Bệnh gan là tên gọi chung chỉ hết thảy các bệnh chứng do chức năng sinh lý của gan rối loạn mà ra; nó bao gồm cả hai mặt: biến đổi về công năng và biến đổi về thực thể (tổn thương hữu cơ). Trung y cho rằng: sự xuất hiện của các chứng trạng đều có thể căn cứ vào sở thuộc của ngũ tạng để làm rõ đặc điểm sinh lý, bệnh lý của ngũ tạng; nắm được những đặc điểm sinh lý, bệnh lý ấy thì có thể nắm được quy luật bệnh biến của bệnh tạng phủ. Ví dụ: gan là tạng phong mộc, chủ về gân; hễ thấy các hiện tượng bệnh lý như run giật, rung lắc, co cứng gấp rút, co giật, động loạn, cấp bách… đều thuộc về gan. Gan là quan “tướng quân”, tàng hồn, ở chí là giận; phàm các biến đổi bệnh lý do tình chí thay đổi, nhất là do “nộ” (giận dữ), đều thuộc gan. Gan tàng huyết; phàm các chứng huyết do giận mà phát cũng thuộc gan. Gan ở bên cạnh sườn; các bệnh biến dưới sườn như đau, tích khối… đều có liên quan đến gan. Gan ưa vị chua; các chứng ợ chua, ợ hơi đa phần thuộc gan. Gan mật tương liên; các chứng như miệng đắng, mắt vàng, hoàng đản, nhìn vật thấy hoa mờ, kinh sợ điên cuồng… đều thuộc gan. Nắm vững những quy luật biến hoá ấy của bệnh gan, rồi lại phân biệt trong đó quan hệ chủ–thứ, tiêu–bản, thì có thể “xúc loại bàng thông” (触类旁通) “Suy luận từ trường hợp này sang trường hợp khác”, linh hoạt nắm vững biện chứng luận trị bệnh gan.
Tuy nhiên, cần thấy rằng trong quá trình phát sinh và phát triển của bệnh, nguyên nhân bệnh là bản, bệnh chứng là tiêu; biện chứng thì “phải phục theo cái chủ mà xét trước cái nhân” (“Phải chế ngự được bệnh chính, nhưng trước tiên phải giải quyết tận gốc nguyên nhân”). Vì vậy, nhận thức quy luật bệnh biến của bệnh gan còn cần khảo sát thêm từ các mặt: đặc tính nguyên nhân bệnh, quy luật truyền biến của tạng phủ kinh lạc, đặc điểm bệnh lý… Nay phân thuật như sau:
(1) Ảnh hưởng của đặc tính nguyên nhân đối với phát bệnh ở gan
Học thuyết nguyên nhân bệnh cho rằng: nguyên nhân có thể chia thành nội nhân, ngoại nhân và bất nội ngoại nhân. Cách phân loại này cũng thích hợp khi phân loại nguyên nhân gây bệnh gan. Tuy tính chất của các yếu tố gây bệnh khác nhau, đặc điểm bệnh chứng biểu hiện cũng theo đó mà khác, nhưng đều có quy luật nhất định để lần theo. Nguyên nhân của bệnh gan liên quan rộng, bệnh biến cũng khá phức tạp; song trong đó, “phong dâm” thuộc lục dâm, “nộ” và uất ức tình chí thuộc thất tình, cùng các yếu tố bất nội ngoại nhân như “tửu độc”, “đàm trọc”, “ứ huyết”, “phòng thất”, “ngoại thương”… có quan hệ đặc thù đối với sự phát sinh bệnh gan, rất có giá trị tham khảo trong biện chứng luận trị.
Phong thuộc dương tà, tính chủ khai tiết, ưa động và hay biến đổi; mà “phong khí thông ư can”, nên “phong khí” là chủ khí của Quyết âm can mộc. “Tố vấn·Lục vi chỉ đại luận” nói: “Trên Quyết âm, phong khí chủ trị, trung kiến Thiếu dương… đây là bản; dưới bản là trung của cái thấy; dưới cái thấy là tiêu của khí.” Có thể thấy Quyết âm lấy khí phong mộc làm “bản”, nên bệnh gan có thể sinh biến “can phong”. Nói chung, can phong thuộc phạm trù nội phong; do “phong khí thông ư can”, ngoại phong có thể vì dinh vệ hư sơ mà dẫn nội nhập vào gan; cũng có trường hợp nhiệt cực sinh phong, nội ngoại tương dẫn. Nhưng dù là nội phong hay ngoại phong, hoặc nội ngoại tương dẫn, đều biểu hiện đặc tính “thiện hành số biến” (hay đi, hay đổi), với các hiện tượng động dao(摇) rung giật.
