Vương Húc Cao cho rằng: “Bệnh tạng can phức tạp nhất, mà phép trị cũng rộng nhất.” Các y gia đời sau trị can có rất nhiều phương pháp: Lý Quán Tiên định ra “trị can thập pháp”, Vương Húc Cao định ra “trị can tam thập pháp”; Diệp Thiên Sĩ, Hoàng Cung Tú, Trương Sơn Lôi… đều có kiến giải độc đáo về trị can. Y gia cận đại như Tần Bá Vị nêu “trị can thập lục pháp”; Nhạc Mỹ Trung lấy ba pháp “bổ, tả, hoà” để thống lĩnh. Xét cho kỹ, cách phân loại phép trị can của y gia cổ đại tồn tại vấn đề “tên khác mà thực giống” (Danh dị nhi thực đồng), hoặc “tên gần giống nhưng nghĩa khác”; danh mục quá nhiều lại không thật thiết thực, khó sử dụng. Y gia cận đại tuy kết hợp lâm sàng mà đưa ra phân loại tương đối sát thực, nhưng cũng chưa thống nhất được ý kiến; đối với người mới học, rất dễ rơi vào cảnh như lạc trong biển sương mù, mênh mông không biết theo đâu. Chúng tôi cho rằng, phải căn cứ đặc điểm sinh lý của can và quy luật bệnh biến của can mà nắm vững nguyên tắc điều trị, mới có thể “Chấp giản ngự phồn” (đơn giản hoá sự phức tạp), tùy biến ứng dụng trên lâm sàng. Nguyên tắc điều trị bệnh can, khái quát đại ý có thể quy nạp như sau:
(1) Sơ thông khí huyết, lấy điều đạt làm trọng (Lưu thông thuận lợi)
Can ưa điều đạt, ghét uất ức; uất thì kinh khí nghịch, uất lâu thì huyết ứ. Vì vậy bệnh ở khí có thể dẫn đến bệnh ở huyết, bệnh ở huyết cũng có thể dẫn đến bệnh ở khí. Cho nên bất luận bệnh can ở giai đoạn đầu hay giữa của bất cứ thời kỳ nào, nguyên tắc “sơ thông khí huyết” đều phải quán triệt từ đầu đến cuối. “Tố Vấn – Chí Chân Yếu Đại Luận” nói: “Sơ kỳ huyết khí, lệnh kỳ điều đạt, nhi trí hoà bình.” (Sơ thông khí huyết thuận lợi để đạt được sự hài hoà) Lý Đông Viên soạn “Tỳ Vị Luận” rất chú trọng sơ vận can mộc; Chu Đan Khê tuy giỏi dùng khổ hàn nhưng lại khéo ở chỗ khai uất; Diệp Thiên Sĩ sáng lập “thông lạc pháp” mà khéo hàm ý sơ can… hết thảy đều quán triệt chỉ đạo chủ yếu là“sơ thông khí huyết” ở trong đó. Điều này cho thấy phép trị can tuy nhiều, nhưng nắm vững nguyên tắc “sơ khí linh điều” (Sơ thông để điều hoà), khiến đạt đến mức thuần thục như lửa lò rực chín, chính là mấu chốt nâng cao hiệu quả.
Bệnh can ban đầu tổn thương ở khí; khí cơ rối loạn, tiếp đó có thể hoá hoả động phong; do vậy sơ can lý khí là phép trị cơ bản. Diệp Thiên Sĩ nói: “Uất quá thì nên tân nên lương” (nên dùng thuốc cay, thuốc mát), thuận thế làm là ổn thoả.” Dù là từ hoả hoá mà dùng thuốc, cũng cần chú ý: “dùng khổ để tiết nhiệt mà không tổn thương vị; dùng tân để lý khí mà không phá khí; dùng hoạt để nhu nhuận táo sáp mà không sinh tư nị (ứ trệ chất béo bổ dưỡng).” (Lâm Chứng Chỉ Nam Y Án – Can Hoả). Nếu uất lâu nhập huyết, khí trệ huyết ứ, thì sơ can lý khí cũng có phân nhẹ nặng: nhẹ thì sơ khí, dưỡng huyết, hoạt huyết phối hợp; nặng thì lý khí, hoạt huyết, hoá ứ đồng dụng. Nếu ứ trở lạc mạch, lại nên hoà can thông lạc: tuyên thông mà không tân thoán (háo khí); hoá ứ mà không công phá quá mạnh. Tóm lại, lấy điều đạt thư sướng để phục hồi trạng thái sinh lý tự nhiên của can.
