苓白术汤) là phép lợi tiểu để giải biểu .Đường Dung Xuyên (唐容川) đời Thanh cảm ngộ sâu sắc hai điều 28, 71 (两条)Ông nói : “Ngũ Linh Tán (五苓散) trọng dụng Quế chi (重桂枝) để phát hãn (以发汗) – phát hãn tức là để lợi thủy (发汗即所以利水也); còn phương này (此方, tức Quế chi khứ Quế gia Phục linh Bạch truật thang – 桂枝去桂加茯苓白术汤) trọng dụng Truật (重术) để lợi thủy (利水) – lợi thủy tức là để phát hãn (利水即所以发汗也); Thực hiểu nguyên do thủy năng hóa khí, khí năng hành thủy, cho nên trái thuận, phải cũng thuận (实知水能化气, 气能行水之故, 所以左宜右宜)” 。
Lời Đường tiên sinh, nếu phân tích theo lý Thái dương bản hàn tiêu nhiệt (太阳标本寒热) và trung kiến thiếu âm nhiệt hóa (中见少阴热化), thì ông vừa vạch rõ quan hệ phát bệnh giữa bản-tiêu Thái dương, lại chỉ ra vai trò “trung khí” trong bệnh cơ, nên lời ấy trở thành cơ sở lý luận cho học thuyết khí-hóa (故成为气化学说之理论)
Nhiệt chứng Dương minh (阳明病的热证):ở thượng tiêu (在于上者) tâm phiền, lưỡi có rêu (则心中懊出,舌上有苔);ở trung tiêu (在于中者) khát muốn uống, miệng lưỡi khô (则渴欲饮水,口干舌燥);ở hạ tiêu (在于下者) mạch phù phát nhiệt, khát muốn uống, tiểu tiện không lợi (则脉浮发热,渴欲饮水,小便不利)。
Thực chứng Dương minh (阳明病的实证):Triều nhiệt, bụng trướng, đại tiện táo không thông, tay chân rịn mồ hôi, nói nhảm, mạch trầm khẩn, lưỡi khô rêu vàng (潮热,腹满,大便燥不解,手足濈然汗出,谵语,脉沉紧、舌燥苔黄)。
Cổ nhân còn nhấn mạnh Dương minh “tòng thấp” (古人认为阳明而从中见之湿化) rất rõ trong thiên Dương minh bệnh (这在阳明病篇非常突出),như điều 187: “Thương hàn mạch phù hoãn, tay chân tự ấm → hệ tại Thái âm… đến ngày 7–8, đại tiện cứng → chuyển thành Dương minh” (第187条… 至七、八日大便坚者,为阳明病也);Trần Tu Viên chú (陈修园注) “Dương minh – Thái âm khí làm biểu-lý, tà cũng giao hệ…” (阳明与太阴之气相为表里,邪气亦交相为系) giải rằng: đầu bệnh không ở Dương minh mà ở Thái âm – thấp-thổ lẫn nhiệt nên thân sắp vàng da; nếu tiểu tiện thông thì thấp-nhiệt được tiết, da sẽ không vàng; tới ngày 8 gặp thời chủ khí Dương minh, tà chuyển sang Dương minh, vị táo ruột khô nên đại tiện tất cứng.
1 Ông lại nói:“Đoạn này (此节) kèm đoạn dưới (合下节) để hiển rõ nghĩa Dương minh – Thái âm biểu-lý (明阳明与太阴相表里之义)”.