Các dâm tà khác như thấp, nhiệt, táo, hoả, hàn… nhiều khi phát bệnh ở gan thường kiêm hiệp phong tà. Ví dụ: phong hoả làm hại, có thể do phong thừa thế hoả, hoả mượn uy phong, khiến gan thăng phát, sơ tiết động quá mà thành bệnh. Hàn thấp làm hại, tính ngưng liễm và dính nhờn, lại kiêm phong tà ở trong, có thể lôi kéo chức năng khai phát, sơ tiết của gan mà gây bệnh. “Táo” là hình tượng tân dịch bất túc, có ôn táo và lương táo; phong hiệp táo nhiệt thì thiêu đốt tân dịch, phong hiệp lương táo thì tân dịch không được phân bố; dù thiêu đốt tân dịch hay tân dịch không phân bố, đều có thể khiến thể–dụng của gan mất điều hoà mà phát bệnh.
Hoạt động tinh thần tình chí quá độ có thể làm thương tổn tạng phủ tương ứng mà phát sinh các bệnh của tạng. Giận là chí của gan, khí của nó cương bạo, dễ dẫn đến bệnh gan. Vì giận thì khí huyết nghịch loạn, khiến gan mất tác dụng sơ tiết điều đạt. Thạch Niệm Tổ nói: “Người phẫn nộ thì khí huyết toàn thân đảo lộn, dễ nhất là hại gan.” (“Vương Mạnh Anh y án thích chú”) Sau khi khí huyết nghịch loạn, nhẹ thì “khí thịnh mà ngực trướng” (“Linh khu·Luận dũng”), nặng thì “huyết với khí cùng chạy lên trên thì thành đại quyết” (“Tố vấn·Điều kinh luận”), biểu hiện đột ngột ngã quỵ, hôn mê bất tỉnh cùng nhiều loại quyết chứng. Nếu ảnh hưởng đến chức năng tàng huyết, còn có thể biểu hiện các chứng “huyết tràn ra ngoài mạch”: nghịch lên thì nôn ra máu, bức xuống thì băng lậu. Nếu đại nộ khí nghịch xúc phạm tỳ khí, cũng có thể xuất hiện chứng “hoàn cốc bất hoá” mà thành “xôn tiết” (tiêu chảy ra thức ăn chưa tiêu). Lại thường do khí nghịch hoá hoả, khiến “hồn của gan” không thể tiềm liễm, mà sinh biến giận cuồng nộ.
Do thất tình gây bệnh, đều có thể làm khí cơ rối loạn, ảnh hưởng điều hoà huyết dịch. Vì vậy, bi, ưu, khủng… quá độ cũng đều có thể khiến gan sinh bệnh. Vương Mạnh Anh nói: “Gan chủ một thân ở trong… bệnh do thất tình ắt khởi từ gan.” (“Vương Mạnh Anh y án”) Như “khủng tắc khí hạ” (sợ hãi khiến khí hạ xuống)(“Tố vấn·Cử thống luận”): sợ hãi thì khí khiếp, khí khiếp thì đi xuống, khiến thăng phát của gan bị ức chế. “Bi tắc khí tiêu” (Bi ai thì khí tiêu hao): khí tiêu làm gan khí bị nội đoạt, có thể khiến “hồn không tàng”, tức như nói “gan bi ai động ở trong thì thương hồn, hồn thương thì cuồng vọng không tinh.” “Kinh tắc khí loạn” (Giật mình khí rối loạn): khí loạn thì thần hồn vô chủ, có thể làm khí gan đởm bên trong suy, mà sinh chứng kinh quý và kinh cuồng. “Tư tắc khí kết” (Suy tư thì khí ứ trệ): khí kết thì gan khí uất bên trong, sơ tiết bất lợi, thường biểu hiện không muốn ăn uống, ngực sườn đầy trướng. Những điều trên cho thấy nộ có thể dẫn đến bệnh gan, các tình chí khác cũng có thể làm gan khí sinh bệnh. Vì vậy cần nhằm đúng đặc điểm gan sinh bệnh, kết hợp hội chứng(候) cụ thể mà cân nhắc.
(2) Quy luật truyền biến của tạng phủ kinh lạc trong bệnh gan
Trong thân người, tạng phủ ở lý, kinh lạc ở biểu. Kinh lạc là mối nối biểu–lý phối thuộc(属) giữa tạng phủ, là căn bản của tuần hoàn khí huyết tạng phủ. Hình hài ngũ quan liên quan cái tạng phủ chủ quản; còn các vùng của thân thể liên quan sự thông đạt của kinh lạc. Vì vậy tạng phủ và kinh lạc là một chỉnh thể, đồng thời là những khái niệm có nội hàm khác nhau, mang những chức năng sinh lý khác nhau.