(2) Thể – dụng kết hợp, bổ tả thích nghi
“Bổ hư tả thực” (thêm chỗ thiếu, bỏ bớt chỗ dư thừa) là hạt nhân của học thuyết trị tắc trong Đông y. Trong điều trị bệnh can, thực hiện nguyên tắc này chủ yếu là: bổ phần “thể” của can còn thiếu, tả phần “dụng” của can đang thừa. Bởi mục đích dùng thuốc là dùng tính chất ngũ vị của dược vật để điều chỉnh sự thiên lệch âm dương khí huyết của tạng phủ, từ đó đạt mục tiêu khôi phục hoạt động chức năng của tạng phủ. Do đó, việc điều trị bệnh gan cũng phải dựa trên các lý thuyết “năm vị vào dạ dày” (ngũ vị nhập vị), “mỗi vị trở về trạng thái ưa thích của nó” (các quy sở hỉ)và “mỗi vị tấn công trạng thái ưa thích của chính nó” (các hữu sở hỉ công), để điều chỉnh mâu thuẫn cơ bản về sự mất cân bằng giữa “chất” và “chức năng” của gan, nhằm đạt được sự cân bằng và từ đó chữa khỏi bệnh gan.
Học thuyết ngũ vị quy kinh cho rằng: vị chua trước vào can. “Nội Kinh” nêu: “Can dục toan, cấp thực toan dĩ bổ chi”, “can khổ cấp, cấp thực cam dĩ hoãn chi”, “can dục tán, cấp thực tân dĩ tán chi; dĩ tân bổ chi, toan tả chi” làm nguyên tắc. Ở đây toan, tân, cam là chỉ ngũ vị của thuốc; “dục” và “khổ” là chỉ tính chất của tạng can. Điều đó nói rõ: tân tán, cam hoãn, toan thu là nguyên tắc điều chỉnh và khôi phục hoạt động chức năng của can. Nhưng cần giải thích rằng, đối với “bổ dụng toan” và “toan tả chi”, “dĩ tân tán chi” và “dụng tân bổ chi”, phải hiểu cho đúng. “Toan bổ” là chỉ dùng thuốc vị chua để bổ ích “can thể”; học thuyết “toan cam hoá âm” của đời sau chính là như vậy. “Toan tả” là chỉ dùng thuốc vị chua để thu liễm phần “can dụng” thái quá. Vì thế, một bên nói về thể, một bên bàn về dụng, đều từ góc độ thể – dụng mà điều chỉnh mâu thuẫn cơ bản. “Tân bổ”, “tân tán” cũng cùng ý: “tân bổ” là giúp can dương (khí) phát huy tác dụng; “tân tán” là sơ tiết phần can khí thái quá. Vương Băng chỉ ra: “Tính của mộc là ưa điều đạt; vị cay (tân) có tác dụng tán, thì giúp cho ‘dụng’ phát huy được năng lực, vì vậy nói là bổ; vị chua (toan) có tác dụng thu, thì trái phạm tính điều đạt của nó, vì vậy nói là tả.” (Trùng Quảng Bổ Chú Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn). Có thể thấy, công dụng bổ – tả của ngũ vị đều lấy việc điều chỉnh mâu thuẫn ‘thể – dụng’ của can làm điểm xuất phát. Còn phép “cam hoãn” là chỉ dùng vị ngọt để hoà hoãn, nhằm gây dựng trung khí, khiến bệnh can không truyền sang tỳ; tức làm chậm quá trình truyền biến của bệnh can. Ví dụ người nóng nảy dễ giận làm thương can, thì vận dụng thuốc “cam hoãn” để gây dựng trung khí; trung khí khỏe thì bệnh can có thể khỏi. Bởi vậy “Nan Kinh” nói: “Tổn can thì hoãn ở trung”, Trọng Cảnh chủ trương “tăng dùng thuốc vị ngọt để điều hoà”, đều được nêu ra từ góc độ này.