2 Ai cũng biết, Dương minh tòng trung-kiến thấp Thái âm mới là chính cục (阳明从中见太阴之湿化为正局), chứ không tòng tiêu hay bản (而不从标、本之化也)。
3 Kết luận về đoạn trên – 所以本节为中见太阴湿化之典范… → Bởi vậy, đoạn này là mẫu mực của “trung-kiến Thái âm thấp” (所以本节为中见太阴湿化之典范), Trần tu Viên lại giải thành bệnh biểu-lý, thật là một sai sót trong vạn ý! (陈氏反解为阳明与太阴相表里之病,勿乃千虑之一失欤?)。
4 Thuật quy tắc Dương minh – 由上所述… → Tóm lại: Dương minh bệnh – táo thì tòng bản, nhiệt thì tòng tiêu, thấp thì tòng trung-kiến (阳明病燥则从本;热则从标;湿则从中见也)。
5 Giải “trung-kiến” – 读古人书… → Đọc sách cổ phải hiểu “trung-kiến” là dùng khí đối lập với thấp để nhận thức táo-nhiệt (古人指定,从中见之义,是让我们从湿的对立之气去认识燥热之病)。
6 Mở rộng luận Dương minh – 何况阳明病开宗明义… → Hơn nữa, Dương minh bệnh vốn lập luận trên ba dương, nhấn mạnh “Thái dương + Dương minh làm bài ước khí” khiến tân dịch tỳ bị Vị táo hao kiệt — kết hợp với lý “trung-kiến thấp” càng đáng suy ngẫm vô cùng (何况阳明病开宗明义…结合阳明中见太阴湿化之理,能不令人玩味而无穷也)。
7 Chứng hàn-thấp trong Dương minh – 另外,也应看到… → Ngoài ra, phải thấy trong Dương minh bệnh có vô số chứng hàn-thấp cần trị (在阳明病中,出现了大量寒湿证治), như Trương Ẩn Am nói: “phát nhiệt khát, đại tiện táo là chứng dương của Dương minh; còn Vị hư hàn, thủy cốc bất biệt, mạch trì ác hàn là do Dương minh cảm trung-kiến âm-thấp” (如张隐庵所说…此阳明感中见阴湿之化也)。
III/ Thiếu dương kinh bệnh – 三、少阳经病 → Thiếu dương (少阳) bản hoả tiêu dương, trung-kiến Quyết âm phong-mộc;Bản-tiêu đồng khí nên theo bản hoả。Đặc tính khí Thiếu dương –→ Thiếu dương thuộc dương sơ sinh, khí hướng thượng-hướng ngoại liên tục sinh trưởng, rất sợ tà khí uất tắc;lại phải nhờ trung-kiến phong-mộc ôn dương, cổ động sinh-thăng chi khí không ngừng。
Chứng Thiếu dương –→ Chứng nhiệt: miệng đắng, họng khô, tâm phiền thuộc hoả khí bản Thiếu dương;Chứng uất: ngực sườn đầy, lặng lẽ không muốn ăn do khí cơ bế uất (胸胁苦满,默默不欲饮食);Choáng đầu mắt phản ánh trung-kiến phong-mộc (头目眩晕…中见风木)。 令人最感兴趣… →Điều khiến người ta hứng thú nhất là trong quá trình phát bệnh, hai kinh Thiếu dương và Quyết âm có những biểu hiện lâm sàng khá tương đồng: ví dụ, bệnh Thiếu dương thường khô họng, còn bệnh Quyết âm lại khát nước tiêu khát; bệnh Thiếu dương hay bức bối trong tim, còn bệnh Quyết âm thì nóng đau ở vùng tim; bệnh Thiếu dương lặng lẽ không muốn ăn, còn bệnh Quyết âm đói nhưng vẫn không muốn ăn; bệnh Thiếu dương dễ buồn nôn, còn bệnh Quyết âm nôn khan; bệnh Thiếu dương sốt rét qua lại, còn bệnh Quyết âm cơn nhiệt quyết bộc phát rồi lại lui. Hai kinh này vì thế có những chứng trạng “bề ngoài tuy khác mà tinh thần tương thông”. Từ đó thấy rằng, khi Thiếu dương phát bệnh, nó không chỉ tuân theo “bản khí” của riêng kinh mà còn chịu sự chi phối của “trung khí” chuyển hóa.
Bệnh của kinh Thái âm
Kinh Thái âm vốn tính ẩm lạnh (tạng bản là thấp, biểu cũng là âm); phần “trung kiến” lại thấy chuyển hoá táo của Dương minh. Vì biểu–bản đồng khí, nên Thái âm theo “bản khí” (thấp-hàn) để bao quát cả biểu khí.
Khi Thái âm theo thấp-hàn, trung tiêu phân biệt thanh–trọc mất điều hoà, đúng như điều 273:
“Bệnh Thái âm, bụng đầy trướng kèm nôn, ăn không vào, tự đi lỵ nhiều, đôi khi bụng tự đau; nếu lầm dùng hạ pháp thì dưới tâm sẽ kết cứng.”
Lý giải:
Về biện chứng: hàn thấp Thái âm hoành hành là do táo-hoá “trung khí” Dương minh không đủ – dương không thắng âm, sinh biến “hàn-thấp ở tỳ”.
Xem điều 278 của Thiên Thái âm bệnh:
“Thương hàn, mạch phù mà hoãn, tay chân tự ấm là tà hệ ở Thái âm. Bệnh Thái âm vốn nên phát vàng thân thể, nếu tiểu tiện tự thông thì thân không vàng. Đến ngày 7, 8 tuy bứt rứt dữ, hạ lỵ hơn chục lần trong ngày, cũng sẽ tự ngừng, vì tỳ gia thực, trọc thối cần được tống ra.”