Kinh lạc có tác dụng sinh lý “hành khí huyết, doanh âm dương”, lại là thông lộ để phản ánh biến hoá sinh lý, bệnh lý của tạng phủ ra bên ngoài. Do đó lúc mới phát bệnh, kinh lạc và tạng phủ có thể ảnh hưởng lẫn nhau; trong quá trình phát triển lại có thể truyền biến lẫn nhau. Ví dụ: bệnh do ngoại nhân thường phát trước ở biểu, rồi từ kinh lạc mà nội truyền tạng phủ; bệnh do nội nhân thường khởi trước ở trong, rồi từ tạng phủ mà ngoại đạt kinh mạch (nếu biểu lý đồng bệnh thì trong ngoài đều trọng). Vì vậy, khi nhận thức quy luật biến hoá của bệnh gan, không thể tách rời phản ánh bệnh lý của tạng phủ kinh lạc. Dưới đây sẽ trình bày phân biệt quy luật truyền biến của bệnh gan như sau:
Kinh–tạng hỗ truyền là chỉ tạng và kinh mạch sở thuộc có thể truyền biến lẫn nhau: có thể trước tiên là bệnh ở kinh mạch rồi truyền vào tạng phủ; cũng có thể trước tiên bệnh ở tạng phủ rồi truyền ra kinh lạc. Can thuộc Quyết âm; bệnh ở tạng can có thể dẫn đến bệnh ở kinh Túc Quyết âm; bệnh ở kinh Túc Quyết âm cũng có thể ảnh hưởng bệnh tạng can. Như “Thương hàn luận·Quyết âm thiên” điều 351 (theo số của bản Triệu) nói: “Tay chân quyết lạnh, mạch tế muốn tuyệt, dùng Đương quy tứ nghịch thang chủ trị.” Chứng này là Quyết âm huyết hư mà hàn tà khách ở kinh mạch, nên dùng Đương quy tứ nghịch thang để tư huyết, ôn tán hàn tà trong kinh. Điều 352 lại nói: “Nếu người ấy bên trong thụ hàn đã lâu, nên dùng Đương quy tứ nghịch gia Ngô thù du Sinh khương thang.” Điều này cho thấy hàn trúng ở kinh và hàn tà phạm tạng có chỗ tương đồng trong điều trị. Lại như điều 378 nói: “Nôn khan, ói nước dãi bọt, đau đầu, Ngô thù du thang chủ trị.” Điều này phản ánh chứng hàn tà ở gan mà lại ngoại cập đến kinh lạc, có thể theo quy luật hỗ truyền mà nhận biết.
Do kinh–tạng hỗ truyền, trong sự xuất–nhập giữa nội và ngoại, thường có thể ảnh hưởng đến ngũ quan sở thuộc (mắt, tai, mũi, lưỡi, miệng) và ngũ thể (da, thịt, gân, mạch, xương) mà phát sinh bệnh biến. Như “người bệnh gan thì khoé mắt xanh” (“Linh khu·Ngũ duyệt ngũ sứ”); lại như: “Can khí nhiệt thì đởm tiết, miệng đắng; cân mạc khô, cân mạc khô thì gân cấp mà co rút, phát thành chứng cân nuy.” (“Tố vấn·Luận…”) Có thể thấy các bệnh biến ấy thực có liên hệ nội tại với “can khai khiếu ra mắt” và “can chủ gân”.
Kinh mạch hỗ truyền là chỉ bệnh ở bản kinh không khỏi mà truyền sang kinh khác. Kinh Túc Quyết âm thuộc can; quy luật truyền biến của nó có: thủ túc hai kinh truyền nhau (tức gan truyền tâm bào, hoặc tâm bào truyền can); và âm dương biểu lý truyền nhau (gan truyền đởm, hoặc đởm truyền gan). “Thương hàn luận·Quyết âm thiên” điều 326 nói: “Quyết âm chi vi bệnh, tiêu khát, khí thượng xung tâm, tâm trung thống nhiệt…” chính là nói bệnh của Túc Quyết âm can, mà thượng phạm đến thủ Quyết âm tâm bào. Còn biểu lý tương truyền là chỉ Quyết âm và Thiếu dương làm biểu lý: tà ở Thiếu dương nếu không từ biểu mà giải thì dễ nội hãm vào Quyết âm; tà ở Quyết âm ở trong cũng có thể từ âm dương mà hiện ra chứng Thiếu dương. Vì vậy biểu lý tương truyền là một hình thức khá thường gặp trong truyền biến của bệnh gan.