Can có khí, huyết, âm, dương; khí huyết âm dương của can mất điều hoà đều có thể dẫn đến bệnh can. Vì thế, phép bổ can thực là điều không thể thiên phế trong lâm sàng. Xưa nay có người chấp “can chỉ tả không bổ”, thực ra đó là kết luận sai lầm rút ra từ việc “không nên bổ mà lại bổ nhầm” rồi gây hại. Hoàng Cung Tú nói: “Người xưa nói can không bổ, không phải là không có bổ; thực do can khí quá mạnh thì can huyết lại thiếu, bổ vào thì trái lại làm hại ngũ tạng, nên coi ‘không bổ’ là quý. Sao biết được can khí không sung, ví như thân mộc không vững mà rất dễ gãy; nếu không dùng sơn thù du, đỗ trọng, tục đoạn, thịt gà… để trợ khí làm bổ, thì sao ngăn được thế yểu chiết (chết yểu)? Can huyết đã cạn, ví như dịch tươi của mộc sắp khô kiệt; nếu không dùng địa hoàng, sơn dược, câu kỷ để tư dưỡng phần ‘thuỷ’… thì lấy gì chế được tác hại của can táo?” (Bản Thảo Cầu Chân). Thực tế, trên lâm sàng bổ can khí, dưỡng can huyết cũng là pháp tắc thường dùng.
Can khí hoành nghịch quấy nhiễu, hoặc can phong nội động xung nghịch, phần nhiều thuộc “can dụng thái quá”, đa là thực chứng. Trị nên tả thực; do đó có các pháp bình can, trấn can, thanh can, tả can, hoá can… Những pháp này đều phát triển từ các nguyên tắc của “Nội Kinh” như “cao thì ức xuống”, “kinh (sợ) thì bình”, “hàn thì ôn (nhiệt)”, v.v.; vận dụng thích đáng trên lâm sàng thì hiệu quả càng tốt.
Tuy nhiên, khi dùng phép bổ – tả phải nắm đúng tiêu chuẩn vận dụng: không đáng bổ mà bổ thì thường “liễm tà làm hại”; không đáng tả mà tả thì dễ phạm điều răn “hư hư” (đã hư lại càng làm hư). Vưu Tại Kinh nói: “Tạng bệnh chỉ người hư mới chịu (bị ảnh hưởng), người thực thì không; can tà chỉ khi thực mới truyền, khi hư thì không truyền. Vì vậy trị can thực thì trước hết phải làm thực tỳ thổ để ngăn tai hoạ lan tràn; trị can hư thì nên bổ bản cung (chính tạng), để phòng đầu mối bị ngoại tà xâm.” (Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển). Điều này cho thấy, vận dụng bổ – tả nhất định phải vừa đúng mức mới có lợi cho việc điều trị.