Chú giải của Tiền Hoàng:“Hoãn là bản mạch của tỳ, tay chân ấm do tỳ chủ tứ chi, nói ‘tự ôn’ tức không phát sốt. Tà ở Thái âm nên tay chân ấm, không như Thiếu âm, Quyết âm hàn quyết. Thấp thổ Thái âm bị uất nên sẽ vàng da, tiểu tiện thông tức thấp-nhiệt tiết xuống, da sẽ không vàng. Đến ngày 7, 8 tuy bứt rứt, đó là dương khí lưu hành, ruột-vị thông suốt; hạ lỵ hơn mười lần cũng sẽ tự dứt: Chính khí tỳ gia thực, trọc hủ (thối) hữu hình ra hết thì thấp-nhiệt vô hình cũng sạch.”
Điều này phải soi cùng câu trong thiên Dương minh (“mạch phù hoãn … đến ngày 8, 9 đại tiện cứng là chuyển thuộc Dương minh”) để thấy quan hệ bệnh lý “trung khí” Dương minh ↔ Thái âm, cũng như vi diệu của quy luật chuyển hoá táo-thấp – đọc kỹ càng thêm thú vị vô cùng.
Bệnh thuộc kinh Thiếu âm
Kinh Thiếu âm vốn bản nhiệt mà tiêu âm; “trung kiến” lại thấy sự hóa khí hàn thủy của Thái dương. Vì khí ở biểu và bản khác hẳn nhau nên khí-hóa Thiếu âm vừa theo bản (nhiệt), vừa có thể theo tiêu (âm lạnh). Bởi thế các chú giải đời sau đều quy bệnh Thiếu âm vào hai loại hàn hóa và nhiệt hóa.
Thiếu âm chứng hàn
Điều 282:
“Thiếu âm bệnh, muốn nôn mà không nôn, tâm phiền nhưng lại chỉ thích ngủ. Năm sáu ngày tự lỵ mà khát, đó thuộc Thiếu âm. Hư nên tự dẫn nước để cứu mình. Nếu tiểu tiện sắc trắng, hình chứng Thiếu âm càng đủ, tiểu trắng nghĩa là hạ tiêu hư hàn, không thể chế thủy nên nước tiểu trắng.”
Chú của Trình Ứng Mạo:
“Thiếu âm bệnh trị không kịp, kéo dài tới ngày năm sáu, hàn ở dưới nặng, chức năng thu tàng bị phá, nên sinh hạ lỵ… Chữ ‘khát’ không chỉ tả khô mà nêu chữ ‘hư’, khác với khát do thực tà ở tam dương. Ở chứng này, ‘tự lỵ’ là bệnh gốc; ‘tiểu trắng’ chính là dấu hàn, nên không chỉ căn cứ vào phiền khát mà đã đoán hàn. Dù là phiền khát, tất cả thuộc nhiệt Thiếu âm—nếu không phải đới dương thì cách dương—đều có thể lấy hàn làm chuẩn, dùng phép ôn. Thận thủy không đủ ấm nên không nạp được khí; khí không quy về nguyên, nghịch lên hoành cách nên ‘muốn nôn mà không nôn’; thận khí động cách nên tâm phiền.”
Thiếu âm chứng nhiệt
Điều 303:
“Thiếu âm bệnh kéo dài trên hai, ba ngày, tâm phiền không thể nằm, dùng Hoàng liên A giao thang.”
Nếu thuộc dương hư âm thịnh thì chủ yếu buồn ngủ, ít tỉnh; còn âm hư dương vượng ắt tâm phiền, không ngủ được. Bình thường tâm hỏa phải hạ xuống để ôn thận thủy; thận thủy phải bốc lên để giúp tâm hỏa. Tâm-thận giao thông (ký tế) thì âm bình dương bí, giữ cân bằng. Nay Thiếu âm bệnh, thận thủy hư, tâm hỏa không chế mà bốc lên, dương không nhập âm, gây phiền táo, thậm chí mất ngủ. Chứng thuộc âm hư hỏa vượng, lưỡi hồng sẫm, ít rêu đến bóng đỏ như dâu tây; mạch sác mà tế; tiểu tiện vàng.