Can (肝), “can” (干) cũng nghĩa là “xâm can”, đặc tính của nó thường là hay can phạm các tạng khác: trên phạm phế kim, dưới kiệt thận âm, giữa phạt tỳ vị… không chỉ một dạng. Trong đó, thường gặp nhất trên lâm sàng là gan truyền tỳ, gan liên quan đởm, hoặc gan đởm đồng bệnh.
Cần chỉ rõ: truyền biến của bệnh gan không phải mô thức cố định. Trong quá trình truyền biến, thường chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố: như thời tiết khí hậu (“mùa xuân hay mắc nghẹt mũi, chảy máu mũi” – “Tố vấn·Kim quỹ chân ngôn luận”); như thể chất (“người hình mộc… sắc xanh xám… chịu được xuân hạ, không chịu được thu đông” – “Linh khu·Âm dương nhị thập ngũ nhân”); lại như cảm xúc đột biến (“ngũ chí nội thương, nên khiến không thể theo thứ tự mà truyền”). Những điều ấy cho thấy truyền biến bệnh gan không thể tách rời ảnh hưởng của thời tiết, thể chất và tinh thần.
(3) Đặc điểm biến hoá bệnh lý của bệnh gan
Như trên đã nói, do tính đặc thù của nguyên nhân bệnh và quan hệ âm dương thiên thắng trong nguyên nhân bệnh, bệnh gan có thể căn cứ quan hệ nội–ngoại, biểu–lý của kinh lạc tạng phủ mà truyền biến: bệnh tiến thì từ biểu nhập lý, bệnh lui thì từ lý đạt biểu. Vì vậy, bệnh gan trong biến hoá có những đặc điểm nhất định.
Gan thuộc Quyết âm; Quyết âm là “hai âm giao tận, một dương mới sinh”, nên “thể âm mà dụng dương”. Khi phát bệnh thì lấy “thể” và “dụng” mất điều hoà làm mâu thuẫn cơ bản. Hơn nữa, do âm dương tiêu trưởng lẫn nhau, có thể xuất hiện tình trạng âm dương hiệp tạp (trộn lẫn).
Gan là tạng phong mộc; mộc có thể sinh hoả, mà thuỷ lại có thể sinh mộc, nên can mộc ở giữa: trên gần thuỷ, dưới gần hoả, hình thành hai quan hệ mẫu–tử khác nhau. Nếu âm dương của gan mất điều hoà, sẽ quấy nhiễu sự yên ổn của hai tạng mẫu–tử. Vì vậy, nó có thể “hiệp thuỷ mà động”, cũng có thể “hiệp hoả mà động”, khiến âm dương, thuỷ hoả không giao tế mà sinh ra các loại bệnh chứng.
Gan là tạng “đa huyết thiểu khí”; bệnh thì huyết thường bất túc, khí lại hữu dư; “khí hữu dư tức thị hoả”, hoả thịnh lại càng dễ hao huyết. Lại nữa, khí uất thì huyết trệ. Vì vậy trong quá trình bệnh gan, lúc đầu chỉ liên quan đến khí phận; nếu khí phận bị ràng buộc không khỏi thì vào huyết phận. Ví dụ: gan dương thăng phát quá mức khiến khí huyết xung lên mà phát quyết; can phong thượng nhiễu thì thấy đầu mắt choáng váng, hoặc đau nhói đau giật (khiêu thống); nếu hiệp hoả nhiệt thì hai mắt đỏ sưng đau, má đỏ; nếu liên quan kinh Thiếu dương thì hai tai đau; khí bệnh ảnh hưởng đến huyết thì có thể xuất hiện khái huyết, ẩu huyết; gan huyết nội hư không tàng hồn thì đa mộng dị kinh (dễ kinh hãi); dương khí thăng phát không đủ thì thanh dương khó thăng, tất sẽ thấy khi bệnh phát có các chứng trạng như: đầu choáng đau mà thích xoa ấn, sắc mặt xanh trắng, hai mắt không thấy rõ…; can khí không thăng, tỳ hư hạ hãm lại thấy đỗng tả, tràng minh (tiêu chảy, sôi bụng), ưa nằm, hay sợ; can dương hoá phong mà phong hiệp táo nhiệt cũng có thể thấy tiêu khát, dễ đói… Nếu chứng ấy xét về phụ khoa, lại thường gặp vào kỳ kinh đến sớm, lượng kinh nhiều, nặng thì thành băng lậu. Nếu do gan khí uất ức thì đau cạnh sườn, vùng thượng vị bứt bối, ợ hơi, hay thở dài; nếu bên trong có ứ huyết thì trong bụng cứng chắc, kinh nguyệt chậm, đau lưng đau bụng…; nếu khí không sơ tiết, tam tiêu không lợi thì tiểu tiện bất lợi.
Trường Xuân dịch