(3) Phân minh tiêu – bản, hoãn – cấp có chừng mực
“Cảnh Nhạc Toàn Thư” nói: “Bản là nguồn của bệnh, tiêu là biến của bệnh.” Nguyên nhân bệnh là bản, chứng trạng là tiêu. Bệnh can phát sinh cũng như các bệnh khác: trước hết có nội nhân chính khí hư, sức chống đỡ thấp, tức “tà tụ lại thì khí ắt hư” (Tà chi sở tấu kỳ khí tất hư). Nhưng trong quá trình phát sinh và phát triển của bệnh can, do từng giai đoạn khác nhau mà biểu hiện bệnh chứng khác nhau, nên tiêu bản có thể chuyển hoá lẫn nhau. Như can âm bất túc, phong dương nội động: chứng phong dương là tiêu, can âm bất túc là bản; nhưng khi trị thì “cấp thì trị tiêu”, trước hết phải bình can tiềm dương để tức phong dương; đợi phong dương yên rồi mới bồi bổ can âm để trị bản. Lại như hoàng đản trong bệnh can: thấp nhiệt uất ách là tiêu, can sơ tiết thất chức là bản; cũng phải thanh lợi thấp nhiệt, giải độc thoái hoàng để trị tiêu; đợi thấp nhiệt giải rồi mới sơ lợi can khí để trị bản; tất nhiên khi cần có thể kiêm cố cả tiêu lẫn bản. Nếu can huyết bất túc, chỉ thấy chóng mặt, hồi hộp, mất ngủ… bệnh trình đã lâu, nên theo nguyên tắc “hoãn thì trị bản”, tư bổ can huyết; can huyết đầy đủ thì các tiêu chứng tự giải. Do đó có thể thấy, không phân biệt tiêu bản thì khó phân định hoãn cấp; chỉ khi biện minh tiêu bản rõ ràng mới có thể sắp xếp chủ thứ có trật tự, trị liệu rành mạch.
(4) Trị liệu toàn thể, kiêm cố điều dưỡng
Bệnh biến của can tuy chủ yếu là rối loạn chức năng can, nhưng vì ngũ tạng là một chỉnh thể, tạng phủ ảnh hưởng lẫn nhau; do đó bệnh can có thể ảnh hưởng tạng khác, tạng khác có bệnh cũng có thể ảnh hưởng đến can. Vì vậy trị bệnh can không thể “thấy can trị can”, mà nên “thấy bệnh của can, biết can truyền tỳ, thì phải làm thực tỳ trước” (Kim Quỹ Yếu Lược); tức phải xuất phát từ toàn thể, điều hoà chức năng các tạng phủ thì mới đạt mục đích trị can. Ví dụ: thuỷ suy thì mộc không sinh, dùng địa hoàng hoàn để tư dưỡng; thổ suy thì mộc không trồng, dùng sâm linh truật thảo để bồi; huyết hư có hoả thì dùng Đan Chi Tiêu Dao Tán để thanh; huyết hư vô thuỷ thì dùng Tứ Vật Thang để dưỡng; phép bổ hoả thì dưới giống ở thận; phép tả hoả thì trên giống ở tâm… v.v., đều là xác lập từ quan điểm toàn thể, nhằm đạt mục tiêu khôi phục chức năng can.
Ngoài ra, khơi dậy sức chống bệnh tự thân của cơ thể cũng là biện pháp rất quan trọng. Đặc biệt can tạng hàm chứa khí “nhất dương sinh sinh”, không thích hợp dùng nhiều thuốc khổ hàn công phạt bào mòn, trái lại làm tổn khí sinh dương, khiến bệnh kéo dài khó khỏi. Bệnh đã giảm bảy tám phần thì nên ngừng thuốc để điều dưỡng, gọi là “ắt phải dưỡng, ắt phải hoà, đợi chính khí phục lại” (Bổ dưỡng và điều hòa, chờ đợi sự phục hồi sinh lực của cơ thể); điểm này cần được thầy thuốc lâm sàng đặc biệt coi trọng.
Bệnh can phần nhiều khởi từ tình chí không toại nguyện. Thầy thuốc lâm sàng ngoài dùng thuốc, còn cần lời nói khai đạo để trị “tâm”, tùy cơ “biện bệnh” mà mở tà, mới có thể đạt hiệu quả “Sự bán công bội” (Đạt được gấp đôi kết quả với một nửa công sức), tức điều người ta thường nói “bệnh ở tâm thì cũng phải dùng thuốc ở tâm mà trị”.
Trường Xuân dịch