Quan hệ khí-hóa
Hai loại hàn-nhiệt trên phản ánh Thiếu âm theo khí-hóa bản và tiêu. Ngoài ra, bệnh Thiếu âm còn liên quan “trung kiến” Thái dương:
Cho thấy bất kể hàn hay nhiệt, Thiếu âm vẫn liên hệ với Thái dương bàng quang – minh chứng sự giao thông bên trong giữa ‘trung kiến’ Thái dương và Thiếu âm.
Bệnh thuộc kinh Quyết âm
Kinh Quyết âm có khí bản là phong, khí tiêu là âm, và “trung kiến” hiển lộ khí hóa hỏa là tướng-hỏa của Thiếu dương. Cổ nhân cho rằng Quyết âm không theo khí bản hay khí tiêu, mà “tòng trung kiến” — theo hỏa khí của Thiếu dương. Lý do: “hai âm giao tận gọi là Quyết âm”; khi âm khí đã tột cùng thì “âm cực dương sinh”, nên Quyết âm tất hiện hoả Thiếu dương để tiếp nối sinh khí, ngăn không cho mạch sống đoạn tuyệt.
Điều 325 chép:
“Quyết âm làm bệnh: tiêu khát, khí xung lên ngực, ngực nóng đau, đói mà không muốn ăn; hễ ăn thì nôn giun, không hạ lợi thì không dứt.”
Quyết âm là giai đoạn cuối của lục kinh — cuối ba âm. Ở mức này âm hàn cực thịnh, nhưng “vật cực tất phản, cùng tất biến”: âm thịnh cao độ liền sinh dương hồi phục, tức âm tận dương sinh, hàn cực sinh nhiệt. Quyết âm biểu-lý với Thiếu dương, lại “trung kiến” hỏa Thiếu dương: Thiếu dương là sơ sinh của dương khí, đặt nền cho “âm tận dương hồi”. Vì vậy đề cương Quyết âm “trong âm có dương”, thường lẫn lộn hàn-nhiệt. Do âm-dương thịnh suy, hàn-nhiệt thắng phục, Quyết âm có thể hiện chứng hàn, chứng nhiệt hoặc chứng chết của âm thịnh thoát dương (tử chứng).
Tóm lại, Quyết âm lấy chứng hàn-nhiệt xen tạp làm chủ, thể hiện quy luật đối lập-thống nhất, chuyển hóa và biến đổi của âm-dương.
Quan hệ với khí-hóa trung kiến Thái dương
Bệnh Quyết âm không chỉ tuỳ khí bản/tiêu mà còn liên quan trung kiến Thái dương:
Cho thấy dù hàn hay nhiệt, Quyết âm vẫn nội thông với Thái dương bàng quang, phản ánh mối quan hệ kín đáo giữa hai kinh.
Nhận xét chung về học thuyết khí-hóa “bản-biểu-trung kiến” của lục kinh
Trên đây đã bàn về khí-hóa “bản-tiêu-trung kiến” trong sáu kinh, soi rõ lý âm-dương và khí của lục khí. Học thuyết khí-hóa này sâu xa, tiếc rằng lâm sàng ngày nay chỉ quen nói “can phong thượng động, tỳ thấp bất vận, tâm hỏa bốc lên”, coi như khuôn vàng, mà lại khinh thường khí-hóa lục kinh của Thương Hàn – Nội kinh, thậm chí chê bai. Điều ấy khiến tinh hoa của Trương Trọng Cảnh và áo chỉ Nội kinh không được phát huy.
Phụ lục: Lục kinh biện chứng bao hàm “bát cương”
Từ Minh-Thanh, y gia như Trương Cảnh Nhạc, Trình Chung Lăng, Giang Bút Hoa… đã rút hai cương âm-dương từ lục kinh biện chứng để thống lĩnh phương pháp biểu-lý, hàn-nhiệt, hư-thực, rồi phát triển hoàn thiện thành hệ thống bát cương.
Giang Bút Hoa trong “Biểu-Lý Hư-Thực Hàn-Nhiệt Biện” viết:
“Bệnh tật của con người không ngoài âm-dương, phân âm-dương không ngoài biểu-lý, hư-thực, hàn-nhiệt sáu chữ. Lý là âm, biểu là dương; hư là âm, thực là dương; hàn là âm, nhiệt là dương. Danh y cứu người chỉ nhờ biện âm-dương; Dong (xoàng xĩnh) y giết người cũng do nhầm âm-dương.”
Lời ông tương tự thuyết “Lưỡng cương, lục biến” của Trương Cảnh Nhạc, cho thấy lục kinh tự nhiên bao hàm đủ “bát cương” biện chứng.
Nguyễn Nghị dịch